Developing a digital economic ecosystem based on science and technology enterprises
ThS. Trần Anh Tuấn
NCS Đại học Thành Đô
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, doanh nghiệp khoa học và công nghệ ngày càng khẳng định vai trò là chủ thể kết nối hoạt động nghiên cứu với thị trường, đồng thời, thúc đẩy quá trình thương mại hóa tri thức và lan tỏa đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở tổng hợp dữ liệu giai đoạn 2019 – 2024 kết hợp với phân tích SWOT, bài viết nhận diện ba điểm nghẽn chủ yếu đang cản trở sự phát triển của khu vực doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Từ thực trạng đó, nghiên cứu nhấn mạnh yêu cầu hình thành hệ sinh thái kinh tế số bền vững theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm của đổi mới sáng tạo.
Từ khóa: Doanh nghiệp khoa học và công nghệ; kinh tế số; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; hợp tác công – tư; quản trị ESG; Make in Viet Nam.
Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution, science and technology enterprises are increasingly asserting their role as key connectors between research activities and the market, while also driving the commercialization of knowledge and the dissemination of innovation. Based on an analysis of data from 2019 to 2024 combined with a SWOT analysis, this article identifies three major bottlenecks currently hindering the development of the science and technology enterprise sector. Given this situation, the study emphasizes the need to establish a sustainable digital economy ecosystem centered on enterprises as the core of innovation.
Keywords: Science and technology enterprises; digital economy; innovation ecosystem; public-private partnership; ESG governance; Make in Vietnam
1. Đặt vấn đề
Kinh tế số đang trở thành động lực tăng trưởng có sức lan tỏa sâu rộng của kinh tế toàn cầu, không chỉ mở rộng không gian thị trường mà còn tái cấu trúc mô hình sản xuất, phân phối và tiêu dùng theo hướng dựa trên dữ liệu, nền tảng và đổi mới sáng tạo. Ở Việt Nam, Báo cáo e-Conomy SEA năm 2024 ước tính tổng giá trị giao dịch của nền kinh tế số đạt khoảng 36 tỉ USD, tăng 16% so với năm 2023; riêng thương mại điện tử đạt khoảng 22 tỉ USD. Ở bình diện vĩ mô, kinh tế số trong nhiều năm liên tiếp duy trì tốc độ tăng trưởng hai chữ số, cao hơn tốc độ tăng GDP. Điều đó cho thấy kinh tế số không còn là một lĩnh vực bổ trợ đơn thuần mà đã trở thành cấu phần quan trọng của năng suất, sức cạnh tranh và năng lực tham gia chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra những mục tiêu rõ ràng cho phát triển kinh tế số ở Việt Nam. Theo đó, đến năm 2030, kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%; đến năm 2045, kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP và Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng hạ tầng số mà còn phải kiến tạo một hệ sinh thái phát triển đồng bộ về thể chế, dữ liệu, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo.
Trong hệ sinh thái đó, doanh nghiệp khoa học và công nghệ giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là lực lượng có khả năng rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển, làm chủ công nghệ lõi, đồng thời tạo ra các sản phẩm, dịch vụ số có giá trị gia tăng cao. Có thể nói, nếu kinh tế số là không gian tăng trưởng mới thì doanh nghiệp khoa học và công nghệ chính là lực đẩy trực tiếp quyết định tốc độ và chất lượng vận hành của không gian đó.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam cho thấy vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Quy mô doanh nghiệp nhìn chung còn nhỏ, liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, dữ liệu khoa học và công nghệ chưa được liên thông hiệu quả, năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn hạn chế, trong khi chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền vẫn còn khá rõ nét. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là gia tăng số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ mà còn là phát triển một hệ sinh thái kinh tế số bền vững, trong đó doanh nghiệp thực sự giữ vai trò trung tâm của dòng chảy đổi mới sáng tạo.
2. Một số khái niệm và khung lý thuyết
2.1. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh trên nền tảng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Hoạt động của loại hình doanh nghiệp này không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng thành tựu khoa học vào thực tiễn mà còn bao gồm khai thác, làm chủ, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ có giá trị gia tăng.
