The role of creative communities in enhancing household economic management capacity among H’Mong households in Lao Cai Province
ThS. Phùng Thị Ngọc Loan
Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu phân tích tác động của mô hình cộng đồng học tập sáng tạo đến năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình người H’Mông tại tỉnh Lào Cai trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững. Bằng phương pháp hỗn hợp qua khảo sát 330 hộ và phỏng vấn sâu, kết quả chỉ ra năng lực quản lý kinh tế hộ còn hạn chế, nhất là về tài chính, kết nối thị trường và ứng dụng số. Bài viết đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước, như: tăng cường đầu tư hạ tầng số, xây dựng khung năng lực quản lý kinh tế hộ và nâng cao hiệu quả các trung tâm học tập cộng đồng.
Từ khóa: Cộng đồng học tập sáng tạo; quản lý kinh tế hộ gia đình; người H’Mông; quản lý nhà nước; chuyển đổi số; Lào Cai.
Abstract: This study analyzes the impact of a creative community learning model on the economic management capacity of H’Mông households in Lao Cai province within the context of digital transformation and sustainable development. Using a blended approach through surveys of 330 households and in-depth interviews, the results indicate that household economic management capacity is limited, particularly in finance, market connectivity, and digital application. Based on this, the study proposes solutions to improve state management, such as increasing investment in digital technology, developing a framework for household economic management capacity, and enhancing the effectiveness of community learning centers.
Keywords: Innovative learning community; household economic management; H’Mông people; state management; digital transformation; Lào Cai.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam đang đặt mục tiêu giảm nghèo bền vững vùng dân tộc thiểu số thông qua phát triển nguồn nhân lực và xã hội học tập1. Tỉnh Lào Cai, nơi có nhiều đồng bào H’Mông sinh sống, xác định xây dựng trung tâm học tập cộng đồng là một trong các khâu đột phá để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sinh kế vùng cao. Tuy nhiên, khảo sát bước đầu cho thấy, người H’Mông vẫn gặp nhiều khó khăn trong lập kế hoạch tài chính hộ, quản lý rủi ro và kết nối thị trường2. Bên cạnh đó, vai trò của mô hình cộng đồng học tập tích hợp kỹ thuật số và học tập ngang hàng trong nâng cao năng lực hộ dân còn thiếu bằng chứng khoa học. Khoảng trống nghiên cứu chính bao gồm: (1) Chưa xác định rõ vấn đề nghiên cứu thành thạo (câu hỏi, giả thuyết); (2) Chưa định nghĩa định lượng rõ “năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình” và khái niệm “cộng đồng học tập sáng tạo”3; (3) Phương pháp nghiên cứu chưa minh bạch (cỡ mẫu, chọn mẫu, kiểm định thang đo chưa nêu); (4) Kết quả định lượng và định tính bị pha trộn, ít tập trung vào năng lực hộ; (5) Thiếu phân tích vai trò quản lý nhà nước ở các cấp; (6) Tài liệu tham khảo thiếu chính thống và chưa đầy đủ.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đặt ra câu hỏi: Cộng đồng học tập sáng tạo có vai trò thế nào trong phát triển năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình của người H’Mông, và chính quyền địa phương cần có giải pháp quản lý gì để tăng cường hiệu quả mô hình này? Các giả thuyết cụ thể được kiểm định: H1) Hộ tham gia thường xuyên (Community Learning Centres-CLC sáng tạo có năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình cao hơn nhóm không tham gia (ANOVA); H2) Thang đo năng lực có độ tin cậy và tính hợp lý (Cronbach, KMO/Bartlett, EFA). Kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp bằng chứng định lượng minh chứng cho vai trò của trung tâm học tập cộng đồng sáng tạo trong phát triển sinh kế dân tộc thiểu số; đồng thời, đề xuất khuyến nghị chính sách quản lý nhà nước phù hợp (gồm chính sách, công cụ tài chính, cơ chế phối hợp liên ngành và giám sát – đánh giá).
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình
Năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình được hiểu là khả năng của chủ hộ và các thành viên trong việc tổ chức, điều hành và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của hộ gia đình nhằm bảo đảm ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập và phát triển bền vững. Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế thị trường, năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình không chỉ gắn với hoạt động sản xuất mà còn liên quan đến khả năng tiếp cận thông tin, quản lý rủi ro và ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh tế hộ gia đình.
Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu về kinh tế hộ, sinh kế bền vững và phát triển cộng đồng dân tộc thiểu số, nghiên cứu xác định năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình gồm 5 thành tố cơ bản: (1) Năng lực lập kế hoạch và quản lý tài chính là khả năng xây dựng kế hoạch thu chi, tiết kiệm, phân bổ vốn và quản lý tài chính hộ gia đình một cách hợp lý; (2) Năng lực quản lý sản xuất – kinh doanh là khả năng tổ chức sản xuất, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào và theo dõi hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; (3) Năng lực kết nối thị trường là khả năng tiếp cận thông tin thị trường, tìm kiếm đầu ra sản phẩm và tham gia các hoạt động liên kết tiêu thụ hàng hóa; (4) Năng lực quản trị rủi ro là khả năng nhận diện, phòng ngừa và ứng phó với các rủi ro về thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường trong quá trình sản xuất và tiêu dùng; (5) Năng lực ứng dụng công nghệ số là khả năng sử dụng điện thoại thông minh, internet và các nền tảng số trong tiếp cận thông tin, quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, hiệu quả kinh tế hộ gia đình phụ thuộc chặt chẽ vào năng lực tổ chức sản xuất, quản lý tài chính và tiếp cận thông tin của chủ hộ4. Trong bối cảnh chuyển đổi số, năng lực số và khả năng học tập liên tục đang trở thành những yếu tố quan trọng đối với phát triển kinh tế hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng hệ thống thang đo gồm 25 biến quan sát tương ứng với năm nhóm năng lực nêu trên để phục vụ khảo sát và phân tích định lượng.
2.2. Cộng đồng học tập sáng tạo
UNESCO định nghĩa các Trung tâm học tập cộng đồng là các không gian học tập linh hoạt, đa dạng hoạt động phi chính quy, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân5. Trong bài viết, “Cộng đồng học tập sáng tạo” được hiểu là mô hình Trung tâm học tập cộng đồng truyền thống được tích hợp công nghệ số và học tập ngang hàng, kết hợp giữa đào tạo kiến thức – kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm bản địa để phát triển năng lực kinh tế xã hội người dân6.
Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, Trung tâm học tập cộng đồng thường tập trung vào cung cấp kỹ năng sống, kỹ thuật sản xuất và tăng cường tham gia cộng đồng. Ví dụ, các trung tâm học tập cộng đồng số ở Thái Lan, Philippines đã giúp nông dân nâng cao kỹ thuật canh tác bền vững, quản lý tài chính hộ và bán hàng trực tuyến. Bất chấp địa bàn nông thôn, Trung tâm học tập cộng đồng được đánh giá là nhân tố quan trọng trong phát triển năng lực địa phương: chúng liên kết cộng đồng, khuyến khích người dân học tập lẫn nhau và huy động nguồn lực địa phương (vgl. UIL, UNESCO)7. Những nghiên cứu trường hợp của UNESCO tại châu Phi cho thấy: trung tâm học tập cộng đồng rất phù hợp với vùng nông thôn, người dân tham gia chủ động (người giỏi dạy người kém), nhưng lại thường thiếu tài chính bền vững và cần hỗ trợ chính sách mạnh từ chính phủ8.
Tại Việt Nam, chính sách giáo dục – đào tạo đã khuyến khích xây dựng xã hội học tập. Đặc biệt, các Quyết định của Thủ tướng như Quyết định số 1373/QĐ-TTg (2021) phê duyệt Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021- 20309 và Quyết định số 1719/QĐ-TTg (2021) về phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số10 đều xác định học tập suốt đời, học tập cộng đồng là giải pháp giảm nghèo bền vững. Báo Lào Cai (2025) đưa tin Lào Cai phấn đấu đến 2030, 100% trung tâm học tập cộng đồng có đủ nhân lực tổ chức hoạt động và 90% có thư viện cộng đồng, Wifi miễn phí phục vụ học tập11.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (hỗn hợp định lượng và định tính) để vừa đánh giá thực trạng định lượng, vừa phân tích định tính bối cảnh triển khai.
