Hiệu quả từ những mô hình giảm nghèo bền vững – Thực tiễn tại tỉnh Đồng Tháp

The impact of sustainable poverty reduction models – case study in Dong Thap province

ThS. Nguyễn Thanh Tuấn
Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp

(Quanlynhanuoc.vn)Giảm nghèo bền vững là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia. Thời gian qua, đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã tập trung đẩy mạnh các giải pháp phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân, thực hiện hiệu quả công tác giảm nghèo. Bài viết đánh giá những thành tựu đạt được và một số hạn chế, khó khăn trong công tác giảm nghèo bền vững ở tỉnh Đồng Tháp, qua đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn thời gian tới.

Từ khóa: Chương trình mục tiêu quốc gia; công tác giảm nghèo; giảm nghèo bền vững; tỉnh Đồng Tháp.

Abstract: Sustainable poverty reduction is one of the key priorities in implementing the National Target Programs. In recent years, the Party Committee, government, and people of Dong Thap Province have focused on promoting economic development solutions, increasing residents’ incomes, and effectively implementing poverty reduction efforts. This article evaluates achievements and identifies limitations and challenges in sustainable poverty reduction efforts in Dong Thap Province, and proposes key solutions to enhance the effectiveness of these initiatives in the region in the coming period.

Keywords: National Target Programs; poverty reduction efforts; sustainable poverty reduction; Dong Thap Province.

1. Đặt vấn đề

Đồng Tháp là tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ, là 1 trong 5 tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 5.939 km2, phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia với đường biên giới dài hơn 50 km; phía Nam giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp tỉnh An Giang; phía  Đông giáp TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh và Biển Đông với bờ biển dài 32 km.

Sau sáp nhập, tỉnh có 102 đơn vị hành chính cấp xã (82 xã và 20 phường); dân số 4.370.046 người (xếp thứ 7 toàn quốc), với 955.885 hộ. Cuối năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn hộ nghèo tiếp cận đa chiều của tỉnh là 0,93% với 8.858 hộ, hộ cận nghèo là 1,64% với 15.702 hộ; đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn hộ nghèo tiếp cận đa chiều của Tỉnh giảm còn 0,71% với 6.813 hộ, hộ cận nghèo là 1,41% với 13.490 hộ2. Hiện tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024.

2. Đồng Tháp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh

Một là, huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

Tổng vốn đầu tư phát triển được Trung ương phân bổ cho tỉnh Đồng Tháp hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025 là 6,563 tỷ đồng, đến cuối năm 2025 giải ngân đạt tỷ lệ 100%; tổng vốn đầu tư phát triển hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững từ ngân sách địa phương là 0,332 tỷ đồng, đến cuối năm 2025 giải ngân đạt 100%3.

Vốn sự nghiệp, tổng kinh phí sự nghiệp được Trung ương phân bổ cho tỉnh hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025 là 130,372 tỷ đồng, đến cuối năm 2025 giải ngân đạt 70%; tổng kinh phí sự nghiệp năm 2025 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững là 6,022 tỷ đồng, đến cuối năm giải ngân đạt 70%4.

Lũy kế tổng nguồn lực huy động để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 là 535,058 tỷ đồng, trong đó: vốn ngân sách Trung ương là 466,414 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương là 14,013 tỷ đồng, huy động cộng đồng là 54,631 tỷ đồng5.

Hai là, triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.

Qua triển khai thực hiện, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn hộ nghèo tiếp cận đa chiều của tỉnh năm 2024 là 0,93% với 8.858 hộ; hộ cận nghèo là 1,64% với 15.702 hộ; kết quả đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn hộ nghèo tiếp cận đa chiều của tỉnh giảm còn 0,71% với 6.813 hộ, hộ cận nghèo là 1,41% với 13.490 hộ (vượt mục tiêu năm 2025 và vượt mục tiêu giai đoạn 2021 – 2025)6.