Về bản chất, doanh nghiệp khoa học và công nghệ là chủ thể chuyển hóa tri thức thành giá trị thị trường, giữ vai trò cầu nối giữa khu vực nghiên cứu với khu vực sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Khác với doanh nghiệp thông thường chủ yếu cạnh tranh bằng vốn, lao động hoặc thị trường, doanh nghiệp khoa học và công nghệ tạo lợi thế trên cơ sở công nghệ lõi, tài sản trí tuệ, quy trình mới và khả năng đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có thể thương mại hóa. Vì vậy, loại hình doanh nghiệp này đòi hỏi năng lực cao hơn về quản trị công nghệ, quản trị tài sản trí tuệ và phát triển sản phẩm.
2.2. Kinh tế số và hệ sinh thái số
Kinh tế số là tổng thể các hoạt động kinh tế được hình thành, vận hành và phát triển trên cơ sở công nghệ số, trong đó dữ liệu số, hạ tầng số và các nền tảng số trở thành yếu tố then chốt của quá trình tạo lập giá trị. Khái niệm này rộng hơn thương mại điện tử hay dịch vụ trực tuyến, bởi nó bao trùm cả số hóa trong sản xuất, quản trị doanh nghiệp, logistics, tài chính, dịch vụ công và sự hình thành các mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ.
Trong cấu trúc đó, hệ sinh thái số là không gian tương tác giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức tài chính, cơ sở nghiên cứu, nhà cung cấp công nghệ và người tiêu dùng. Một hệ sinh thái số vận hành hiệu quả đòi hỏi dữ liệu có khả năng liên thông, chuẩn kết nối được thống nhất, an toàn thông tin được bảo đảm và khung thể chế đủ mạnh để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Khi các mắt xích được liên kết chặt chẽ, dòng chảy dữ liệu, công nghệ và dịch vụ sẽ trở nên thông suốt hơn, qua đó góp phần giảm chi phí giao dịch, mở rộng không gian thị trường và thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng.
2.3. Phát triển bền vững và tiêu chuẩn ESG
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra ngày càng sâu rộng, phát triển kinh tế số không thể tách rời yêu cầu phát triển bền vững. Đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, năng lực công nghệ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để bảo đảm phát triển lâu dài; việc đáp ứng các tiêu chuẩn ESG ngày càng trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng cơ hội tham gia chuỗi giá trị.
Ở phương diện môi trường, doanh nghiệp cần hướng tới các mô hình sản xuất sạch hơn, sử dụng năng lượng hiệu quả và giảm phát thải. Ở phương diện xã hội, doanh nghiệp cần quan tâm đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư số, an toàn người dùng và phát triển kỹ năng số cho người lao động. Ở phương diện quản trị, các yêu cầu trọng tâm là minh bạch dữ liệu, bảo đảm đạo đức trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tăng cường quản trị rủi ro công nghệ và tuân thủ pháp luật. Vì vậy, ESG không chỉ là thước đo trách nhiệm doanh nghiệp mà còn là định hướng phát triển có tính chiến lược, giúp doanh nghiệp khoa học và công nghệ củng cố năng lực thích ứng và phát triển bền vững.
3. Thực trạng phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2019 – 2024
Một là, sự gia tăng về số lượng và khoảng cách so với mục tiêu phát triển.
Giai đoạn 2019 – 2024 ghi nhận xu hướng gia tăng tương đối ổn định về số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ, phản ánh tác động bước đầu của các chính sách khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp dựa trên tài sản trí tuệ và hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Tính đến năm 2024, cả nước có khoảng 900 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tăng gần 1,75 lần so với năm 2019, khi số lượng mới dao động ở mức khoảng 510 – 520 doanh nghiệp. Mức tăng này cho thấy, khu vực doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức chính sách lẫn tổ chức thực thi ở trung ương và địa phương.
Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với mục tiêu 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ vào năm 2030 thì quy mô hiện nay vẫn còn khá xa. Với khoảng 900 doanh nghiệp vào năm 2024, tỷ lệ hoàn thành mới đạt xấp xỉ 18% mục tiêu. Điều đó, đồng nghĩa với việc Việt Nam cần bổ sung thêm khoảng 4.100 doanh nghiệp trong vòng 6 năm, tương ứng mức tăng bình quân gần 680 doanh nghiệp mỗi năm; xét theo tốc độ tăng trưởng kép, con số cần thiết vào khoảng 33%/năm. Khoảng cách này cho thấy, nếu chỉ duy trì đà tăng hiện tại mà không có giải pháp đủ mạnh về thể chế, tài chính, dữ liệu và thị trường thì khả năng đạt mục tiêu đến năm 2030 sẽ gặp nhiều thách thức.