Khảo sát định lượng: tiến hành năm 2024, thu thập dữ liệu từ 330 hộ gia đình người H’Mông tại các xã thuộc 5 huyện (Sa Pa, Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Bát Xát). Mẫu được lựa chọn theo phương pháp phân tầng kết hợp thuận tiện, ưu tiên các nơi có triển khai mô hình học tập cộng đồng trong vòng 3 năm qua. Hộ tham gia khảo sát được phân thành ba nhóm: Thường xuyên tham gia CLC (≥1 lần/tuần), Thỉnh thoảng tham gia (<1 lần/tuần), và Không tham gia. Bảng hỏi gồm 25 câu trong năm nhóm năng lực như trên, sử dụng thang đo Likert 5 điểm (1=rất yếu đến 5=rất tốt). Trước khi khảo sát, bộ câu hỏi được thử nghiệm (pilot) với 30 hộ để kiểm định nội dung và độ tin cậy; hệ số Cronbach’s Alpha khởi đầu >0,7 cho mỗi nhóm biến quan sát.
Dữ liệu thu thập được nhập và xử lý bằng SPSS 26.0. Trước tiên, kiểm định Cronbach’s Alpha cho từng nhóm câu hỏi (tất cả ≥0,75) và kiểm định KMO (0,82) với mức ý nghĩa <0,001 (kiểm định Bartlett) cho thấy dữ liệu phù hợp phân tích nhân tố (FA). Tiếp đó, áp dụng Phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định cấu trúc của năm thành tố năng lực đã giả định, đánh giá % độ biến thiên của toàn bộ dữ liệu và hệ số tải nhân tố của các biến. Cuối cùng, phương pháp Phân tích phương sai ANOVA được dùng để so sánh điểm trung bình năng lực giữa các nhóm hộ (F-test, mức ý nghĩa p<0,05).
Khảo sát định tính: thực hiện 25 phỏng vấn sâu (semi-structured) với các chủ thể liên quan: cán bộ văn hóa – dân tộc cấp xã, cán bộ trung tâm học tập cộng đồng, trưởng bản, trưởng nhóm học tập cộng đồng tại bản, và đại diện tổ chức phi chính phủ hỗ trợ. Nội dung phỏng vấn tập trung vào: (1) đánh giá chất lượng hoạt động Trung tâm học tập cộng đồng và sự tham gia của dân; (2) tác động của CLC đến năng lực hộ gia đình (qua các ví dụ cụ thể); (3) khó khăn, rào cản và đề xuất giải pháp. Các cuộc phỏng vấn được ghi âm, mã hóa theo chủ đề và mã ngôn ngữ; ghi chép được mã hóa dưới dạng máy, giải mã và phân tích theo phương pháp nội dung (Content Analysis).
Ngoài ra, nghiên cứu còn phân tích tài liệu văn bản chính sách liên quan (Quyết định số 1373/QĐ-TTg, Quyết định số 1719/QĐ-TTg, Quyết định số 1716/QĐ-TTg, các kế hoạch của tỉnh Lào Cai và các báo cáo chuyên đề, thống kê về dân tộc, giảm nghèo do Tổng cục Thống kê năm 2020 thực hiện). Tất cả số liệu và chứng cứ định tính có nguồn xác thực; nghiên cứu đối chiếu số liệu trong hồ sơ với báo cáo địa phương và các báo cáo chương trình/lĩnh vực có liên quan.
4. Kết quả đánh giá thực trạng
4.1. Tính tin cậy và cấu trúc thang đo
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho các nhóm biến thuộc mỗi thành tố năng lực như sau:
| Thành tố | Số biến | Cronbach’s Alpha |
| Lập kế hoạch & QL tài chính | 5 | 0,81 |
| QL sản xuất – kinh doanh | 5 | 0,79 |
| Kết nối thị trường | 5 | 0,77 |
| QL rủi ro | 5 | 0,75 |
| Ứng dụng công nghệ số | 5 | 0,78 |
Tất cả hệ số Alpha ≥0,75 (trong đó nhiều thang >0,8), cho thấy, thang đo đáng tin cậy trong nghiên cứu này (ngưỡng đáng tin cậy lý thuyết >0,7). Hệ số KMO tổng thể = 0,82 (Bartlett’s test p<0,001) phản ánh dữ liệu đủ điều kiện cho EFA. Phân tích nhân tố khám phá giữ lại 5 nhân tố tương ứng với 5 thành tố, tổng cộng giải thích 62,4% phương sai biến thiên.
