Social work services for people with disabilities in Can Tho City at present
ThS. Trần Hồng Trang
Đại học Cần Thơ
ThS. Nguyễn Ngọc Quy
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Cần Thơ
(Quanlynhanuoc.vn) – Những năm qua, công tác xã hội đối với người khuyết tật tại Cần Thơ đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Hệ thống chính sách an sinh xã hội được triển khai tương đối đồng bộ, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật. Nhiều chương trình hỗ trợ về y tế, giáo dục, dạy nghề, việc làm và trợ giúp xã hội được thực hiện hiệu quả, tạo điều kiện để người khuyết tật hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai vẫn còn một số hạn chế, do đó, bài viết đề xuất một số phương hướng và giải pháp trọng tâm nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội đối với người khuyết tật tại Cần Thơ.
Từ khóa: An sinh xã hội; công tác xã hội; người khuyết tật; thành phố Cần Thơ.
Abstract: In recent years, social work for persons with disabilities in Can Tho has achieved many positive results. The social security policy system has been implemented in a relatively comprehensive and coordinated manner, contributing to improving both the material and mental well-being of persons with disabilities. Various support programs in healthcare, education, vocational training, employment, and social assistance have been effectively carried out, creating favorable conditions for people with disabilities to integrate into the community. In addition to these achievements, certain limitations remain in the implementation process. Therefore, this article proposes several key directions and solutions aimed at further enhancing the effectiveness of social work for persons with disabilities in Can Tho.
Keywords: Social security; social work; persons with disabilities; Can Tho City.
1. Đặt vấn đề
Trong giai đoạn 2020 – 2025, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật của các địa phương trên phạm vi cả nước nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, đặc biệt là tác động của đại dịch Covid-19, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, việc làm và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của người khuyết tật.
Thành phố Cần Thơ được hợp nhất từ 3 tỉnh, thành phố (thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang), là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục của vùng đồng bằng sông Cửu Long, quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế – xã hội đã tạo nền tảng thuận lợi để triển khai các chính sách an sinh xã hội, trong đó có công tác người khuyết tật.
Tuy nhiên, sự phân hóa giữa khu vực đô thị và nông thôn, cùng với hạn chế về hạ tầng tiếp cận, dữ liệu thống kê và nhận thức xã hội vẫn là những yếu tố tác động đáng kể. Những thuận lợi và khó khăn đan xen này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả triển khai Chỉ thị số 39-CT/TW, đòi hỏi tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, sự phối hợp đồng bộ của các ngành và huy động nguồn lực xã hội nhằm tạo điều kiện để người khuyết tật bình đẳng, phát triển và bảo đảm quyền, lợi ích, sự hòa nhập bền vững.
2. Những kết quả đạt được trong công tác xã hội đối với người khuyết tật tại thành phố Cần Thơ
Giai đoạn 2020 – 2025 là một thời kỳ mang tính bước ngoặt, công tác người khuyết tật tại thành phố Cần Thơ triển khai trong bối cảnh “khó khăn kép”, đại dịch Covid-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng việc làm, hạn chế khả năng tiếp cận y tế của người khuyết tật; đồng thời, tình trạng biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long gây áp lực lớn lên sinh kế vùng nông thôn. Trước tình hình đó, với vị thế là trung tâm động lực của vùng, thành phố Cần Thơ không chỉ xem việc thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW là nhiệm vụ an sinh thuần túy mà là một thước đo về sự phát triển văn minh và công bằng xã hội. Thành phố đã chủ động chuyển đổi phương thức hỗ trợ từ “nhân đạo, từ thiện” sang “trợ giúp dựa trên quyền”, giúp người khuyết tật không bị bỏ lại phía sau.
