China’s experience in increasing university revenue in the digital age and implications for Vietnam
TS. Phùng Thị Thu Trang
Trường Đại học Thương mại
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đối với các trường đại học Việt Nam ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của Chính phủ, xã hội. Trước mắt, việc chuyển đổi số trong giáo dục đại học Việt Nam còn đang tập trung chủ yếu vào khâu số hóa tài liệu, nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ, mở rộng ứng dụng công nghệ trong dạy và học… Việc mở rộng nguồn thu từ công tác giảng dạy, nghiên cứu dựa trên nền tảng chuyển đổi số còn nhiều hạn chế. Trên cơ sở lý luận về kinh tế giáo dục đạo học trong kỷ nguyên số kết hợp với việc tổng hợp kinh nghiệm của Trung Quốc – quốc gia đã đạt được những thành công nhất định trong chuyển đổi số đối với giáo dục đại học, bài viết rút ra một số gợi ý về chính sách tạo điều kiện cho các trường đại học mở rộng hoạt động đào tạo, chuyển giao công nghệ từ đó mở rộng nguồn thu trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: Giáo dục đại học; chuyển đổi số; Trung Quốc; Việt Nam.
Abstract: Digital transformation in Vietnamese universities is increasingly attracting attention from the government and society. Currently, digital transformation in Vietnamese higher education remains primarily focused on digitizing materials, improving internal governance, and expanding technology use in teaching and learning. Expanding revenue sources from teaching and research activities through digital transformation still faces significant limitations. Drawing on the theoretical framework of educational economics in the digital age and analyzing China’s experience – a country that has achieved significant success in digital transformation within higher education, this article offers several policy recommendations to facilitate universities’ expansion of training activities and technology transfer, thereby broadening revenue streams in the digital era.
Keywords: Higher education, digital transformation, China, Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng của nước ta đang nhận được nhiều sự quan tâm của Chính phủ và xã hội. Việt Nam đã xác lập những nền tảng quan trọng về chính sách để thúc đẩy kinh tế giáo dục số qua việc ban hành các quyết định chiến lược, như: Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, và Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2025, định hướng đến năm 2030. Những văn bản này không chỉ định hướng giáo dục là một trong tám lĩnh vực ưu tiên mà còn tạo ra nhận thức mới cho toàn hệ thống đại học. Trong đó, đã nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2025, 100% các cơ sở giáo dục đại học triển khai đào tạo trực tuyến ở một số ngành, nghề phù hợp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng và đưa vào khai thác cơ sở dữ liệu toàn ngành từ mầm non đến phổ thông từ năm 2018, đã số hóa thông tin của 50.000 cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu hồ sơ học sinh, trên 1,7 triệu hồ sơ giáo viên, trên 115.000 hồ sơ cán bộ quản lý và người lao động, đồng thời kết nối, định danh, xác thực, làm giàu cho cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khoảng 24,3 triệu hồ sơ công dân (là giáo viên, học sinh); tiếp tục xây dựng và triển khai cơ sở dữ liệu đại học (HEMIS), đã số hóa 470 cơ sở đào tạo, hơn 177.000 hồ sơ cán bộ, giảng viên, người lao động, hơn 4 triệu hồ sơ người học, 34.000 chương trình đào tạo, 9.000 thông tin ngành đào tạo, 44.000 thông tin nhiệm vụ khoa học công nghệ và hơn 117.000 bài báo công bố trong nước.
Cũng theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023), đã có 100% các cơ sở giáo dục đại học triển khai các phần mềm quản lý đào tạo và bước đầu số hóa cơ sở dữ liệu sinh viên. Tỷ lệ giảng viên có khả năng sử dụng thành thạo các công cụ giảng dạy trực tuyến đã tăng lên trên 90% sau đại dịch Covid-19. Theo Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia 2023 do Bộ Thông tin và Truyền thông công bố, có đến 87% các trường đại học công lập đã triển khai hệ thống quản lý học tập (LMS) và phần mềm hỗ trợ học trực tuyến, như Moodle, Canvas, Microsoft Teams hay Google Classroom. Nhiều trường đại học đã phát triển các nền tảng nội bộ tích hợp quản lý đào tạo, chấm điểm, theo dõi tiến độ học tập và tương tác giữa giảng viên – sinh viên, như Đại học FPT, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Bách Khoa Hà Nội…
Một số trường đại học đã hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn trong và ngoài nước để xây dựng hạ tầng số và đào tạo nhân lực số như mô hình của Đại học Bách khoa Hà Nội và Viettel, FPT; Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và FPT; Vin University và Microsoft, Google…
Chuyển đổi số tại các trường đại học Việt Nam hiện nay chủ yếu được thể hiện qua những việc như đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ, mở rộng ứng dụng công nghệ trong giảng dạy, quản trị nội bộ, lưu trữ dữ liệu, phát triển học liệu số… Việc khai thác nguồn thu từ các sản phẩm giáo dục trên nền tảng chuyển đổi số vẫn còn hạn chế.
