Sự vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật

The application and creative development of Ho Chi Minh’s ideas on reforming the work of lawmaking and law enforcement

ThS. Nguyễn Văn Khánh
Trường Đại học An ninh Nhân dân

(Quanlynhanuoc.vn) – Xây dựng và thi hành pháp luật là nội dung cốt lõi trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật là di sản quý báu, kim chỉ nam cho hoạt động lập pháp và hành pháp của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã kế thừa sâu sắc, đồng thời vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh “kỷ nguyên mới”.

Từ khóa: Nghị quyết số 66-NQ/TW; tư tưởng Hồ Chí Minh; pháp luật; xây dựng pháp luật; thi hành pháp luật; Nhà nước pháp quyền.

Abstract: The formulation and enforcement of law constitute the core content in the process of building the Socialist Rule of Law State of Vietnam. Ho Chi Minh’s thought on the state and law is a valuable legacy and a guiding principle for the legislative and executive activities of our Party and State. The Politburo’s Resolution No. 66-NQ/TW, dated April 30, 2025, on renovating the work of law formulation and enforcement, has profoundly inherited, simultaneously applied, and creatively developed his thought in the context of the “new era”.

Keywords: Resolution 66-NQ/TW, Ho Chi Minh’s thought, law, law formulation, law enforcement, Rule of Law State.

1. Đặt vấn đề

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (01/2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: tư tưởng Hồ Chí Minh là “hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi1. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về nhà nước và pháp luật, trong đó tư tưởng về xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật giữ vai trò nền tảng.

2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Thứ nhất, pháp luật phải vì Nhân dân, lấy lợi ích của Nhân dân làm gốc. Đây là tư tưởng xuyên suốt, thể hiện bản chất dân chủ của nhà nước kiểu mới. Ngay sau khi giành được chính quyền từ tay thực dân phong kiến, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Hồ Chí Minh đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, Người khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…”2. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Mọi hoạt động lập pháp, hành pháp đều phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Thứ hai, pháp luật phải bám sát thực tiễn, dễ hiểu, dễ thực hiện. Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ rõ: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”3. Và vì vậy, Người yêu cầu pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội, giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đặt ra; pháp luật phải được diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản để mọi người dân đều có thể hiểu và làm theo, tránh tình trạng “chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng”.

Thứ ba, kết hợp nhuần nhuyễn giữa “pháp trị” và “đức trị”. Người coi trọng pháp luật nhưng không tuyệt đối hóa vai trò của nó. Pháp luật phải đi đôi với giáo dục đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên nói chung “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”4. Người còn đặt ra tiêu chuẩn đối với cán bộ ngành tư pháp “phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” cho nhân dân noi theo”5, xây dựng pháp luật phải gắn liền với xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, xây dựng văn hoá tuân thủ pháp luật.

Thứ tư, thi hành pháp luật phải nghiêm minh, công bằng, không có ngoại lệ. Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác tổ chức thi hành pháp luật. Người yêu cầu “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”6. Đồng thời, Người còn kiên quyết chống “bệnh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm” và sự lạm quyền, tiêu cực trong thi hành công vụ: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”7.

3. Sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và thi hành pháp luật

Kể từ Đại hội VI (1986), khởi xướng công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của pháp luật đã có bước phát triển vượt bậc. Từ chỗ coi pháp luật chủ yếu là công cụ quản lý nhà nước trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Đảng đã từng bước nhận thức pháp luật là nền tảng, là động lực cho sự phát triển xã hội. Nhận thức của Đảng đã chuyển dịch từ tư duy “pháp chế xã hội chủ nghĩa” – nhấn mạnh tính cưỡng chế và công cụ quản lý của Nhà nước: “Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý. Pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thực hiện thống nhất trong cả nước”8 sang tư duy “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” – nhấn mạnh tính thượng tôn pháp luật, Nhà nước cũng phải tuân thủ pháp luật, phục vụ con người. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật9. Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội… Pháp luật được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ10.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật ra đời trong bối cảnh đất nước cần “vươn mình phát triển bứt phá”, xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá”. Nghị quyết đã thể hiện rõ sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều phương diện:

Một là, kế thừa và nâng tầm tư tưởng “dân là gốc” trong xây dựng pháp luật. Nếu Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu pháp luật phải “vì nhân dân”, thì Nghị quyết số 66 cụ thể hóa và phát triển tư tưởng này trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập. Nghị quyết số 66 quán triệt sâu sắc quan điểm “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”. Quan điểm này đòi hỏi mọi chính sách, pháp luật phải “xuất phát từ lợi ích toàn cục của đất nước”, bảo đảm “quyền con người, quyền công dân” và “không đẩy khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong thiết kế chính sách”11.