Hai là, cơ cấu quy mô doanh nghiệp và các điểm nghẽn chủ yếu.
Bên cạnh sự gia tăng về số lượng, cơ cấu phát triển của doanh nghiệp khoa học và công nghệ vẫn bộc lộ nhiều bất cân đối, đặc biệt ở phương diện quy mô vốn và năng lực phát triển thị trường. Phần lớn doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ, hơn 81% có vốn dưới 50 tỷ đồng. Cấu trúc này khiến nhiều doanh nghiệp hạn chế trong đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm công nghệ, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ, cũng như mở rộng quy mô kinh doanh. Trong điều kiện nguồn lực hạn chế, doanh nghiệp khó xây dựng đội ngũ chuyên sâu về quản trị công nghệ, quản trị dữ liệu, pháp lý sở hữu trí tuệ và phát triển sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Hệ quả là quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại thường bị đứt gãy và thiếu tính liên tục.
Một điểm nghẽn khác là sự thiếu hụt các doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt thị trường, trong khi khu vực doanh nghiệp quy mô vừa chưa phát triển tương xứng. Tỷ lệ doanh nghiệp lớn trong tổng số doanh nghiệp khoa học và công nghệ hiện còn rất thấp, chưa đến 2%, chủ yếu tập trung ở một số tên tuổi, như FPT, Viettel, VNG. Trong khi đó, khoảng trống của nhóm doanh nghiệp quy mô vừa đang tạo ra một nút thắt đáng kể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp nhỏ thường không đủ năng lực tài chính và tổ chức để kéo công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường, còn doanh nghiệp lớn lại có xu hướng ưu tiên những dự án quy mô lớn, ít rủi ro hơn. Vì vậy, nhiều kết quả nghiên cứu có tiềm năng nhưng khó tìm được chủ thể trung gian đủ năng lực để đầu tư, hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa.
Ba là, phân bố vùng miền và việc khai thác lợi thế địa phương.
Sự phát triển của doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam còn mang đặc trưng nổi bật là phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền và địa phương. Các doanh nghiệp này tập trung với mật độ cao tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, chiếm hơn 45% tổng số doanh nghiệp khoa học và công nghệ cả nước. Thực trạng đó phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa sự hình thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ với sự hiện diện của hệ sinh thái tri thức, bao gồm: trường đại học, viện nghiên cứu, thị trường tiêu thụ lớn, dịch vụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong số các địa phương, Hà Nội tiếp tục dẫn đầu với khoảng 165 doanh nghiệp nhờ lợi thế về cơ sở đào tạo, nghiên cứu và các thiết chế hỗ trợ. Tuy nhiên, sự tập trung cao cũng cho thấy yêu cầu cần điều phối chính sách theo hướng giảm dần chênh lệch vùng miền, tránh tình trạng tri thức và doanh nghiệp tiếp tục tích tụ vào một số trung tâm lớn.
Hải Phòng là trường hợp đáng chú ý khi số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ tăng từ 3 doanh nghiệp năm 2019 lên 68 doanh nghiệp vào năm 2024. Sự gia tăng này gắn với chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào công nghệ cao, phát triển khu công nghiệp và nhu cầu chuyển giao, nội địa hóa công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa địa phương. Đối với Đà Nẵng và Cần Thơ, quá trình phát triển diễn ra theo các định hướng đặc thù hơn: Đà Nẵng gắn với đô thị số, logistics và dịch vụ số; Cần Thơ có lợi thế trong nông nghiệp công nghệ cao kết hợp chuyển đổi số chuỗi giá trị. Dù vậy, quy mô doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại hai địa phương này vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng, cho thấy những hạn chế về nguồn lực R&D tại chỗ, chất lượng nhân lực chuyên sâu và dịch vụ hỗ trợ công nghệ. Vì vậy, bài toán phân bố vùng miền cần được tiếp cận theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương và thúc đẩy liên kết vùng nhằm hình thành các cụm đổi mới sáng tạo theo chuỗi giá trị.