Kết quả EFA khẳng định tính hợp lệ cấu trúc: năm nhân tố năng lực có ý nghĩa thống kê, phù hợp với lý thuyết đặt ra. Do đó, các biến quan sát trên được nhóm tương ứng và tính điểm trung bình từng nhóm năng lực cho mỗi hộ.
4.2. Thực trạng năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình của người H’Mông
Điểm trung bình chung (trên thang 5) của các hộ khảo sát cho từng thành tố năng lực nằm trong khoảng 2,5-3,8, tức mức trung bình xuống (dưới 4) cho thấy, hầu hết hộ chưa mạnh về năng lực quản lý kinh tế. Cụ thể: có 68,4% hộ không ghi chép thu chi thường xuyên; 57,2% hộ chưa xây được kế hoạch tài chính đầu tư sản xuất cho cả năm. Trong quản lý rủi ro, 62% hộ không tham gia các tổ bảo hiểm nông nghiệp hoặc tiết kiệm dự phòng. Về kết nối thị trường, khoảng 70% hộ chủ yếu bán nông sản qua thương lái trung gian, chưa trực tiếp tìm kiếm kênh phân phối; chỉ 18% hộ thường xuyên sử dụng điện thoại thông minh để quảng bá sản phẩm qua mạng xã hội hoặc chợ điện tử.
Kết quả này tương thích với phân tích của Tổng cục Thống kê (năm 2020): 12 hộ dân tộc thiểu số ít tiếp cận tín dụng và các dịch vụ tài chính (điều kiện gây khó khăn cho việc nâng cao năng lực tài chính), và thực trạng chợ truyền thống vẫn chiếm ưu thế ở vùng cao. Ngoài ra, khả năng ứng dụng công nghệ số có xu hướng tăng theo từng thế hệ: nhóm dưới 35 tuổi có tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh trên 80%, trong khi nhóm trên 45 tuổi chỉ khoảng 40%. Điều này cho thấy khoảng cách thế hệ sẽ là yếu tố quan trọng trong quá trình chuyển đổi số tại cộng đồng H’Mông.
4.3. Vai trò của mô hình cộng đồng học tập sáng tạo
So sánh theo nhóm tham gia Trung tâm học tập cộng đồng cho thấy, nhóm hộ tham gia thường xuyên có năng lực trung bình ở tất cả năm thành tố cao hơn đáng kể so với nhóm không tham gia (ANOVA, p<0,05). Ví dụ, điểm trung bình lập kế hoạch tài chính của nhóm tham gia cao hơn 15% so với nhóm không tham gia; tương tự, điểm kết nối thị trường của nhóm tham gia cao hơn 18% (xem Hình 1). Điều này xác nhận vai trò tích cực của mô hình cộng đồng học tập kết hợp “học đi đôi với làm” (học kỹ thuật trồng rau sạch, khuyến nông; học tài chính cơ bản; hướng dẫn sử dụng smartphone, ứng dụng thị trường điện tử…).
Hình 1. Sự khác biệt năng lực quản lý kinh tế hộ theo nhóm tham gia học tập cộng đồng

Các trung tâm học tập cộng đồng ở Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát đã triển khai nội dung gắn kết giữa học và ứng dụng: ví dụ lớp học liên xã “Kỹ thuật trồng rau an toàn”, “Học bán hàng online”, hay mô hình chợ phiên sinh kế nơi nông dân người H’Mông mang sản phẩm đến học hỏi, trao đổi ngay tại chợ. Các lớp học tập ngang hàng (phi chính quy) do trưởng bản hoặc nông dân sản xuất giỏi hướng dẫn giúp học viên nắm bắt thực tiễn. Những nông dân tham gia liên tục mô tả: “Anh A. là trưởng bản nông dân sản xuất giỏi, mỗi tháng mở một lớp ở nhà để dân học cách ủ phân hữu cơ, rồi bán sang Trung Quốc…”. Như UNESCO ghi nhận: Các trung tâm học tập cộng đồng linh hoạt, phi chính quy và phục vụ nhu cầu địa phương13, và sự tham gia của cộng đồng (dân chủ cơ sở) là chìa khóa giúp mô hình phù hợp với văn hóa và nhu cầu sinh kế của vùng dân tộc thiểu số14.