2. Một số cơ sở lý luận về kinh tế giáo dục kỷ nguyên số
Khái niệm về chuyển đổi số trong giáo dục được các tổ chức quốc tế nhìn nhận là quá trình gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là số hóa thông tin (Digitization), là quá trình chuyển đổi các dạng dữ liệu truyền thống sang định dạng số. Giai đoạn thứ hai là số hóa quy trình (Digitalization), là giai đoạn sử dụng công nghệ số để cải thiện hoặc tối ưu hóa các quá trình công việc. Giai đoạn ba là chuyển đổi số (Digital Transformation), là một loạt các thay đổi về văn hóa, lực lượng lao động và công nghệ nhằm thay đổi mô hình hoạt động của cơ sở đào tạo để tạo ra các giá trị mới và trải nghiệm cho người học. Theo quan điểm của UNESCO, chuyển đổi số là sử dụng công nghệ để thúc đẩy công bằng trong giáo dục và học tập suốt đời, biến giáo dục thành hệ sinh thái mở, không bị giới hạn về không gian và thời gian.
Nguồn thu của các trường đại học trong kỷ nguyên số không còn bó hẹp trong việc phân bổ ngân sách hay thu học phí mà đã chuyển dịch sang mô hình kinh tế dựa trên tri thức số. Theo Martin Carnoy (2013), giáo dục trong nền kinh tế toàn cầu hóa là một quá trình đầu tư vào vốn nhân lực thông qua các nền tảng công nghệ để tối ưu hóa năng suất. Trong bối cảnh hiện đại, kinh tế giáo dục đại học số được định nghĩa là sự tích hợp giữa các nguồn lực tài chính truyền thống và khả năng khai thác giá trị từ các “tài sản số” (Digital Assets). Min Weifang (2006), học giả hàng đầu về kinh tế giáo dục tại Trung Quốc, cũng nhấn mạnh rằng sự phát triển của giáo dục đại học không chỉ là dịch vụ công mà còn là động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc tạo ra các giá trị thặng dư từ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo số.
Trong tác phẩm nổi tiếng “The Zero Marginal Cost Society” (2014), Jeremy Rifkin lập luận rằng, công nghệ số cho phép sản xuất và phân phối thông tin với chi phí biên gần bằng không. Áp dụng vào giáo dục đại học, khi một khóa học trực tuyến (MOOCs) được xây dựng hoàn chỉnh, chi phí để phục vụ thêm một sinh viên thứ 1.001 hay 1.000.000 là không đáng kể. Điều này tạo ra “Hiệu quả kinh tế theo quy mô” (Economies of Scale) mà các mô hình giáo dục truyền thống không thể đạt được (Laurillard, 2002). Ngoài ra, việc số hóa quy trình quản trị còn giúp cắt giảm các chi phí giao dịch và chi phí vận hành gián tiếp, giúp các trường đại học tối ưu hóa biên lợi nhuận để tái đầu tư.
Trong nền kinh tế số, tài sản quan trọng nhất của trường đại học là vốn trí tuệ. Theo mô hình của Stewart (1997) và sau này được Secundo et al. (2018) phát triển cho bối cảnh chuyển đổi số, vốn trí tuệ số bao gồm ba thành phần: vốn con người (năng lực số của giảng viên); vốn cấu trúc (hệ thống dữ liệu, bản quyền phần mềm) và vốn quan hệ (mạng lưới kết nối số với doanh nghiệp). Khi tri thức được số hóa, nó trở thành một loại hàng hóa có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển giao và thương mại hóa. Việc quản trị hiệu quả nguồn vốn này giúp các trường đại học chuyển từ mô hình “chi phí” sang mô hình “tạo giá trị”, biến dữ liệu lớn (Big Data) và sở hữu trí tuệ thành nguồn thu nhập bền vững thông qua cấp phép và khởi nghiệp đại học.