Thành phố Cần Thơ đã thành công trong việc đưa nội dung Chỉ thị số 39-CT/TW từ văn bản đến nâng cao ý thức của đội ngũ quản lý, với tỷ lệ hơn 98% cán bộ, đảng viên được học tập, quán triệt1. Việc lồng ghép nội dung vào sinh hoạt chi bộ và các lớp bồi dưỡng chính trị đã giúp đội ngũ cán bộ hiểu đúng, làm trúng các chính sách đối với người khuyết tật. Truyền thông đa phương thức, không chỉ dừng lại ở loa phát thanh hay tờ rơi, thành phố đã mạnh dạn ứng dụng nền tảng số, như: Cổng thông tin điện tử, mạng xã hội, Infographic, video đồ họa trong nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền. Với các chiến dịch truyền thông đã chuyển dịch trọng tâm từ việc nêu hoàn cảnh khó khăn sang tôn vinh những “tấm gương vượt khó”, những người khuyết tật là chủ doanh nghiệp, vận động viên xuất sắc. Điều này giúp xã hội thay đổi cái nhìn: người khuyết tật không phải là “gánh nặng” mà là một nguồn lực đóng góp cho sự phát triển của thành phố. Tổng kết thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW, thành phố đã đạt được một số kết quả sau:
(1) Về an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe. Công tác an sinh xã hội không chỉ dừng lại ở việc phát trợ cấp mà đã chuyển sang quản lý đối tượng một cách khoa học và toàn diện. Thành phố đã quản lý chặt chẽ và bảo đảm quyền lợi cho 80.103 người khuyết tật; việc thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng (từ 750.000đ – 1.250.000đ) được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng, bảo đảm mức sống tối thiểu ngay cả trong giai đoạn dịch bệnh khó khăn nhất; tỷ lệ 100% người khuyết tật đang hưởng trợ cấp được cấp thẻ bảo hiểm y tế là minh chứng cho cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau”; người khuyết tật có thể tiếp cận dịch vụ y tế tại mọi cấp mà không phải lo lắng về rào cản tài chính2.
Đột phá trong y tế kỹ thuật cao, việc triển khai 18 chương trình, dự án (năm 2021 – 2022: 5 chương trình, dự án; năm 2023: 6 chương trình, dự án; năm 2024 và 2025, 7 chương trình, dự án) đã đưa các kỹ thuật chuyên sâu đến gần hơn với người dân. Đặc biệt, việc phủ sóng sàng lọc khuyết tật sớm tại 100% trung tâm y tế cấp huyện (hiện nay là trung tâm y tế khu vực) giúp phát hiện và can thiệp kịp thời cho hàng nghìn trẻ em, giảm thiểu tối đa gánh nặng khuyết tật nặng trong tương lai3.
(2) Giáo dục, nghề nghiệp và sinh kế cho người khuyết tật. Không chỉ đào tạo nghề cho 880 người, thành phố Cần Thơ còn tạo đòn bẩy kinh tế thông qua việc giải ngân hơn 1,1 tỷ đồng vốn vay ưu đãi, điều này đã chuyển đổi từ hỗ trợ thụ động sang khuyến khích người khuyết tật tự làm chủ, tự tạo việc làm trong các lĩnh vực thủ công, dịch vụ và buôn bán nhỏ; giáo dục hòa nhập không rào cản, 100% các cơ sở giáo dục đã xây dựng môi trường học tập thân thiện4.
Thành phố đã thu hút hàng trăm nghìn USD từ các tổ chức quốc tế (Na Uy, Hoa Kỳ) để phẫu thuật chỉnh hình, hỗ trợ dinh dưỡng và can thiệp giáo dục sớm cho trẻ em khuyết tật. Tiêu biểu, như: khoản viện trợ phi dự án “Hỗ trợ tài chính tăng cường dinh dưỡng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” do Công ty TNHH MTV Herbalife Việt Nam (Hoa Kỳ) với tổng số vốn viện trợ là 20.000USD (đơn vị thực hiện là Nhà Nuôi trẻ mồ côi Hướng Dương); khoản viện trợ phi dự án “Phẫu thuật chỉnh hình trẻ em khuyết tật cơ quan vận động” do tổ chức Social Assistance Programme for Viet Nam (SAP-VN) tài trợ, với tổng nguồn vốn 68.844USD (đơn vị thực hiện là Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo thành phố Cần Thơ); dự án: Hòa nhập xã hội của người khuyết tật tại thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025, tổng nguồn vốn 225.000USD, do tổ chức Liên minh Na Uy Việt Nam (NMA-V) tài trợ (đơn vị thực hiện là Hội Người khuyết tật thành phố Cần Thơ)5.
(3) Tiếp cận hạ tầng. Thành phố Cần Thơ đã xây dựng một thành phố “không rào cản” là mục tiêu xuyên suốt trong phát triển đô thị; hạ tầng tiếp cận hiện đại, hơn 90% công trình công cộng xây mới (trụ sở, bệnh viện, trường học) và 100% dự án giao thông đô thị mới đều phải tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn tiếp cận (ram dốc, thang máy, vỉa hè dành cho người khiếm thị). Điều này không chỉ là con số kỹ thuật mà là sự tôn trọng quyền được di chuyển và sử dụng dịch vụ công của người khuyết tật6.