4.4. Hạn chế và thách thức
Mặc dù tích cực, mô hình trung tâm học tập cộng đồng sáng tạo trong cộng đồng người H’Mông vẫn gặp nhiều khó khăn. Phỏng vấn cho thấy: (1) Ngôn ngữ và trình độ học vấn: nhiều tài liệu học tập vẫn tiếng phổ thông, người già ít biết chữ, nên hiệu quả tiếp thu kiến thức thấp; (2) Hạ tầng số: Internet di động ở vùng cao chậm, thiếu thiết bị, cản trở các hoạt động học trực tuyến hay truyền thông số; (3) Tài chính và nhân sự: Các trung tâm Trung tâm học tập cộng đồng còn thiếu kinh phí hoạt động, nhân viên (cộng tác viên) thường không chuyên; hoạt động chủ yếu dựa vào vốn chương trình, chưa bền vững; (4) Cơ chế phối hợp: Các sở Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Ủy ban Dân tộc còn chưa kết nối chặt chẽ. Ví dụ, Sở Giáo dục và Đào tạo cấp kinh phí tổ chức lớp học ban đêm cho lao động lớn tuổi, Sở Nông nghiệp hỗ trợ giống cây trồng, nhưng hiếm khi có diễn đàn liên ngành đánh giá hiệu quả tổng thể. Thiếu bộ tiêu chí và hệ thống dữ liệu theo dõi năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình cũng làm chính quyền cơ sở khó đánh giá hiệu quả mô hình qua từng năm.
5. Thảo luận
Kết quả nghiên cứu khẳng định, cộng đồng học tập sáng tạo không đơn thuần là một mô hình giáo dục phi chính quy, mà đã trở thành công cụ quản trị phát triển địa phương hữu hiệu. Thông qua các trung tâm học tập cộng đồng, người dân được trao quyền, nâng cao năng lực tự quản và chủ động ứng dụng tri thức vào quản trị kinh tế hộ. Từ góc độ quản trị nhà nước, để mô hình này phát huy tối đa giá trị, việc hoàn thiện đồng bộ bốn nhóm điều kiện cốt lõi là yêu cầu cấp thiết.
Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam chuyển sang vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã)15. Điều này có nghĩa ủy ban nhân dân cấp xã cùng trung tâm học tập cộng đồng sẽ trực tiếp chịu trách nhiệm triển khai, giám sát mô hình. Chính phủ cũng phân quyền rõ ràng giữa Hội đồng và UBND cấp tỉnh, chuẩn hóa chức năng phòng ban (cộng tác viên dân tộc, cán bộ khuyến học) để đẩy mạnh hoạt động trung tâm học tập cộng đồng16.
Việc thiết lập chính quyền 2 cấp đặt ra yêu cầu: cần nhanh chóng hướng dẫn phân cấp, ủy quyền rõ ràng cho UBND xã và trung tâm học tập cộng đồng (trước đây là UBND xã quản lý) sao cho phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương mới17. Công cụ quản lý – tài chính: cần tạo khung tiêu chí đánh giá năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình làm cơ sở cấp kinh phí; xây dựng nguồn vốn hỗ trợ (ngân sách địa phương và các nguồn phi chính phủ). Như UNESCO lưu ý, vấn đề “tài chính bền vững” thường là thách thức lớn của trung tâm học tập cộng đồng, đòi hỏi nguồn lực hỗ trợ từ NGOs và hợp tác xã18.
Việc lồng ghép trung tâm học tập cộng đồng trong các chương trình giảm nghèo và đào tạo nghề có thể mở kênh tài chính mới. Hệ thống M&E số: theo khuyến nghị từ Báo cáo của UNESCO (2017) nghiên cứu trung tâm học tập cộng đồng ở châu Á, các nước đang xây dựng bộ chỉ số theo dõi để đo lường tác động trung tâm học tập cộng đồng đến các mục tiêu xã hội – kinh tế. Tại Việt Nam, nên bổ sung chỉ tiêu (ví dụ: % hộ có năng lực quản lý kinh tế đạt chuẩn) trong báo cáo xã hội học tập hoặc chương trình mục tiêu quốc gia. Tận dụng dữ liệu từ Cổng thông tin dân tộc, Bộ có thể xây dựng dashboard trực tuyến để giám sát thay đổi năng lực hộ sau can thiệp.