3. Kinh nghiệm khai thác nguồn thu từ các sản phẩm giáo dục đại học trên nền tảng số của Trung Quốc
3.1. Chính phủ chủ trì xây dựng, triển khai quy hoạch, thống nhất quản lý “sân chơi”
Trung Quốc xây dựng hệ thống dịch vụ công giáo dục thông minh quốc gia gồm tất cả các lĩnh vực giáo dục, như: giáo dục phổ thông (cung cấp các bài giảng chuẩn quốc gia từ lớp 1 đến lớp 12); giáo dục nghề nghiệp (tập trung vào các kỹ năng thực hành và đào tạo kỹ thuật); giáo dục đại học (kết nối với các nền tảng, như: XuetangX, icourse163.org, cung cấp hàng chục nghìn khóa học trực tuyến mở đại chúng (Massive Open Online Courses – MOOC)).
Icourse163.org là nền tảng cung cấp bài giảng bậc đại học quy mô lớn nhất Trung Quốc, do Bộ Giáo dục Trung Quốc phối hợp cùng Tập đoàn công nghệ Netase phát triển, quy tụ chương trình học chất lượng của hơn 1800 trường đại học Trung Quốc, như Thanh Hoa, Bắc Kinh, Phúc Đán, Giao Thông Thượng Hải… Số khóa học vượt quá 50.000, 13 ngành học đại học, 92 chuyên ngành, trong đó có hơn 20.000 khóa học.
XuetangX (学堂在线 – Học đường trực tuyến) là nền tảng học tập trực tuyến được Đại học Thanh Hoa phát triển,ra mắt từ tháng 10/2013, được coi là trọng tâm trong chiến lược số hóa giáo dục đại học của Trung Quốc. Đây là nền tảng được vận hành dưới sự giám sát, hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu giáo dục trực tuyến thuộc Bộ Giáo dục Trung Quốc.
Tính đến năm 2025, lượng người học toàn cầu đã vượt 140 triệu, đứng thứ nhất tại châu Á, thứ hai toàn cầu, phủ khắp hơn 200 quốc gia và khu vực. Lượng lượt người đăng ký môn học đạt 1 tỷ 250 triệu; nền tảng đã tập hợp hơn 10.000 môn học chất lượng từ 18 ngành lớn; hợp tác với các trường đại học danh tiếng như: Đại học Cornell, Đại học Stanford, Viện Công nghệ Massachusetts, Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa…
XuetangX còn hỗ trợ học song ngữ Anh – Trung, với 1.500 khóa học trực tuyến và hơn 8 triệu người học nước ngoài; liên kết toàn diện với hệ thống dịch vụ công giáo dục thông minh quốc gia của Trung Quốc. Trọng tâm của XuetangX là Rain Classroom, một giải pháp giáo dục thông minh kết nối trực tiếp giữa bài giảng dạng PPT với WeChat (nền tảng mạng xã hội phổ biến tại Trung Quốc). Giảng viên và người học không cần thông qua phần nào khác mà có thể tiến hành tương tác theo thời gian thực… XuetangX không chỉ cung cấp các khóa học theo yêu cầu mà còn cấp các chứng chỉ đào tạo kỹ năng kéo dài 3-6 tháng, cấp bằng trực tuyến hoặc sinh viên đã học trên XuetangX có thể được quy đổi tín chỉ tại các trường của mình.
Để có được những nền tảng học tập trực tuyến với quy mô khổng lồ như trên, không thể tách rời chiến lược phát triển giáo dục quốc gia và công tác quản lý, chỉ đạo của các cơ quan liên quan của chính phủ. Trong đó, các bộ, ban ngành đều có vai trò, nhiệm vụ cụ thể trong việc xây dựng và thúc đẩy hệ sinh thái giáo dục số của Trung Quốc phát triển, cụ thể như: Bộ Giáo dục, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia, Cục Dữ liệu quốc gia chịu trách nhiệm về điều phối chiến lược; Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin quản lý về công nghệ và hạ tầng kỹ thuật; Văn phòng Ủy ban Công nghệ thông tin và An ninh mạng Trung ương, Bộ Công an phụ trách về an ninh; Bộ Tài chính, Bộ Nguồn nhân lực và An sinh xã hội quản lý về tài chính và nguồn nhân lực…
3.2 Cơ sở đào tạo biến nội dung giáo dục trực tuyến thành nguồn thu
(1) Chuyển các sản phẩm giáo dục thành tài sản.