Bốn là, hệ sinh thái thông tin khoa học và công nghệ: từ dữ liệu phân tán đến giá trị sử dụng.
Bên cạnh các vấn đề về quy mô và phân bố không gian, hệ sinh thái thông tin khoa học và công nghệ hiện nay cũng là một khâu nền tảng nhưng còn nhiều hạn chế trong hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Về nguyên tắc, hệ thống thông tin khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng đối với quản trị đổi mới sáng tạo vì giúp các chủ thể ra quyết định, kết nối cung – cầu công nghệ, giảm chi phí tìm kiếm thông tin và nâng cao khả năng dự báo xu hướng công nghệ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy dữ liệu khoa học và công nghệ ở Việt Nam vẫn còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và chưa được liên thông hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương và tổ chức nghiên cứu. Mặc dù đã hình thành khối lượng dữ liệu đáng kể với hơn 64.000 bản ghi nhiệm vụ khoa học và công nghệ cùng khoảng 400.000 bản ghi toàn văn công bố, phần lớn dữ liệu vẫn mới dừng ở dạng thông tin thô, thiếu cấu trúc và thiếu chuẩn siêu dữ liệu.
Vấn đề cốt lõi là dữ liệu chỉ thực sự trở thành tri thức khi được làm sạch, chuẩn hóa, gán nhãn, phân loại và liên thông, đồng thời được hỗ trợ bởi các công cụ đủ mạnh để chuyển hóa thành giá trị sử dụng. Nếu thiếu các mắt xích trung gian như cổng tra cứu thông minh, hệ thống phân tích xu hướng hay nền tảng gợi ý đối tác chuyển giao, dữ liệu dù phong phú đến đâu cũng khó tạo ra tác động thực chất đối với xây dựng chính sách, đồng thời khó hỗ trợ doanh nghiệp trong định vị công nghệ, hoạch định hoạt động nghiên cứu và phát triển, tìm kiếm thị trường và kết nối đối tác.
Nhìn tổng thể, bức tranh phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ giai đoạn 2019 – 2024 cho thấy, khu vực này đã có bước tiến nhất định về số lượng nhưng vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể so với mục tiêu đến năm 2030. Cùng với đó là những hạn chế kéo dài về cơ cấu quy mô, sự tập trung không gian phát triển vào một số địa phương lớn và tình trạng dữ liệu khoa học và công nghệ còn phân tán, thiếu liên thông. Đây là những nút thắt có tính hệ thống, cần được xử lý đồng bộ nếu Việt Nam muốn hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số phát triển bền vững.
4. Vai trò của nền tảng số dùng chung và cơ chế PPP trong kiến tạo hệ sinh thái
4.1. Nền tảng số dùng chung
Trong bối cảnh dữ liệu khoa học và công nghệ còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và chưa được liên thông hiệu quả, việc hình thành các nền tảng số dùng chung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Các nền tảng này không chỉ thực hiện chức năng lưu trữ hoặc cung cấp thông tin mà còn tạo môi trường tích hợp để kết nối dữ liệu, chuẩn hóa quy trình, hỗ trợ ra quyết định và thúc đẩy tương tác giữa các chủ thể. Khi được thiết kế theo hướng mở, có khả năng liên thông và tích hợp công nghệ phân tích thông minh, nền tảng số dùng chung có thể làm giảm chi phí tìm kiếm thông tin, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu với ứng dụng và nâng cao chất lượng điều hành chính sách.
4.2. Cổng sáng kiến khoa học và công nghệ tích hợp AI: mở rộng kết nối giữa tri thức, chuyên gia và thị trường
Một biểu hiện cụ thể của xu hướng này là Cổng Sáng kiến khoa học và công nghệ tích hợp AI tại địa chỉ sangkien.gov.vn. Theo bản thảo gốc, nền tảng này được đưa vào vận hành từ tháng 8/2025 với định hướng trở thành không gian mở kết nối trí tuệ xã hội với nhu cầu phát triển của thị trường. Chỉ sau 2 tháng hoạt động, hệ thống đã tiếp nhận hơn 150 đề xuất sáng kiến và tích hợp cơ sở dữ liệu của 8.571 chuyên gia thuộc 11 lĩnh vực công nghệ chiến lược, trong đó có trí tuệ nhân tạo và bán dẫn. Việc tích hợp AI và chatbot trong quý IV/2025 không chỉ nâng cao khả năng tra cứu, tương tác mà còn hỗ trợ phân tích xu hướng công nghệ và gợi ý khả năng thương mại hóa.
Vai trò lớn hơn của Cổng Sáng kiến nằm ở khả năng từng bước hình thành cơ chế tập hợp, sàng lọc và chuyển hóa tri thức phân tán thành nguồn lực phát triển. Trong điều kiện nhiều kết quả nghiên cứu còn khó tiếp cận doanh nghiệp hoặc thiếu đầu mối thương mại hóa, nền tảng này có thể trở thành “điểm gặp” giữa bên tạo ra tri thức và bên có nhu cầu ứng dụng, qua đó, tăng xác suất chuyển từ ý tưởng sang sản phẩm.
4.3. Nền tảng TSEP: từ số hóa thủ tục đến chuẩn hóa quản trị quốc gia đối với doanh nghiệp khoa học, công nghệ
Bên cạnh Cổng Sáng kiến, nền tảng TSEP có ý nghĩa trực tiếp hơn đối với quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Theo bản thảo, TSEP là nền tảng quốc gia phục vụ quản lý doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cho phép chuẩn hóa toàn bộ quy trình từ đăng ký, thẩm định đến cấp chứng nhận theo hình thức trực tuyến. Đây là bước chuyển từ mô hình xử lý hồ sơ phân tán, thủ công và phụ thuộc nhiều vào từng địa phương sang mô hình quản trị thống nhất dựa trên quy trình số hóa và dữ liệu chuẩn. Khi thủ tục được chuẩn hóa trên cùng một nền tảng, thời gian và chi phí hành chính được cắt giảm, đồng thời tính minh bạch cũng được nâng lên.
Ý nghĩa chiến lược của TSEP còn nằm ở khả năng tích hợp công cụ phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ quản lý nhà nước theo hướng dựa trên bằng chứng. Khi dữ liệu về doanh nghiệp, lĩnh vực công nghệ, tiến trình chứng nhận và nhu cầu hỗ trợ được tập trung trên cùng một nền tảng, cơ quan quản lý có thể theo dõi xu hướng phát triển của doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo thời gian thực, qua đó điều chỉnh chính sách chính xác hơn.
4.4. Cơ chế hợp tác công – tư (PPP): mở rộng nguồn lực và chia sẻ rủi ro cho đổi mới sáng tạo
Nếu các nền tảng số dùng chung tạo ra hạ tầng thông tin và hạ tầng quản trị cho hệ sinh thái, thì cơ chế hợp tác công – tư lại đóng vai trò mở rộng không gian huy động nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong bản thảo gốc, Nghị định số 180/2025/NĐ-CP được xem là công cụ mới có ý nghĩa quan trọng trong việc khơi thông hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhân, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng số và hạ tầng mềm. Việc cho phép vốn nhà nước tham gia với tỷ lệ cao hơn trong những dự án có tính dẫn dắt không chỉ giúp chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân mà còn tạo điều kiện hình thành các không gian thử nghiệm chính sách và công nghệ.
Từ góc độ vận hành hệ sinh thái, cơ chế này có thể giúp Nhà nước dẫn dắt đầu tư vào các cấu phần nền tảng như cơ sở dữ liệu dùng chung, phòng thí nghiệm dùng chung, hạ tầng thử nghiệm công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo hoặc các nền tảng số công phục vụ doanh nghiệp. Đồng thời, sự tham gia của khu vực tư nhân góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện và đẩy nhanh tốc độ thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn nhỏ về quy mô, hợp tác công – tư còn là một cơ chế hỗ trợ để tham gia sâu hơn vào các dự án công nghệ có quy mô lớn.
4.5. Sự kết hợp giữa nền tảng số dùng chung và PPP trong tái cấu trúc hệ sinh thái
Trên thực tế, nền tảng số dùng chung và cơ chế hợp tác công – tư không tồn tại tách biệt mà bổ sung cho nhau trong quá trình tái cấu trúc hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các nền tảng số tạo ra cơ sở dữ liệu, chuẩn quy trình và hạ tầng kết nối; trong khi hợp tác công – tư cung cấp cơ chế huy động nguồn lực để mở rộng đầu tư và chia sẻ rủi ro. Khi được thiết kế đồng bộ, hai công cụ này có thể góp phần chuyển hệ sinh thái từ trạng thái phân tán, hành chính hóa và phản ứng chậm sang trạng thái tích hợp hơn, minh bạch hơn và có khả năng vận hành dựa trên dữ liệu. Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp khoa học và công nghệ thực sự trở thành trung tâm của các dòng chảy đổi mới sáng tạo.
5. Phân tích SWOT hệ sinh thái doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong bối cảnh mới
5.1. Điểm mạnh
Xét ở phương diện nội lực, hệ sinh thái doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam đang hình thành một số nền tảng tích cực cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Trước hết, sự gia tăng tương đối ổn định về số lượng doanh nghiệp trong giai đoạn 2019 – 2024 cho thấy khu vực này đã bắt đầu có sức bật nhất định dưới tác động của các chính sách khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, hành lang pháp lý mới theo định hướng của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp vận hành trong môi trường thuận lợi hơn.
Một điểm mạnh khác là khả năng thích ứng tương đối linh hoạt với các công nghệ số mới, đặc biệt trong những lĩnh vực có nhu cầu ứng dụng cao như nông nghiệp thông minh, năng lượng sạch, dữ liệu số và tự động hóa. Bên cạnh đó, tại một số đô thị lớn đã bắt đầu hình thành các cụm đổi mới sáng tạo bước đầu, nơi hội tụ trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia công nghệ, doanh nghiệp và dịch vụ hỗ trợ. Dù mức độ phát triển còn chưa đồng đều, đây vẫn là nền móng tích cực cho việc hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo theo chiều sâu.
5.2. Điểm yếu
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, hệ sinh thái doanh nghiệp khoa học và công nghệ hiện vẫn tồn tại nhiều điểm yếu mang tính cấu trúc. Nổi bật nhất là quy mô vốn của phần lớn doanh nghiệp còn nhỏ, trong khi nguồn nhân lực chuyên trách về xử lý thông tin, quản trị dữ liệu, quản trị công nghệ và sở hữu trí tuệ còn thiếu. Điều này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, hoàn thiện công nghệ ở giai đoạn thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và mở rộng thị trường.
Một hạn chế khác là liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn còn lỏng lẻo, khiến quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Đồng thời, năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG của nhiều doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn hạn chế, trong khi đây ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
5.3. Cơ hội
Trong bối cảnh mới, hệ sinh thái doanh nghiệp khoa học và công nghệ của Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển đáng chú ý. Trước hết, quyết tâm chính trị được thể hiện qua Nghị quyết số 57-NQ/TW và Chương trình Chuyển đổi số quốc gia tạo ra không gian chính sách rộng hơn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Đây là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp khoa học và công nghệ được đặt vào vị trí trung tâm hơn trong chiến lược phát triển.
Bên cạnh đó, sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu cùng với nhu cầu ngày càng tăng đối với công nghệ số trong nước đang mở ra dư địa thị trường mới cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Đặc biệt, cơ chế hợp tác công – tư theo Nghị định số 180/2025/NĐ-CP tạo thêm một kênh huy động nguồn lực quan trọng, cho phép chia sẻ rủi ro trong đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghệ. Nếu được triển khai hiệu quả, đây có thể trở thành đòn bẩy giúp doanh nghiệp vượt qua rào cản về vốn.
5.4. Thách thức
Song song với các cơ hội mới, doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam cũng phải đối diện nhiều thách thức lớn trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Một trong những sức ép rõ rệt nhất là cạnh tranh từ các tập đoàn công nghệ đa quốc gia có tiềm lực tài chính mạnh, sở hữu công nghệ lõi, hệ sinh thái khách hàng rộng và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn ESG cao. Trong khi doanh nghiệp trong nước phần lớn còn ở quy mô nhỏ và vừa, các doanh nghiệp nước ngoài thường có lợi thế vượt trội về năng lực nghiên cứu và phát triển, quản trị dữ liệu, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và khả năng mở rộng thị trường quốc tế.