Nhìn một cách tổng thể, mô hình trung tâm học tập cộng đồng sáng tạo sở hữu tiềm năng to lớn trong việc thay đổi triết lý hỗ trợ giảm nghèo: chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “ban phát tri thức” sang “kiến tạo môi trường để người dân tự học và tự chủ”. Muốn vậy, cần định vị trung tâm học tập cộng đồng như một thiết chế quản trị học tập tại cộng đồng – nơi vừa có năng lực tự đánh giá chất lượng đào tạo, vừa đóng vai trò cầu nối, phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức du lịch để tìm đầu ra cho sản phẩm của học viên. Định hướng này hoàn toàn thống nhất với tinh thần của Báo cáo tổng kết Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 – 2025, đó là chuyển trọng tâm từ “phổ cập kiến thức” thuần túy sang “tăng cường năng lực chủ thể” cho cả người học lẫn đội ngũ quản lý tại cơ sở.
6. Kết luận
Nghiên cứu khẳng định mô hình cộng đồng học tập sáng tạo có vai trò tích cực trong phát triển năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình của đồng bào H’Mông tại tỉnh Lào Cai. Kết quả khảo sát cho thấy, các hộ tham gia thường xuyên vào hoạt động học tập cộng đồng có mức độ cải thiện rõ hơn về quản lý tài chính, tiếp cận thị trường, ứng dụng công nghệ số và tổ chức sinh kế hộ gia đình.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, trung tâm học tập cộng đồng đang dần chuyển từ chức năng xóa mù chữ và giáo dục thường xuyên truyền thống sang hỗ trợ phát triển năng lực kinh tế xã hội cho người dân vùng dân tộc thiểu số. Điều này phù hợp với định hướng xây dựng xã hội học tập và phát triển nguồn nhân lực cộng đồng trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững hiện nay.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển mô hình cộng đồng học tập sáng tạo tại địa phương, gồm: hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa giáo dục, lao động, nông nghiệp và công tác dân tộc; xây dựng khung năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình làm căn cứ thiết kế chương trình học tập cộng đồng; nâng cao năng lực tổ chức hoạt động cho đội ngũ phụ trách trung tâm học tập cộng đồng cấp cơ sở; tăng cường đào tạo kỹ năng số cho người dân vùng cao; hoàn thiện cơ chế tài chính bảo đảm tính bền vững của mô hình; xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý hoạt động học tập cộng đồng.
Chú thích:
1, 9. Chính phủ (2021). Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021 phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 – 2030”.
2, 11. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng. https://baolaocai.vn/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-cac-trung-tam-hoc-tap-cong-dong-post767309.html, ngày 17/3/2925.
3, 4, 5, 13, 18. UIL UNESCO (2021). Community Learning Centers (CLCs) as inclusive non-formal learning spaces… UNESCO Institute for Lifelong Learning.
6, 7, 8, 14. UNESCO Institute for Lifelong Learning (2021). Community learning centers as inclusive non-formal learning spaces. Hamburg, Germany: UNESCO Institute for Lifelong Learning.
10. Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030.
12. Tổng cục Thống kê (2020). Kết quả điều tra thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. H. NXB Thống kê.
15, 16, 17. Chính thức xác lập mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp thống nhất trên cả nước. https://nhandan.vn/chinh-thuc-xac-lap-mo-hinh-to-chuc-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-thong-nhat-trong-ca-nuoc-post887165.html.
Tài liệu tham khảo
1. Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai (2024). Báo cáo hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng giai đoạn 2022 – 2024.
2. UNESCO Việt Nam (2023). Trung tâm học tập cộng đồng tại Việt Nam: Đổi mới và hòa nhập. Hà Nội.
3. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2022, 2023, 2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội và công tác dân tộc năm 2022, 2023, 2024.
4. Lê, Q. H. (2020). Nâng cao năng lực quản lý hộ gia đình dân tộc thiểu số thông qua đào tạo nghề. Kỷ yếu Hội nghị Phát triển kinh tế Tây Bắc, tr. 89-98.
5. Mai, T. T. X., & Đặng, T. T. H. (2013). Phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Kinh tế và Kinh doanh, 29(3), tr. 1-9.
6. Nguyễn, V. H., & Trần, T. M. (2021). Phát triển năng lực quản lý kinh tế của hộ gia đình dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, 39 (4), tr. 112-125.
7. Trần, N. K., & Vũ, P. H. (2023). Ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng lực của hộ gia đình dân tộc thiểu số ở Lào Cai. Tạp chí Nghiên cứu Phát triển, 295(1), tr. 75-89.