(4) Đẩy mạnh xã hội hóa. Cần Thơ đã thành công trong việc xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ người khuyết tật bền vững thông qua xã hội hóa, với việc huy động được 165,3 tỷ đồng ngoài ngân sách7. Đây là con số kỷ lục, chứng minh sự tin tưởng của các doanh nghiệp, tổ chức tôn giáo và nhà hảo tâm vào chính sách của thành phố. Nguồn kinh phí này đã biến thành hàng nghìn chiếc xe lăn, tay chân giả và các thiết bị hỗ trợ chuyên dụng, giúp người khuyết tật thay đổi hoàn toàn chất lượng cuộc sống hàng ngày. Việc chuyển dịch từ hỗ trợ đơn lẻ sang các mô hình bảo trợ phi lợi nhuận đã tạo ra mạng lưới an sinh đa lớp, giảm áp lực đáng kể cho ngân sách nhà nước.
Mặc dù đã đạt được kết quả trên, song công tác người khuyết tật ở Cần Thơ vẫn còn đối diện với những “điểm nghẽn” mang tính hệ thống, ảnh hưởng đến tính bền vững của các chính sách hòa nhập.
Một là, áp lực kinh tế và sự bất cập của mức trợ cấp. Mức sống tối thiểu chưa được bảo đảm, mặc dù mức chuẩn trợ giúp xã hội đã được điều chỉnh tăng, nhưng so với chỉ số giá tiêu dùng và nhu cầu đặc thù của người khuyết tật (chi phí thuốc men, thiết bị hỗ trợ, người chăm sóc), mức trợ cấp hiện tại vẫn còn khoảng cách khá xa so với mức sống tối thiểu, điều này khiến một bộ phận lớn người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng vẫn phải sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình, khó có cơ hội tích lũy để cải thiện điều kiện sống hoặc tham gia các hoạt động xã hội tự nguyện.
Hai là, “khoảng trống” trong đào tạo nghề và bài toán việc làm bền vững. Đây là nút thắt lớn nhất cản trở sự tự lập của người khuyết tật, trong đó thiếu môi trường đào tạo chuyên biệt, chưa có các cơ sở đào tạo nghề hoặc khoa, phòng được thiết kế riêng với giáo trình và trang thiết bị phù hợp cho từng dạng khuyết tật (khiếm thị, khiếm thính, vận động) và việc học chung với hệ thống giáo dục nghề nghiệp phổ thông vô hình trung tạo ra rào cản về tâm lý và tiếp thu cho người khuyết tật. Hiện nay, các doanh nghiệp vẫn còn tâm lý ngại tuyển dụng lao động là người khuyết tật do lo ngại về chi phí cải tạo nhà xưởng, năng suất lao động và các thủ tục bảo hiểm đặc thù. Người khuyết tật ít được kết nối việc làm thành công qua các trung tâm dịch vụ chính quy, dẫn đến tình trạng người khuyết tật sau đào tạo chủ yếu vẫn là tự tạo việc làm nhỏ lẻ, bấp bênh về thu nhập.
Ba là, rào cản hạ tầng và “di sản” của các công trình cũ. Trong khi các công trình mới thực hiện rất tốt chuẩn tiếp cận thì vẫn còn các công trình công cộng hiện hữu chưa được cải tạo đồng bộ; các hạng mục, như: ram dốc, tay vịn, khu vệ sinh dành cho người khuyết tật tại nhiều cơ sở cũ còn mang tính hình thức, chưa bảo đảm an toàn. Hệ thống vỉa hè tại một số khu vực lâu đời chưa bằng phẳng thiếu tín hiệu âm thanh và vạch kẻ đường chữ nổi, khiến việc di chuyển độc lập của người khiếm thị và người đi xe lăn trở thành “thử thách” thực sự. Điều này tạo ra sự chia cắt, khiến người khuyết tật khó tiếp cận đầy đủ các dịch vụ công và không gian văn hóa của thành phố.