Đạt được kết quả trên là nhờ tỉnh Đồng Tháp đã triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình, kế hoạch về giảm nghèo bền vững, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các điển hình tiên tiến, mô hình hiệu quả, cách làm hay trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

(1) Mô hình ”Làng thông minh”

Mô hình được xây dựng với định hướng lấy người dân làm trung tâm, doanh nghiệp làm động lực, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, nhằm mang lại những tiện ích thiết thực trên nền tảng công nghệ số. Sau thời gian triển khai, mô hình ”Làng thông minh” đã tạo ra chuỗi giá trị thiết thực và lan tỏa mạnh mẽ trên các khía cạnh, như:

Về kinh tế, doanh thu trực tuyến của các hộ, hợp tác xã tăng; các sản phẩm OCOP đều được quảng bá trên ít nhất một nền tảng số, sàn thương mại điện tử (như buudien.vn, voso.vn, shopee,…), trang thông tin điện tử của xã, trang thông tin điện tử của cơ sở sản xuất, các nền tảng mạng xã hội như facebook, tiktok, youtube…; góp phần hình thành kinh tế số nông thôn.

Về xã hội, người dân được trang bị kỹ năng số, chủ động tiếp cận công nghệ, thay đổi tư duy sản xuất – kinh doanh; đa số hộ tại mô hình sử dụng thanh toán điện tử hoặc ví điện tử.

Về quản trị, 100% làng thông minh trên địa bàn tỉnh có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành.

(2) Mô hình “Nông dân Đồng Tháp tái sử dụng rác thải sinh hoạt hữu cơ, phụ phẩm nông nghiệp tạo ra chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất” (gọi chung là mô hình IMO).

Mô hình được triển khai thí điểm từ năm 2023 tại huyện Châu Thành (trước đây) và nhân rộng ra nhiều địa phương trong tỉnh vào năm 2024. Mô hình đã thu hút hàng nghìn hộ nông dân tham gia sản xuất men vi sinh, phân hữu cơ và phân loại rác tại nguồn. Việc áp dụng phụ phẩm nông nghiệp giúp giảm mạnh chi phí đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và bảo đảm an toàn thực phẩm. Đồng thời, mô hình góp phần thay đổi tập quán sản xuất theo hướng sinh thái, giảm sử dụng hóa chất, hạn chế ô nhiễm môi trường. Mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội, môi trường và hỗ trợ xây dựng nông thôn mới bền vững, giúp giảm nghèo bền vững hơn.

(3) Mô hình chăn nuôi hươu sao – Mô hình kinh tế mới của Hợp tác xã Hươu Sao Tây Nam Bộ tại xã Lương Hòa Lạc, tỉnh Đồng Tháp.

Đây là mô hình nổi lên như một mô hình kinh tế mới đầy tiềm năng, tận dụng nguồn thức ăn có sẵn, đầu tư thấp, mang lại lợi nhuận cao, ít rủi ro và phát triển bền vững. Mô hình giúp hộ nghèo thoát nghèo hiệu quả, mô hình trở thành hướng đi làm giàu mới cho nông dân, giúp nhiều hộ dân thay đổi sản xuất, vươn lên khá giả, ổn định cuộc sống.

(4) Mô hình “Thu gom và xử lý phụ phẩm vỏ dừa khô” tại Công ty TNHH Chế Biến Dừa – Chỉ Xơ Dừa Tân Thuận Phát, Chợ Gạo, xã Tân Thuận Bình.

Việc tận dụng phụ phẩm vỏ dừa khô góp phần mang lại giá trị gia tăng cho ngành hàng dừa nói chung và mang lại giá trị gia tăng cho công ty từ việc chế biến dừa. Với công suất khởi điểm trên 2 tấn nguyên liệu/ngày đã mang lại lợi nhuận tăng thêm gần 2 tỷ đồng, lợi nhuận trung bình khoảng 50 triệu đồng/tháng. Mô hình giúp cung cấp nguồn phân ổn định cho các cơ sở sản xuất phân hữu cơ, cơ sở bán cây giống, các hộ trồng rau, màu… trên địa bàn trong và ngoài tỉnh. Đáng chú ý, chỉ sơ dừa còn được bán ra ngoài nước (Trung Quốc). Đây là mô hình mang tính bền vững cao, bên cạnh việc góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường, hạn chế nguồn rác thải, còn giúp giải quyết công ăn việc việc cho các ngành nghề có liên quan, giúp người lao động tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, giảm nghèo bền vững.