Các trường đại học Trung Quốc tích cực chuyển hóa nội dung các khóa học chất lượng cao thành tài sản sở hữu trí tuệ (IP) được pháp luật bảo hộ, thực hiện mô hình: “Đầu tư một lần, tái sử dụng nhiều lần, tạo nguồn thu bền vững”. Các khóa học trực tuyến chất lượng được cung cấp trên các nền tảng như XuetangX, Icourse163.org… Một số khóa học trên XuetangX có lượng người lựa chọn lên đến hơn triệu người, như khóa học “Nghe nói tiếng Anh trong đời sống” của Đại học Thanh Hoa có hơn 1,24 triệu người lựa chọn, khóa học “Đạo đức nghiên cứu và quy phạm học thuật” của Đại học Sư phạm Bắc Kinh có đến hơn 1,145 triệu người lựa chọn…
Cung cấp giáo trình cùng khóa học, tăng cường nguồn thu. Cùng với việc cung cấp khóa học “Tín hiệu và Hệ thống” trực tuyến, Đại học Điện tử Tây An đã bán được hàng trăm nghìn cuốn giáo trình, tạo nên chu trình “Khóa học tạo lưu lượng – Giáo trình sinh lợi nhuận”. Doanh thu từ giáo trình chiếm hơn 60% tổng thu của khóa học. Cấp chứng chỉ cho các khóa học trực tuyến: Khoa Quản trị Kinh doanh của Đại học Thanh Hoa mở lớp học tích hợp toàn cầu (Global Hybrid Classroom), cấp chứng chỉ cho các khóa học trực tuyến (MOOC) bằng tiếng Anh. Hằng năm, mỗi khóa học thu hút hơn 20.000 người xin cấp chứng chỉ. Với mức phí từ 300 – 800 tệ/chứng chỉ, doanh thu trực tiếp hàng năm đạt hơn 10 triệu nhân dân tệ.
(2) Cung cấp dịch vụ SaaS (Software as a Service – phần mềm dạng dịch vụ) và thương mại hóa tài sản dữ liệu.
Đại học Trung Sơn phát triển nền tảng Seelight cung cấp dịch vụ thí nghiệm từ xa cho các trường đại học chưa có điều kiện, thu phí dựa trên số lượng học phần kết nối vào hệ thống. Doanh thu từ dịch vụ này lên đến hàng triệu nhân dân tệ mỗi năm.
Đại học Điện tử Tây An xây dựng nền tảng học tập thông minh, thông qua hệ thống “Nghìn người nghìn đề” nhận diện chính xác các điểm kiến thức khó/trọng tâm để tư vấn hướng chỉnh sửa giáo trình cho các nhà xuất bản, từ đó thúc đẩy doanh số bán giáo trình.
Đại học Khoa học và Công nghệ Thiểm Tây phát triển hệ thống trợ lý ảo AI (AI Assistant) giúp giảm 30% nguồn lực giảng viên, giúp giảng viên tập trung phát triển các khóa học giá trị cao, tạo ra chu trình tích cực là “Giảm chi phí – Nâng cao chất lượng – Tăng giá trị khóa học”.
(3) Xây dựng hệ sinh thái cộng hưởng: Đòn bẩy chính sách + Hạ tầng kỹ thuật + Kết nối nhà trường và doanh nghiệp.
Trong quá trình xây dựng, phát triển các hệ thống, nền tảng số, các trường đại học Trung Quốc còn được hưởng trợ cấp từ các chương trình của chính phủ như Dự án đưa các khóa học chất lượng cao đến miền Tây (các địa phương kém phát triển hơn). Cụ thể, Bộ Giáo dục Trung Quốc cấp cho mỗi trường tham gia chương trình này 3 – 8 triệu nhân dân tệ, giúp giảm bớt chi phí đầu tư ban đầu.
Đại học Đông Bắc cấp phép sử dụng mô hình chấm điểm bằng AI trong khóa học Quản lý dự án phần mềm cho 03 trường nghề với phí bản quyền là 800.000 tệ mỗi năm.