Bốn là, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cập nhật dữ liệu biến động về người khuyết tật còn chậm và thiếu tính kết nối liên thông giữa các ngành Y tế, Giáo dục và Đào tạo. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc dự báo nhu cầu thực tế để thiết kế các chính sách hỗ trợ mang tính cá nhân hóa và hiệu quả cao.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về người khuyết tật; rà soát, kiến nghị điều chỉnh những quy định còn bất cập, chồng chéo; có cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia của khu vực ngoài Nhà nước đầu tư cho các mô hình phi lợi nhuận chăm sóc người khuyết tật, như: cung cấp quỹ đất sạch với giá thuê ưu đãi hoặc miễn phí cho các doanh nghiệp xây dựng trung tâm nuôi dưỡng, dạy nghề phi lợi nhuận; áp dụng mức thuế suất ưu đãi cao nhất cho các doanh nghiệp có lao động là người khuyết tật. Thành phố thực hiện cơ chế đấu thầu hoặc đặt hàng các tổ chức xã hội thực hiện các dịch vụ, như: dạy nghề chuyên biệt, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; tạo “luồng xanh” cho các hồ sơ thành lập cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập, giúp các nhà đầu tư tâm huyết dễ dàng tiếp cận và triển khai dự án liên quan đến quyền và lợi ích của người khuyết tật.
Thứ hai, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp liên ngành, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện; nâng cao vai trò tham mưu của cơ quan chuyên môn, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong công tác người khuyết tật; chuẩn hóa, cập nhật, khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu về người khuyết tật, bảo đảm kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tạo thuận lợi cho người khuyết tật trong tiếp cận chính sách.
Thứ ba, củng cố tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác người khuyết tật; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng, từng bước bố trí cán bộ chuyên trách; đồng thời, tăng cường huy động nguồn lực xã hội, khuyến khích khu vực ngoài Nhà nước tham gia đầu tư, phát triển các mô hình hỗ trợ, chăm sóc người khuyết tật. Kết hợp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và khen thưởng thực hiện thường xuyên, liên tục; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, lợi dụng chính sách đối với người khuyết tật; đồng thời, biểu dương, nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả, các gương người khuyết tật vượt khó và các tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong công tác trợ giúp người khuyết tật.
Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội, đổi mới nội dung, hình thức truyền thông về quyền, nghĩa vụ và chính sách đối với người khuyết tật; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong truyền thông góp phần xóa bỏ định kiến, tạo môi trường xã hội thân thiện, bình đẳng và hòa nhập đối với người khuyết tật. Từ đó, tiếp tục triển khai các hoạt động trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật, bảo đảm 100% người khuyết tật được tiếp cận ít nhất một dịch vụ xã hội cơ bản. Tăng cường công tác đầu tư, nâng cấp các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở phục hồi chức năng tại các cơ sở y tế; mở rộng mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng nhằm trợ giúp người khuyết tật toàn diện.
Thứ năm, quan tâm thực hiện các dự án hợp tác, xã hội hóa, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức quốc tế để hỗ trợ sinh kế và đào tạo nghề, nâng cao đời sống đối với người khuyết tật bằng việc tổ chức các phiên chợ việc làm cho người khuyết tật; phát huy vai trò của trung tâm giới thiệu việc làm là đầu mối đào tạo, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật.
4. Kết luận
Việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW trong thời gian qua đã tạo chuyển biến tích cực trong công tác đối với người khuyết tật tại thành phố Cần Thơ. Những kết quả đạt được không chỉ thể hiện tính nhân văn trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mà còn khẳng định quyết tâm của thành phố trong việc xây dựng một xã hội phát triển bao trùm, bảo đảm quyền và cơ hội cho người khuyết tật. Trong thời gian tới, thành phố Cần Thơ sẽ cùng cả nước thực hiện mục tiêu xây dựng mạng lưới an sinh xã hội bao phủ toàn dân đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 theo quan điểm ưu tiên các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế và đối tượng trong khu vực phi chính thức, mở rộng tín dụng chính sách xã hội phù hợp điều kiện, trình độ phát triển của Việt Nam “không để ai bị bỏ lại phía sau” như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV xác định.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ (2026). Báo cáo số 235-BC/TU ngày 10/3/2026 về tổng kết, đánh giá thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật.
Tài liệu tham khảo:
1. Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Triển khai nhiều chương trình, dự án bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. https://baocantho.com.vn/trien-khai-nhieu-chuong-trinh-du-an-bao-ve-cham-soc-va-giao-duc-tre-em-a145866.html, ngày 12/3/2026.