Nghị quyết số 66 không chỉ dừng ở việc “bảo vệ” người dân mà còn “kiến tạo” không gian phát triển, coi người dân và doanh nghiệp là chủ thể của sự phát triển. Điều này thể hiện qua chủ trương “giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển”, “dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Đây là bước phát triển vượt bậc, xem pháp luật là công cụ “kiến tạo phát triển”, “trở thành lợi thế cạnh tranh”, chứ không đơn thuần là công cụ quản lý.

Hai là, kế thừa và cụ thể hóa tư tưởng “pháp luật phải bám sát thực tiễn” trong bối cảnh “kỷ nguyên mới”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn. Nghị quyết số 66 đã vận dụng và phát triển tư tưởng này để giải quyết những vấn đề mới của thời đại. Nghị quyết số 66 nhấn mạnh yêu cầu xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, “đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam”. Nghị quyết cũng yêu cầu các quy định phải “đơn giản, dễ thực hiện”, khắc phục tình trạng “chồng chéo, mâu thuẫn” mà thực tiễn đã chỉ ra. Đồng thời, chủ động định hướng pháp luật phải giải quyết những vấn đề mới, chưa có tiền lệ của “kỷ nguyên mới”. Đó là yêu cầu “tạo hành lang pháp lý cho những vấn đề mới, phi truyền thống (trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khai thác nguồn lực dữ liệu, tài sản mã hoá…)”12. Đây chính là sự vận dụng tinh thần “bám sát thực tiễn” của Người vào thực tiễn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Ba là, kế thừa và phát triển tư tưởng kết hợp “pháp trị” và “đức trị” lên tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng cả pháp luật và đạo đức. Nghị quyết số 66 đã thể chế hóa sự kết hợp này một cách toàn diện, xác định rõ mục tiêu “bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật”, “xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật”. Đồng thời, nhấn mạnh việc “phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng”13. Đây chính là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng kết hợp “đức trị” và “pháp trị” của Người. Nghị quyết số 66 phát triển tư tưởng này bằng cách gắn liền “văn hóa pháp luật” với “tư duy kiến tạo phát triển” và tinh thần phục vụ của đội ngũ cán bộ. Nghị quyết yêu cầu “phát huy cao độ tinh thần phục vụ Nhân dân, tư duy kiến tạo phát triển… của đội ngũ cán bộ, công chức” và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “gương mẫu, đi đầu trong chấp hành và tuân thủ pháp luật”.

Bốn là, kế thừa và tạo đột phá trong tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm tính nghiêm minh, hiệu quả. Nếu “tổ chức thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu” thì Nghị quyết số 66 đã kế thừa yêu cầu “nghiêm minh” của Hồ Chí Minh và đề ra các giải pháp “đột phá”. Nghị quyết số 66 yêu cầu “tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả”. Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc “phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là các hành vi tham nhũng, tiêu cực” và “không hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự”, thể hiện rõ tinh thần công bằng, không lạm dụng.

Nghị quyết số 66 còn phát triển sáng tạo các giải pháp mang tính “đột phá” để bảo đảm thi hành pháp luật trong thời đại số. Đó là việc “tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật”, “xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”. Hơn nữa, Nghị quyết số 66 đề ra các cơ chế đặc thù, vượt trội về con người và tài chính (“Quỹ hỗ trợ xây dựng chính sách, pháp luật”, “chỉ cho công tác xây dựng pháp luật không thấp hơn 0,5% tổng chi ngân sách”) để bảo đảm nguồn lực cho cả công tác xây dựng và thi hành pháp luật, xem đây là “đầu tư cho phát triển”.

4. Kết luận

Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lập pháp và hành pháp của Đảng. Nghị quyết kế thừa sâu sắc, nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật: từ quan điểm lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, kết hợp pháp trị – đức trị đến yêu cầu thi hành pháp luật nghiêm minh. Quan trọng hơn, Nghị quyết đã “phát triển sáng tạo” những tư tưởng nền tảng đó, áp dụng vào bối cảnh “kỷ nguyên mới”. Sự phát triển thể hiện ở việc nâng tầm pháp luật thành “lợi thế cạnh tranh”, chủ động xây dựng hành lang pháp lý cho các vấn đề phi truyền thống và đặc biệt là các giải pháp đột phá về công nghệ, nguồn nhân lực và tài chính. Việc quán triệt và thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 66 chắc chắn sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ, tháo gỡ các “điểm nghẽn” pháp lý, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:

1, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 88, 85.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 7.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 95.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 284.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 473.
6, 7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 127, 65
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 120.
10. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
11, 12, 13. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66/NQ-TW ngày 30/4/2025 đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật.