Digital skills across occupational groups and their impact on income in Vietnam
TS. Trịnh Thị Thu Hằng
Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội
ThS. Nguyễn Thị Điệp
Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết đánh giá thực trạng kỹ năng số của lực lượng lao động Việt Nam và phân tích tác động của kỹ năng số đến năng suất lao động giai đoạn 2015 – 2024, dựa trên dữ liệu thứ cấp từ ILOSTAT, Liên Hợp quốc (UN) và World Bank (WB). Qua kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất ưu tiên nâng cao mặt bằng kỹ năng số nền tảng, phát triển đào tạo phân tầng theo nhóm nghề và tăng cường hệ thống thông tin thị trường lao động về kỹ năng số hiện nay.
Từ khóa: Kỹ năng số; năng suất; thị trường lao động; số hóa; Việt Nam.
Abstract: This study examines the current state of digital skills among the Vietnamese workforce and analyzes their association with income across occupational groups during the period 2015 – 2024, using secondary data from ILOSTAT, the United Nations (UN), and the World Bank (WB). The findings suggest that disparities in digital skills are associated with differences in income across occupational groups. The study recommends prioritizing the enhancement of foundational digital skills, promoting stratified training tailored to occupational groups, and strengthening labor market information systems related to digital skills in the current context.
Keywords: Digital skills; labor productivity; labor market; digitalization; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh công nghệ số định hình lại cấu trúc ngành nghề, Autor (2015)1 chỉ rõ việc tự động hóa không chỉ thay thế một phần các nhiệm vụ lặp lại mà còn làm tăng nhu cầu nâng cao kỹ năng của người lao động. Goldin và Katz (2008)2 nhận định công nghệ mới ưu tiên lao động có kỹ năng số, dẫn đến phân hóa tiền lương theo bậc kỹ năng. Trong khi Acemoglu và Restrepo (2020)3 cho thấy, thị trường sử dụng robot nhiều có tỷ lệ suy giảm việc làm cao, Bailin Rivares và cộng sự (2019)4 lại chỉ ra rằng số hóa và các kỹ năng số giúp người lao động nâng cao năng suất và doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trong các ngành dịch vụ. Qua đó, kỹ năng số trở thành năng lực cạnh tranh mạnh, quyết định đến năng suất lao động và hiệu quả vận hành của doanh nghiệp.
Lý thuyết thay đổi công nghệ thiên lệch nhiệm vụ thường nhật (Routine-biased technological change – RBTC) cho rằng, tiến bộ công nghệ có xu hướng thay thế các nhiệm vụ mang tính lặp lại, trong khi bổ trợ cho các nhiệm vụ phức tạp và không thường nhật (Autor, Levy & Murnane, 2003)5. Do đó, nhu cầu lao động có xu hướng gia tăng ở các công việc kỹ năng cao và một số công việc kỹ năng thấp, trong khi các công việc kỹ năng trung bình lại có nguy cơ bị thay thế cao hơn, dẫn đến hiện tượng phân cực về việc làm và tiền lương (Genz, Janser & Lehmer, 2019)6. Xu hướng này đã được xác nhận trong nghiên cứu thực nghiệm qua dữ liệu của 16 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 1993 – 2010 của Goos, Manning và Salomons (2014)7.
Tại Việt Nam, chuyển đổi số được xác lập là trọng tâm quốc gia qua Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và Quyết định số 749/QĐ TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” nhấn mạnh vai trò của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển kinh tế xã hội. Khung thể chế cho môi trường số tiếp tục được phát triển thông qua Nghị định số 53/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2022 về thi hành Luật An ninh mạng năm 2018 và Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/3/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân, tạo nền pháp lý quan trọng cho dữ liệu, an toàn thông tin và vận hành dịch vụ số.
Trong lĩnh vực đào tạo, Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định danh mục ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp và cao đẳng, trong đó nhóm máy tính và công nghệ thông tin bao gồm các nghề nền tảng cho chuyển đổi số như lập trình, quản trị dữ liệu, quản trị mạng, thiết kế web và an ninh mạng. Ở bậc giáo dục đại học, Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT ngày 06/6/2022 ban hành danh mục thống kê ngành đào tạo, thể hiện xu hướng đưa các lĩnh vực mới có nhu cầu nhân lực cao, như: trí tuệ nhân tạo (AI) và khoa học dữ liệu vào cấu trúc phân loại chính thức, đồng thời củng cố các ngành lõi của kinh tế số, như: mạng máy tính, kỹ thuật phần mềm, hệ thống thông tin, an toàn thông tin và thương mại điện tử.
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển của khung chính sách và cấu trúc đào tạo, thực trạng kỹ năng số của lực lượng lao động và mức độ chuyển hóa các kỹ năng này thành tăng năng suất trong từng ngành nghề rất cần thiết được làm rõ trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Với tốc độ diễn ra nhanh chóng, chuyển đổi số khiến yêu cầu về kỹ năng số cũng liên tục thay đổi và nâng cao. Từ bối cảnh đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp bức tranh tổng quan và có hệ thống về mức độ kỹ năng số của lực lượng lao động trong một số ngành nghề, đồng thời kiểm định mối liên hệ giữa kỹ năng số và năng suất lao động. Qua đó, góp phần làm rõ cơ chế mà chuyển đổi số tác động đến kết quả kinh tế thông qua chất lượng nguồn nhân lực và cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho việc thiết kế chính sách phát triển kỹ năng số, định hướng đào tạo và nâng cao năng suất lao động tại Việt Nam.
2. Cơ sở lý thuyết
Thế giới đã trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp lớn, trong đó mỗi cuộc cách mạng công nghệ đều đi kèm với cú sốc đối với thị trường lao động và quan hệ sản xuất, gây suy giảm việc làm trong ngắn hạn nhưng tạo ra ngành nghề mới và duy trì tăng trưởng việc làm trong dài hạn. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với sự xuất hiện của tự động hóa và kỹ năng số, đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến cách thị trường lao động vận hành. Kỹ năng số ngày càng được xem là một loại vốn nhân lực quan trọng trong nền kinh tế số, phản ánh năng lực sử dụng công nghệ, phần mềm và dữ liệu để thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn.
Lý thuyết vốn nhân lực (Human Capital Theory) của Becker (1964)7 chỉ ra việc đầu tư vào giáo dục và kỹ năng làm tăng năng suất cận biên và cải thiện kết quả việc làm, thu nhập. Trong bối cảnh số hóa, kỹ năng số không chỉ là kỹ thuật thao tác với thiết bị hay phần mềm mà còn bao gồm năng lực nhận thức và hành vi trong môi trường số như tìm kiếm và xử lý thông tin, sử dụng dữ liệu để hỗ trợ ra quyết định. Thực tế cho thấy, kỹ năng số đang thay đổi cách thức làm việc hiện nay đồng thời mở ra cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro cho người lao động và doanh nghiệp. Torrejón Pérez, S., & González Vázquez, I. (2021)8 cảnh báo hàng triệu công việc có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa, đặc biệt các nhiệm vụ có tính lặp lại; song nhiều bằng chứng cũng cho thấy, kỹ năng số làm tăng khả năng có việc làm và thu nhập khi doanh nghiệp ngày càng cần lao động có năng lực thực thi trong môi trường số.
Bên cạnh xu hướng việc làm, kỹ năng số còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động thông qua việc thay đổi cách thức tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF, 2025)9 cho thấy, công nghệ số hỗ trợ các nhiệm vụ công việc và làm tăng tính linh hoạt thông qua các công cụ, như: lưu trữ đám mây, giao tiếp và cộng tác trực tuyến, chia sẻ tài liệu và làm việc nhóm. Nhờ đó, hiệu quả và năng suất lao động được cải thiện, đồng thời mở rộng khả năng làm việc từ xa đối với các nhiệm vụ có thể số hóa. Tuy nhiên, nhiều nhiệm vụ ngoài nhóm công việc văn phòng như tư vấn trực tiếp tại cửa hàng hoặc chuẩn bị và chế biến món ăn, vẫn đòi hỏi hiện diện vật lý nên mức độ số hóa còn hạn chế.
Các nghiên cứu trước đây cũng nhấn mạnh tác động của chuyển đổi số đối với năng suất lao động và phân phối thu nhập. Acemoglu và Restrepo (2018)10 cho biết, chuyển đổi số có thể làm giảm tỷ trọng thu nhập lao động trong thu nhập quốc dân do suy giảm sức mặc cả tiền lương. Trong khi đó, Michaels, Natraj và Van Reenen (2014)11 cho rằng kỹ năng số giúp thúc đẩy năng suất lao động và tăng nhu cầu sử dụng lao động có kỹ năng cao, từ đó, nâng mức lương trung bình tăng nhưng đồng thời gia tăng khoảng cách thu nhập giữa các nhóm kỹ năng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp thống kê mô tả và các mô hình hồi quy nhằm đánh giá và phân tích thực trạng năng lực kỹ năng số của lực lượng lao động trong một số ngành nghề tại Việt Nam; đồng thời, phân tích tác động của kỹ năng số đối với năng suất lao động. Dữ liệu nghiên cứu là nguồn dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ ba nguồn chính.
Thứ nhất, khảo sát STEP (Skills Toward Employability and Productivity) từ báo cáo Digital Skills in a Digitizing Vietnam của World Bank (WB, 2021), cung cấp dữ liệu vi mô cấp cá nhân về thu nhập, đặc điểm nhân khẩu học, việc làm và các chỉ số kỹ năng theo nhóm.
Thứ hai, để mô tả thực trạng phân bố kỹ năng số theo nghề, lĩnh vực, nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu từ WB – LinkedIn Data for Development (D4D) năm 2021, là dữ liệu tổng hợp từ hồ sơ kỹ năng trên LinkedIn đã được phân loại và chuẩn hóa theo nhóm kỹ năng.
Thứ ba, để phân tích ở cấp nghề, nghiên cứu kết hợp dữ liệu từ ILOSTAT/Labour Force Surveys (LFS) Việt Nam (ISCO-08 2-digit) với cơ sở dữ liệu O*NET Online.
Nghiên cứu ước lượng mối liên hệ giữa kỹ năng và thu nhập bằng mô hình hồi quy log–tuyến tính. Phương trình được ước lượng như sau:

Ở lớp phân tích cấp nghề, nghiên cứu xây dựng chỉ số cường độ số hóa theo nghề bằng cách kết hợp thông tin nghề từ ONET và quy đổi sang ISCO-08 2-digit.

Để dễ dàng so sánh giữa các nghề, chỉ số được chuẩn hóa thành z-score:

Để ước lượng mức chênh lệch giờ làm việc theo mức độ số hóa của nghề, nghiên cứu sử dụng hồi quy:

Hồi quy được ước lượng bằng WLS với trọng số là quy mô việc làm của nghề trong năm:

Để diễn giải theo phần trăm chênh lệch, hệ số được quy đổi thành “premium”:

Mức tăng trưởng việc làm theo nghề được tính theo log-difference:

và được hồi quy theo mức độ số hóa của nghề:

Hồi quy tăng trưởng việc làm cũng được ước lượng bằng WLS với trọng số là quy mô việc làm trung bình hai năm:

4. Đánh giá thực trạng kỹ năng số của lực lượng lao động
4.1. Thực trạng năng lực kỹ năng số của lực lượng lao động một số ngành nghề
Theo báo cáo của WB (2021)13, kỹ năng số tại Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt giữa nhóm kỹ năng nền tảng và nhóm kỹ năng chuyên sâu. Hình 1 cho thấy, kỹ năng số cơ bản xuất hiện trong 68% các nghề, cho thấy 2/3 việc làm đều cần những thao tác số tối thiểu như sử dụng công cụ văn phòng, email, bảng tính và làm việc trên nền tảng số. Nhóm kỹ năng này phổ biến ở một số các vị trí văn phòng như hành chính – nhân sự và các ngành dịch vụ. Trong khi đó, kỹ năng khoa học dữ liệu chỉ xuất hiện ở khoảng 20% nghề, chủ yếu tập trung ở các ngành có cường độ dữ liệu lớn như tài chính – ngân hàng, thương mại điện tử, viễn thông, sản xuất và logistics.

Ngoài ra, nhóm kỹ năng marketing – truyền thông số mang tính dịch vụ rất rõ với mạng xã hội (16%), thiết kế đồ họa (12%), marketing số (10%) và quảng cáo (7%), thường tập trung ở các ngành bán lẻ, du lịch, giáo dục, bất động sản và truyền thông. Ngược lại, các kỹ năng xây dựng sản phẩm và hạ tầng số như công cụ phát triển (11%), phát triển web (9%), công nghệ lưu trữ dữ liệu (9%) và kiến trúc hệ thống (6%) tập trung nhiều trong các ngành như công nghệ thông tin, ngân hàng số, sàn thương mại điện tử và doanh nghiệp sản xuất ứng dụng hệ thống quản trị và tự động hóa.
Việt Nam được ghi nhận là một trong các quốc gia có các thành tích học tập xuất sắc trên trường quốc tế và có số lượng sinh viên du học lớn hằng năm. Tuy nhiên, lợi thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu vẫn được biết đến chủ yếu là dựa vào nguồn lao động dồi dào, giá rẻ với kỹ năng cơ bản. Nguồn lao động lớn cùng với các chính sách ưu đãi về thuế và quỹ đất trong giai đoạn mở cửa đã thu hút mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài, qua đó làm gia tăng nhu cầu lao động phổ thông, góp phần mở rộng cơ hội việc làm và giảm nghèo.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và AI hiện nay, lực lượng lao động có kỹ năng cao mới trở thành lợi thế cạnh tranh trong dài hạn. Tuy nhiên, chỉ khoảng 5% lao động trong ngành sản xuất được xem là có kỹ năng cao và khoảng 10% dân số có trình độ đại học, thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực. Đồng thời, sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là tự động hóa, đang làm gia tăng xu hướng dịch chuyển nhu cầu lao động theo hướng đòi hỏi kỹ năng cao hơn. Do đó, để tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam cần phải tiếp tục nâng cao trình độ giáo dục và kỹ năng của lực lượng lao động. Các chiến lược phát triển nguồn nhân lực cần ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học, bao gồm xây dựng nguồn cung ổn định các nhà khoa học và kỹ sư, tăng cường tính gắn kết giữa kỹ năng đào tạo và nhu cầu thị trường lao động, thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, đặc biệt thông qua hợp tác với khu vực tư nhân, đồng thời cải thiện cơ sở hạ tầng đào tạo và nghiên cứu.
Nghiên cứu của Maloney và Valencia Caicedo (2022)14 cho thấy, các khu vực có mật độ kỹ sư cao hơn thường có khả năng chấp nhận công nghệ nhanh hơn trong các giai đoạn sau, đồng thời gắn với các hoạt động kinh tế thâm dụng kỹ năng và tri thức về dài hạn. Từ Hình 2, chỉ ra nguồn cung nhân lực tốt nghiệp STEM của Việt Nam ở mức trung bình so với nhiều nền kinh tế khác. Do hạn chế về dữ liệu, số liệu gần nhất của Việt Nam năm 2016 cho thấy tỷ lệ tốt nghiệp STEM đạt 22,68%, thấp hơn so với Thái Lan 30,50% (năm 2024), Nhật Bản 30,94%, Hàn Quốc 30,94% và đặc biệt thấp hơn Đức 35,49% (năm 2023).
Xét về cơ cấu tỷ trọng tốt nghiệp các ngành STEM, phần lớn tỷ lệ tốt nghiệp của Việt Nam đến từ nhóm công nghệ thông tin và truyền thông (19,94%), trong khi các nhóm kỹ thuật, chế tạo và xây dựng là 2,06%, khoa học tự nhiên, toán học và thống kê chỉ 0,68%. Ngược lại, Đức cho thấy nền tảng khoa học và kỹ thuật mạnh hơn với tỷ lệ nhóm khoa học tự nhiên, toán học và thống kê là 7,89% và 5,58% ở nhóm kỹ thuật, chế tạo và xây dựng đồng thời vẫn duy trì tỷ lệ cao ở nhóm công nghệ thông tin và truyền thông (22,03%). Điều này cho thấy, Việt Nam đang hình thành nguồn cung nhân lực gắn với ứng dụng số ở một số phân ngành, nhưng vẫn thiếu hụt tương đối nhóm nhân lực nền tảng và kỹ sư có vai trò thiết kế, tích hợp và tối ưu hóa công nghệ trong sản xuất và dịch vụ.

Theo Vietnam IT Salary & Recruitment Market Report (2024)15, nguồn nhân lực ngành Công nghệ thông tin tại Việt Nam cho thấy, sự phân hóa rõ về năng lực kỹ năng số. Báo cáo cho thấy cơ cấu giới tính trong ngành vẫn chênh lệch đáng kể khi nam chiếm 81,5% và nữ là 18,5%, phản ánh sự mất cân đối trong nguồn cung lao động số chất lượng cao. Về nền tảng đào tạo, lực lượng lao động công nghệ thông tin chủ yếu ở bậc đại học (73,4%) và cao đẳng (13,3%), trong khi tỷ lệ trình độ sau đại học còn thấp với thạc sĩ là 6,4% và tiến sĩ là 0,3% (Hình 3). Bên cạnh đó, chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động khá rõ ràng: nhóm có bằng chính quy đạt mức thu nhập trung bình 37,9 triệu đồng/tháng, cao hơn khoảng 20% so với nhóm không có bằng chính quy (31,7 triệu đồng/tháng). Điều này cho thấy thị trường lao động có xu hướng trả lương cao hơn cho những người lao động có nền tảng đào tạo bài bản, đặc biệt trong các ngành STEM.

4.2. Tác động của kỹ năng số đến năng suất lao động
Tác động của chuyển đổi số đối với người lao động không đồng nhất mà phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân, đặc biệt là trình độ kỹ năng. Ảnh hưởng của công nghệ số đến triển vọng việc làm và thu nhập có thể khác nhau do khả năng đối mặt với rủi ro tự động hóa và mức độ thích ứng với các yêu cầu kỹ năng mới giữa các nhóm lao động. Những lao động có trình độ cao thường có kỹ năng bổ trợ tốt hơn với công nghệ và khả năng thích nghi cao hơn với các thay đổi về kỹ năng (Fossen và Sorgner, 2022)16. Do đó, chuyển đổi số được dự báo sẽ có tác động tích cực hơn đối với triển vọng việc làm và tiền lương của lao động có kỹ năng cao, trong khi lao động kỹ năng thấp có nguy cơ bị thay thế hoặc chịu áp lực giảm thu nhập. Tuy nhiên, một số công nghệ số mới như trí tuệ nhân tạo cũng có thể giúp lao động kỹ năng thấp cải thiện năng suất thông qua việc khai thác các năng lực đã được số hóa, qua đó tạo cơ hội để các nền kinh tế đang phát triển thu hẹp khoảng cách công nghệ (Ernst, Merola và Samaan, 2019)17.
Sự thay đổi của chênh lệch tiền lương theo kỹ năng phản ánh sự tương tác giữa cung và cầu lao động có học vấn. Về phía cung, việc phổ cập giáo dục cơ bản và mở rộng nhanh giáo dục trung học và đại học trong hai thập kỷ qua đã làm gia tăng số lượng lao động có trình độ cao. Tuy nhiên, tác động của mở rộng giáo dục lên cơ cấu trình độ của lực lượng lao động diễn ra tương đối chậm do cần thời gian để các thế hệ tốt nghiệp mới gia nhập thị trường lao động và dần thay thế các nhóm lao động lớn tuổi. Khi nguồn cung lao động có học vấn tăng lên đã tạo áp lực làm giảm mức chênh lệch tiền lương, đặc biệt tại những quốc gia mà tốc độ mở rộng giáo dục nhanh hơn khả năng hấp thụ của thị trường lao động.
Về phía cầu, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với hội nhập thương mại và thay đổi công nghệ đã tái định hình nhu cầu kỹ năng theo cả quốc gia và ngành nghề. Ở những nền kinh tế còn dựa nhiều vào sản xuất và xuất khẩu thâm dụng lao động giản đơn, nhu cầu đối với lao động ít kỹ năng được duy trì tương đối mạnh, từ đó cải thiện tiền lương tương đối của nhóm ít học và làm thu hẹp chênh lệch tiền lương theo học vấn. Ngược lại, tại các nền kinh tế có cơ cấu sản xuất và xuất khẩu thâm dụng kỹ năng hơn, cầu đối với lao động có trình độ cao vẫn lớn, khiến mức chênh lệch tiền lương giảm chậm hơn hoặc ổn định hơn.

Hình 4 cho thấy, tiền lương của tất cả các nhóm trình độ học vấn đều tăng trong thập kỷ qua, trong khi mức tăng của nhóm lao động có trình độ thấp tương đối lớn hơn, dẫn đến xu hướng thu hẹp chênh lệch tiền lương theo học vấn ở hầu hết các quốc gia trong mẫu. Khi kiểm soát độ tuổi và ngành việc làm, lợi thế tiền lương của nhóm có trình độ trung học và sau trung học so với nhóm tiểu học trở xuống giảm dần theo thời gian, ngoại trừ Indonesia. Xu hướng này thể hiện rõ nhất tại Malaysia và Việt Nam, nơi chênh lệch tiền lương của nhóm sau trung học giảm mạnh trong giai đoạn nghiên cứu, trong khi tại Thái Lan và Philippines, mức thu hẹp diễn ra chậm hơn. Indonesia là trường hợp ngoại lệ khi chênh lệch tiền lương theo học vấn có xu hướng tăng nhẹ. Mặc dù vậy, lao động có trình độ sau trung học vẫn duy trì lợi thế thu nhập đáng kể, với mức tiền lương cao hơn khoảng 40 – 80% so với nhóm có trình độ tiểu học hoặc thấp hơn, trong khi nhóm có bằng trung học nhỏ hơn, dao động khoảng 10 – 40%.

Năng suất lao động được ước lượng bằng giá trị gia tăng/GDP trên mỗi lao động hoặc trên mỗi giờ làm việc (GSO), là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh dư địa tăng trưởng dài hạn và khả năng cải thiện tiền lương thực. Hình 5 cho thấy, các nhóm nghề có mức độ số hoá cao có số giờ làm việc trung bình theo tuần cao hơn. Tuy nhiên, mức chênh lệch này thay đổi tùy giai đoạn và có xu hướng thu hẹp hơn so với giai đoạn trước. Điều này cho thấy người lao động ngày càng có xu hướng đa nhiệm, phải xử lý nhiều thông tin và công việc với thời lượng làm việc tăng lên, đặc biệt là các ở vị trí công việc văn phòng, vận hành, dịch vụ khách hàng, thương mại điện tử và logistics.
Bên cạnh đó, WB (2025)18 chỉ ra rằng, nhu cầu kỹ năng số gia tăng thường đi kèm với mức lương cao hơn, đồng thời gắn với áp lực hiệu suất và khối lượng công việc lớn hơn. Trong bối cảnh thị trường lao động tại Việt Nam, sự khác biệt về số giờ làm việc còn chịu tác động phần lớn từ cấu trúc ngành và cách các doanh nghiệp điều chỉnh sản lượng theo năng suất lao động. Đối với các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu và các lĩnh vực thâm dụng lao động, việc quản trị và giám sát bị tác động mạnh mẽ bởi quá trình số hóa, tuy nhiên, tùy theo chu kỳ sản xuất và mùa vụ mà mối quan hệ giữa số hóa và số giờ làm việc có thể biến động theo từng giai đoạn.

Hình 6 cho thấy, mối quan hệ giữa mức độ số hóa của nghề nghiệp và tốc độ tăng trưởng việc làm tại Việt Nam giai đoạn từ 2015 – 2024. Kết quả giai đoạn 2015 – 2019 cho thấy, hệ số ước lượng mang dấu dương, phản ánh xu hướng tăng trưởng việc làm gắn với nghề số hóa có mức phát triển mạnh. Tuy nhiên, từ năm 2020 trở đi, hệ số tăng trưởng việc làm theo mức độ số hóa cao có sự biến động lớn hơn. Điều này cho thấy, quá trình chuyển đổi số và sự mở rộng của các hoạt động kinh tế gắn với công nghệ đã làm gia tăng nhu cầu đối với một số nhóm nghề có kỹ năng số.
Mặt khác, tăng trưởng việc làm theo nghề cũng phụ thuộc mạnh vào biến động chu kỳ kinh tế và các cú sốc vĩ mô, đặc biệt là từ giai đoạn 2020 khi thị trường lao động bị tác động lớn từ đại dịch Covid-19 dẫn đến tăng trưởng việc làm dịch chuyển theo những hướng khác nhau và trở nên kém ổn định hơn.
Kỹ năng số mang lại lợi ích đối với người lao động thể hiện qua mức tăng thu nhập khoảng 3,46% khi năng lực kỹ năng số tăng thêm 1 SD (Hình 7). Trong kinh tế học, thu nhập thường phản ánh giá trị cận biên của năng suất mà người lao động tạo ra. Do đó, với mức tăng thu nhập này có thể xem như một chỉ báo gián tiếp cho thấy kỹ năng số góp phần nâng năng suất lao động thông qua các cơ chế rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm sai sót nhờ sử dụng công cụ số, tăng khả năng khai thác dữ liệu và cải thiện phối hợp công việc trên các nền tảng số.

Hơn nữa, lợi ích của kỹ năng số cao hơn STEM (2,72%) và cao hơn đáng kể so với các kỹ năng như tự tổ chức (1,3%), giải quyết vấn đề (1,08%) hay marketing (0,28%), cho thấy trong bối cảnh số hóa, kỹ năng số đang trở thành một đòn bẩy quan trọng để chuyển hóa kiến thức, chuyên môn thành hiệu quả thực thi.
5. Một số đề xuất
Thứ nhất, cần ưu tiên nâng cao mặt bằng kỹ năng số nền tảng của lực lượng lao động theo hướng phổ cập, nhằm tạo điều kiện cho người lao động thích ứng với môi trường làm việc số ngày càng phổ biến. Việc phát triển các kỹ năng số cơ bản vừa góp phần thu hẹp khoảng cách kỹ năng giữa các nhóm lao động, vừa đóng vai trò là điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu quả của quá trình chuyển đổi số ở cấp độ nền kinh tế. Trong điều kiện thiếu hụt kỹ năng nền tảng, các khoản đầu tư vào công nghệ có thể không đảm bảo được khai thác một cách tối ưu, dẫn đến sự hạn chế trong việc cải thiện năng suất lao động. Do đó, chính sách cần hướng tới việc chuẩn hóa khung năng lực kỹ năng số cơ bản, tích hợp vào hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và đào tạo thường xuyên. Đồng thời, chú trọng mở rộng khả năng, cơ hội tiếp cận đào tạo rộng rãi cho các nhóm lao động, đặc biệt là các đối tượng lao động có kỹ năng thấp và lao động khu vực phi chính thức, lao động lớn tuổi nhằm bảo đảm tính bao trùm của quá trình phát triển kỹ năng số.
Thứ hai, chính sách đào tạo và phát triển kỹ năng cần được thiết kế theo hướng phân tầng, gắn với đặc thù của từng nhóm nghề và mức độ số hóa của công việc. Đối với các ngành nghề có cường độ số hóa cao, cần tập trung nâng phát triển các kỹ năng chuyên sâu như năng lực dữ liệu, tư duy phân tích và khả năng tham gia vào quá trình chuyển đổi quy trình làm việc. Đồng thời, đối với các nhóm nghề có mức độ số hóa thấp hoặc trung bình, trọng tâm là tập trung nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ nhằm cải thiện hiệu suất lao động, giảm chi phí và mở rộng phạm vi công việc. Ngoài ra, cần thúc đẩy mô hình đào tạo linh hoạt như học tập suốt đời, đào tạo từng phần, từ đó giúp người lao động liên tục cập nhật và nâng cấp kỹ năng. Cách tiếp cận này không những giúp bảo đảm tính phù hợp giữa cung và cầu kỹ năng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực đào tạo trong toàn hệ thống.
Thứ ba, cần tăng cường cơ chế phối hợp đa tác nhân giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục – đào tạo và các doanh nghiệp, các tổ chức trung gian thị trường lao động nhằm thúc đẩy các hình thức phát triển kỹ năng linh hoạt như đào tạo tại chỗ, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua khung chính sách và tiêu chuẩn kỹ năng, các cơ sở giáo dục – đào tạo cung cấp chương trình và phương thức đào tạo phù hợp, các chủ thể thị trường tham gia xác định nhu cầu kỹ năng thực tiễn và hỗ trợ triển khai các hình thức đào tạo như đào tạo tại chỗ, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng. Đồng thời, việc phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động về kỹ năng số có ý nghĩa then chốt trong việc nâng cao chất lượng xây dựng, hoạch định chính sách. Hệ thống này cần tích hợp dữ liệu từ các nguồn chính thức với dữ liệu tuyển dụng trực tuyến và các nguồn dữ liệu quốc tế (như: UN, WB và ILO). Việc này sẽ cho phép theo dõi kịp thời sự thay đổi nhu cầu kỹ năng theo ngành nghề và theo thời gian, từ đó, góp phần nâng cao năng lực dự báo của chính sách, hỗ trợ thiết kế các chương trình đào tạo và phân bổ nguồn lực hiệu quả, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế số và nâng cao năng suất lao động, thu nhập trong dài hạn.
Chú thích:
1. Autor, D. H. (2015). Why are there still so many jobs? The history and future of workplace automation. Journal of Economic Perspectives, 29(3), 3-30.
2. Goldin, C. D., & Katz, L. F. (2008). The race between education and technology. Harvard university press.
3, 10. Acemoglu, D., & Restrepo, P. (2020). Robots and jobs: Evidence from US labor markets. Journal of Political Economy, 128(6), 2188-2244.
4. Bailin Rivares, A., Gal, P., Millot, V., & Sorbe, S. (2019).
Like it or not? The impact of online platforms on the productivity of incumbent service providers. OECD Economics Department Working Papers, No. 1548.
https://doi.org/10.1787/080a17ce-en
5. Autor, D. H., Levy, F., & Murnane, R. J. (2003). The skill content of recent technological change: An empirical exploration. Quarterly Journal of Economics, 118(4), 1279-1333.
6. Genz, S., Janser, M., & Lehmer, F. (2019). The impact of investments in new digital technologies on wages–worker-level evidence from Germany. Jahrbücher für Nationalökonomie und Statistik, 239(3), 483-521.
7. Becker, G. S. (1964). Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education. Columbia University Press.
8. Torrejón Pérez, S., & González Vázquez, I. (2021). The impact of technology on the present and the future of work and skills. https://doi.org/10.1108/978-1-80071-298-020211015
9. World Economic Forum (2025). The future of jobs report 2025. World Economic Forum.
11. Michaels, G., Natraj, A., & Van Reenen, J. (2014). Has ICT polarized skill demand? Evidence from eleven countries over twenty-five years. Review of Economics and Statistics, 96(1), 60-77.
12, 13. WB (2021). Vietnam: Science and Technology and Innovation Report (Volume II). World Bank.
14. Maloney, W. F., & Valencia Caicedo, F. (2022). Engineering growth. Journal of the European Economic Association, 20(4), 1554-1594.
15. TopDev (2024). Vietnam IT market report 2024–2025: Vietnam IT & Tech Talent Landscape. TopDev.
16. Fossen, F. M., & Sorgner, A. (2022). New digital technologies and heterogeneous wage and employment dynamics in the United States: Evidence from individual-level data. Technological Forecasting and Social Change, 175, 121381.
17. Ernst, E., Merola, R., & Samaan, D. (2019). Economics of artificial intelligence: Implications for the future of work. IZA Journal of Labor Policy, 9(1), 1-35.
18. World Bank. (2025). Skills development. World Bank Group.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Chính phủ (2022). Nghị định số 53/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng.
3. Chính phủ (2023). Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
4. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Bustelo, M., Flabbi, L., & Viollaz, M. (2020). The gender labor market gap in the digital economy (IDB Working Paper Series Number IDB-WP-01056), Inter-American Development Bank.
6. Goldin, C. D., & Katz, L. F. (2008). The race between education and technology. Harvard university press.
7. Goos, M., Manning, A., & Salomons, A. (2014). Explaining job polarization: Routine-biased technological change and offshoring. American economic review, 104(8), 2509-2526.
8. Grundke, R., Marcolin, L., Nguyen, T. L. B., & Squicciarini, M. (2018). Which skills for the digital era? Returns to skills analysis (OECD Science, Technology and Industry Working Papers, No. 2018/09). OECD Publishing.
9. Rivares, A. B., Gal, P., Millot, V., & Sorbe, S. (2019). Like it or not? The impact of online platforms on the productivity of incumbent service providers. OECD Publishing.
10. World Economic Forum (2025). The Future of Jobs Report 2025. World Economic Forum.