Bên cạnh áp lực cạnh tranh, các rủi ro liên quan đến an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và bảo hộ tài sản trí tuệ cũng đang trở thành thách thức ngày càng lớn. Trong môi trường số, dữ liệu vừa là tài sản vừa là nền tảng vận hành của doanh nghiệp; do đó, những lỗ hổng trong bảo mật có thể kéo theo thiệt hại về kinh tế và uy tín. Nếu cơ chế bảo hộ tài sản trí tuệ chưa đủ mạnh hoặc năng lực thực thi còn hạn chế, doanh nghiệp sẽ thiếu động lực đầu tư dài hạn vào nghiên cứu và phát triển.
6. Một số khuyến nghị mang tính giải pháp
Thứ nhất, đối với Nhà nước.
Để thu hẹp khoảng cách giữa tốc độ phát triển hiện nay với mục tiêu hình thành 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ vào năm 2030, vai trò của Nhà nước cần được thể hiện rõ hơn ở hai phương diện cốt lõi là hoàn thiện thể chế và kiến tạo hạ tầng phát triển. Trước hết, cần thúc đẩy triển khai mạnh mẽ cơ chế hợp tác công – tư theo Nghị định số 180/2025/NĐ-CP như một công cụ huy động nguồn lực cho các dự án hạ tầng số, hạ tầng mềm và các cấu phần nền tảng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Việc cho phép vốn nhà nước tham gia với tỷ lệ cao hơn trong những dự án có tính dẫn dắt không chỉ giúp chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân mà còn tạo điều kiện hình thành các không gian thử nghiệm chính sách và công nghệ.
Cùng với đó, xây dựng cơ sở dữ liệu mở và liên thông cần được xác định là một ưu tiên chiến lược trong quản trị hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong điều kiện dữ liệu còn phân tán và thiếu chuẩn hóa, việc phá bỏ các “ốc đảo” dữ liệu, hình thành mục lục tích hợp và áp dụng công cụ phân tích năng lực cạnh tranh công nghệ sẽ giúp nâng cao chất lượng điều hành chính sách cũng như khả năng hỗ trợ doanh nghiệp.
Bên cạnh hạ tầng dữ liệu, khung pháp lý cũng cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng theo kịp tốc độ phát triển của chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Việc sớm ban hành Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo và sửa đổi các quy định liên quan đến định giá tài sản trí tuệ sẽ góp phần tạo lập môi trường pháp lý minh bạch hơn cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Song song với đó, cần tái cấu trúc không gian đổi mới sáng tạo theo hướng hình thành các cụm khoa học và công nghệ cấp vùng tại những địa phương có tiềm năng như Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ, đồng thời thúc đẩy các mô hình thử nghiệm chính sách và thử nghiệm công nghệ có kiểm soát.
Thứ hai, đối với doanh nghiệp.
Về phía doanh nghiệp, yêu cầu quan trọng nhất trong giai đoạn tới là chuyển từ tâm thế ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ, đặc biệt là các công nghệ lõi có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo tinh thần “Make in Viet Nam”, doanh nghiệp khoa học và công nghệ cần chủ động xây dựng các nền tảng công nghệ mang thương hiệu Việt, từng bước giảm phụ thuộc vào các hệ thống công nghệ nước ngoài và nâng cao khả năng tự chủ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối và các công nghệ số mới nổi.
Bên cạnh việc làm chủ công nghệ, doanh nghiệp cũng cần coi ESG là một cấu phần thiết yếu trong chiến lược phát triển. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị ngày càng trở thành điều kiện để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, việc xây dựng mô hình quản trị minh bạch, sản xuất xanh và có trách nhiệm xã hội sẽ góp phần nâng cao uy tín, khả năng tiếp cận thị trường. Đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, ESG còn gắn trực tiếp với quản trị dữ liệu, đạo đức công nghệ và bảo vệ quyền riêng tư.
Một yêu cầu khác là doanh nghiệp phải chủ động mở rộng liên kết với các trường đại học và viện nghiên cứu. Trong điều kiện phần lớn doanh nghiệp còn hạn chế về năng lực nghiên cứu độc lập, việc tăng cường kết nối với khu vực đào tạo và nghiên cứu sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn với tri thức mới, nhân lực chất lượng cao và các kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng. Đồng thời, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị nội bộ theo hướng dữ liệu hóa hoạt động quản trị, chuẩn hóa quy trình, tăng cường kiểm soát rủi ro công nghệ và đầu tư cho bảo hộ tài sản trí tuệ.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và văn hóa số như nền tảng dài hạn.