(5) Mô hình “Chăn nuôi dê sữa gắn với du lịch sinh thái và liên kết chế biến, tiêu thụ sản phẩm” của Hợp tác xã nông nghiệp Đông Nghi ở xã Long Hưng, với quy mô 200 con dê sữa

Mô hình ngoài việc giúp tăng giá trị ngành hàng, phát triển theo hướng khép kín, kết hợp sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm đạt chuẩn OCOP, ISO, còn gắn với phát triển du lịch sinh thái, thu hút hơn 3.000 lượt khách/năm, nâng cao giá trị gia tăng. Nhờ đó, mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao, lợi nhuận vượt trội so với chăn nuôi truyền thống.

(6) Mô hình “Chăn nuôi gà đẻ trứng đạt chứng nhận VietGAP theo chuỗi kết hợp thu gom chất thải từ chăn nuôi để sản xuất phân hữu cơ” tại Công ty TNHH Chăn nuôi gia cầm Năm Hưởng, xã Bình Ninh với quy mô 300.000 con

Việc triển khai mô hình giúp tăng năng suất, giảm chi phí và nhân công lao động. Hoạt động sản xuất gắn với chuỗi tiêu thụ ổn định, mang lại lợi nhuận cao, vượt hơn 56% so với phương thức truyền thống8 Đồng thời, việc tái sử dụng chất thải để sản xuất phân hữu cơ góp phần tăng thu nhập và giảm ô nhiễm môi trường, hướng đến phát triển bền vững.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững tại tỉnh Đồng Tháp còn một số hạn chế nhất định, như: việc triển khai thực hiện một số công trình/dự án và các nội dung liên quan đến nguồn vốn ngân sách hỗ trợ từ trung ương bị chậm trễ; tiến độ giải ngân kinh phí sự nghiệp ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững còn chậm; bên cạnh đó, định mức hỗ trợ thực hiện một số nội dụng (như: mức hỗ trợ tiền ăn cho đối tượng đào tạo nghề, mức hỗ trợ phát triển sản xuất…) thuộc Chương trình còn thấp, chưa phù hợp thực tế, chưa tạo động lực thu hút đối tượng tham gia nên đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và giải ngân kinh phí; nhiều công chức phụ trách cấp xã do mới tiếp nhận công việc mới nên còn gặp khó khăn trong ra soát, tổng hợp số liệu và các thông tin liên quan đến các Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững trên địa bàn.

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân như: (1) Năm 2025 là năm cả nước tập trung mọi nguồn lực triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, dẫn đến chậm trễ trong việc triển khai một số chương trình/dự án. (2) Một số nội dung hỗ trợ của Chương trình giảm nghèo không còn hoặc còn rất ít đối tượng hỗ trợ (như đối tượng đào tạo nghề, cải thiện dinh dưỡng, tham gia các lớp tập huấn về hỗ trợ phát triển sản xuất…). (3) Nhiều công chức cấp xã mới tiếp nhận công việc mới do sáp nhập tỉnh, xã và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. (4) Một số cấp ủy đảng, chính quyền ở cơ sở chưa thực sự tập trung trong lãnh đạo, chỉ đạo, huy động cả hệ thống chính trị và toàn xã hội vào cuộc.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững ở tỉnh Đồng Tháp

Một là, tiếp tục củng cố vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương và phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong công tác giảm nghèo bền vững. Thực tế cho thấy, nơi nào cấp ủy quan tâm sát sao thì hiệu quả giảm nghèo rõ rệt. Vì vậy, cần xác định đây không phải là nhiệm vụ ngắn hạn mà mang tính chất lâu dài, cần duy trì thường xuyên. Bên cạnh đó, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể cũng cần được phát huy theo hướng thực chất hơn, không chỉ dừng lại ở tuyên truyền mà phải tham gia hỗ trợ, giám sát, đồng hành với người dân trong quá trình thoát nghèo.

Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực cho giảm nghèo. Một số nội dung hỗ trợ hiện nay còn thấp hoặc chưa sát thực tế, nếu không điều chỉnh sẽ khó tạo động lực tham gia. Do đó, cần kiến nghị điều chỉnh cho phù hợp hơn, nhất là trong đào tạo nghề và hỗ trợ sản xuất. Mặt khác, việc giải ngân, đặc biệt là nguồn vốn sự nghiệp, cần được đẩy nhanh hơn, tránh tình trạng có vốn nhưng triển khai chậm. Song song đó, việc huy động nguồn lực xã hội cũng nên được chú trọng, không phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách.

Ba là, đẩy mạnh phát triển sinh kế bền vững, nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả gắn với chuyển đổi số và xây dựng nông thôn mới. Không phải mô hình nào cũng hiệu quả ở mọi địa bàn. Có thể địa bàn này áp dụng tốt, nhưng địa bàn khác lại không. Vì vậy, cần có sự chọn lọc khi áp dụng các mô hình. Những mô hình thành công, như “Làng thông minh”, mô hình IMO hay các mô hình sản xuất gắn với chuỗi giá trị, cần tiếp tục nhân rộng nhưng đi kèm với hỗ trợ kỹ thuật và thị trường. Ngoài ra, việc ứng dụng chuyển đổi số trong tiêu thụ sản phẩm đã có kết quả bước đầu; cần tiếp tục thúc đẩy nhưng theo lộ trình phù hợp với trình độ người dân.

Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo. Sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, không ít cán bộ, công chức còn lúng túng trong việc tiếp cận công việc, đặc biệt là khâu rà soát, quản lý số liệu. Do đó, cần tập huấn theo hướng “cầm tay chỉ việc”, tránh nặng về lý thuyết. Đồng thời, đào tạo nghề cho người dân cũng cần gắn sát hơn với nhu cầu thực tế, tránh tình trạng học xong nhưng khó áp dụng.

Năm là, đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và khơi dậy ý chí vươn lên thoát nghèo của người dân. Đẩy mạnh tuyên truyền về chủ trương, chính sách giảm nghèo theo hướng đa dạng, dễ tiếp cận; nhân rộng các điển hình tiên tiến, mô hình thoát nghèo bền vững. Chú trọng thay đổi tư duy, khắc phục tâm lý trông chờ, ỷ lại; phát huy tinh thần tự lực, chủ động vươn lên của người nghèo, coi đây là yếu tố quyết định đến hiệu quả giảm nghèo bền vững.

4. Kết luận

Công tác giảm nghèo bền vững theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều tại tỉnh Đồng Tháp thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực, rõ nét, thể hiện qua việc tỷ lệ hộ nghèo giảm và xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mang lại hiệu quả thực tế. Những kết quả này không chỉ đến từ nguồn lực đầu tư mà còn gắn với cách làm linh hoạt của địa phương trong tổ chức thực hiện. Tuy vậy, trong quá trình triển khai vẫn còn những điểm nghẽn nhất định, cần được xử lý kịp thời để không làm ảnh hưởng đến chất lượng giảm nghèo trong giai đoạn tới. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm tỷ lệ hộ nghèo về mặt số lượng, mà quan trọng hơn là bảo đảm tính bền vững. Điều này đòi hỏi sự điều chỉnh đồng bộ từ cơ chế chính sách, cách tổ chức thực hiện cho đến nâng cao vai trò chủ thể của người dân. Làm tốt các nội dung này, công tác giảm nghèo của tỉnh không chỉ duy trì kết quả hiện có mà còn có thể tạo ra chuyển biến rõ hơn trong thời gian tới.

Chú thích:
1. Đồng Tháp. https://vi.wikipedia.org, truy cập ngày 02/4/2025.
2, 3, 4, 5, 6, 7, 8. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp (2025). Báo cáo số 8766/BC-SNN&MT ngày 15/12/2025 đánh giá kết quả thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2025 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
Tài liệu tham khảo:
1. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025.
2. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 30/5/2025 về việc công nhận tỉnh Tiền Giang hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024.
3. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1360/QĐ-TTg ngày 26/6/2025 về việc công nhận tỉnh Đồng Tháp hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024.
4. Lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh chuyển đổi số và biến đổi khí hậu giai đoạn từ năm 2015 đến 2025.
https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/18/lanh-dao-xay-dung-nong-thon-moi-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-va-bien-doi-khi-hau-giai-doan-tu-nam-2015-2025/