Bên cạnh các giải pháp về thể chế, hạ tầng và năng lực doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và văn hóa số cần được xác định là nền tảng dài hạn của hệ sinh thái kinh tế số dựa trên doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Trước hết, cần đẩy mạnh phổ cập kiến thức và kỹ năng về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và công nghệ số cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội, không chỉ giới hạn trong đội ngũ cán bộ quản lý hay khu vực doanh nghiệp lớn. Việc mở rộng năng lực số tới doanh nghiệp nhỏ, người lao động và người dân sẽ tạo ra môi trường xã hội thuận lợi hơn cho tiếp nhận công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh và phát triển thị trường ứng dụng số trong nước.
Đồng thời, cần chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia có khả năng xử lý dữ liệu và quản trị thông tin khoa học và công nghệ, tức lực lượng có thể chuyển hóa dữ liệu thô thành tri thức có giá trị sử dụng. Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng trở thành tài sản chiến lược, những nhân lực có năng lực làm sạch, chuẩn hóa, phân loại, phân tích và khai thác dữ liệu sẽ đóng vai trò trung gian quan trọng giữa thông tin và quyết định, giữa kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.
Song song với nguồn nhân lực, việc hình thành văn hóa số cũng có ý nghĩa quan trọng. Văn hóa số không chỉ là thói quen sử dụng công cụ số mà còn bao gồm tư duy ra quyết định dựa trên dữ liệu, tinh thần đổi mới sáng tạo, khả năng hợp tác trên nền tảng số, ý thức bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm trong môi trường số. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực số và văn hóa số cần được triển khai đồng thời như hai mặt của quá trình xây dựng nền tảng phát triển bền vững.
7. Kết luận
Xây dựng hệ sinh thái kinh tế số trên nền tảng doanh nghiệp khoa học và công nghệ không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới mà còn gắn với mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia trong tiến trình hiện thực hóa tinh thần “Make in Viet Nam”. Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam đã gia tăng trong giai đoạn 2019 – 2024, khu vực này vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản mang tính cấu trúc, bao gồm hạn chế về quy mô vốn, sự phân bố không đồng đều giữa các vùng, mức độ liên thông dữ liệu còn thấp và năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, phát triển hệ sinh thái không thể chỉ dừng ở mở rộng số lượng doanh nghiệp mà cần được tiếp cận như một quá trình tái cấu trúc đồng bộ giữa thể chế, hạ tầng số, dữ liệu, nguồn nhân lực và cơ chế liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái.
Theo hướng tiếp cận đó, khi dữ liệu được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược, các nền tảng số dùng chung được triển khai hiệu quả, cơ chế hợp tác công – tư được khơi thông và doanh nghiệp khoa học và công nghệ thực sự trở thành trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo, Việt Nam sẽ có thêm điều kiện để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường và hình thành động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế số. Đây cũng là nền tảng quan trọng để hướng tới các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, trong đó kinh tế số không chỉ mở rộng về quy mô mà còn phát triển theo hướng tự chủ hơn, bền vững hơn và có khả năng cạnh tranh cao hơn trong môi trường toàn cầu.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo thực trạng doanh nghiệp khoa học, công nghệ giai đoạn 2019 – 2024.
3. Chính phủ (2025). Nghị định số 180/2025/NĐ-CP về hợp tác công – tư trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sang tạo và chuyển đổi số.
4. Quốc hội (2013). Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.
5. Google & Temasek (2024). Báo cáo e-Conomy SEA 2024.
6. Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong tiến trình xây dựng kinh tế số bền vững tại Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/24/phat-trien-doanh-nghiep-khoa-hoc-va-cong-nghe-trong-tien-trinh-xay-dung-kinh-te-so-ben-vung-tai-viet-nam.
7. Xây dựng hệ sinh thái thông tin khoa học công nghệ cho phát triển kinh tế số ở Việt Nam. https://1thegioi.vn/xay-dung-he-sinh-thai-thong-tin-kh-cn-cho-phat-trien-kinh-te-so-o-viet-nam, ngày 24/8/2025.