Đại học Bưu chính Viễn thông Bắc Kinh xây dựng nền tảng dịch vụ tin cậy thông tin kỹ thuật số giáo dục, cho phép công nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ thuật số blockchain giữa các trường, có khả năng mở rộng và thu phí đối với người dùng là doanh nghiệp.
3.3. Những lợi ích thu được
Với sự phủ sóng rộng rãi của các nền tảng học trực tuyến, như: XuetangX, sinh viên có thể tiếp cận bài giảng của các giáo sư hàng đầu từ các đại học danh tiếng trong nước và quốc tế, như: Thanh Hoa, Bắc Kinh, Đại học Cornell, Đại học Stanford… Sinh viên có thể tiết kiệm thời gian bằng cách vừa học vừa làm và lấy các chứng chỉ trực tuyến với giá rẻ hơn rất nhiều so với hình thức học truyền thống. Bên cạnh đó, với gợi ý của các hệ thống AI, sinh viên có thể xây dựng, lựa chọn lộ trình học phù hợp với tình hình của bản thân. Giảng viên có được sự giúp đỡ của các công cụ tự động giúp điểm danh, chấm điểm, thống kê độ hiểu bài… từ đó chỉ cần tập trung vào bài giảng. Các giảng viên có thể tạo ra các khóa học trên nền tảng học trực tuyến và có nguồn thu thụ động từ việc bán bản quyền bài giảng và phí cấp chứng chỉ.
Các trường đại học có điều kiện để mở rộng tuyển sinh không chỉ trong phạm vi cả nước mà còn ra quốc tế, tạo ra doanh thu vượt khuôn khổ địa lý, đồng thời tiết kiệm chi phí cho việc xây dựng và vận hành giảng đường, thư viện truyền thống nhờ vào kho dữ liệu chung khổng lồ và các mô hình học tập trực tuyến hoặc kết hợp. Các khóa học trực tuyến trở thành tài sản số và thương hiệu trên môi trường số, giúp trường thu hút đầu tư và hợp tác trong và ngoài nước.
Người sử dụng lao động – các doanh nghiệp không cần xây dựng hệ thống đào tạo riêng mà có thể đặt hàng các trường đại học các khóa học ngắn hạn trên nền tảng trực tuyến hoặc tận dụng các khóa học có sẵn trên các nền tảng này để đào tạo lại cho nhân viên, giúp giảm chi phí cũng như thời gian.
Các nền tảng học tập trực tuyến này giúp xây dựng xã hội học tập suốt đời, tạo điều kiện để lực lượng lao động được tái đào tạo liên tục, là yếu tố giúp tăng năng suất bền vững và làm nền tảng cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số.
4. Gợi ý đối với chuyển đổi số đối với giáo dục đại học ở Việt Nam
Từ những kinh nghiệm và lợi ích thu được của Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học, thấy rằng để đẩy mạnh chuyển đổi số đối với giáo dục đại học Việt Nam, cần xây dựng chiến lược tổng thể với các giải pháp chủ yếu tập trung vào phát triển hạ tầng chung, xây dựng hành lang pháp lý, đẩy mạnh các mô hình hợp tác, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý, cụ thể:
Một là, đẩy mạnh đầu tư về hạ tầng công nghệ và nền tảng quản lý chung. Xây dựng nền tảng học trực tuyến toàn quốc, nơi các trường đại học có thể cung cấp các khóa học, mở rộng không gian tuyển sinh, hợp tác và đầu tư. Việc xây dựng nền tảng học trực tuyến quốc gia tạo cơ sở phát triển văn hóa học tập suốt đời, tạo điều kiện cho lực lượng lao động dễ dàng tiếp cận, cập nhật kiến thức, thực hiện tái đào tạo. Áp dụng Blockchain trong xác thực văn bằng để dễ dàng kiểm tra tính xác thực của văn bằng mà không cần các thủ tục, giấy tờ xác nhận phức tạp. Hướng đến xây dựng thị trường giáo dục trực tuyến.
Hai là, hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến chuyển đổi số. Cụ thể là ban hành các quy định về việc công nhận tín chỉ chéo, cho phép người học được công nhận kết quả các khóa học trực tuyến tại các trường khác nhau. Quy định rõ về sở hữu trí tuệ số, bảo đảm quyền lợi của nhà trường, doanh nghiệp công nghệ, giảng viên trong việc sản xuất các bài giảng số.
Ba là, thúc đẩy hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp. Khuyến khích các doanh nghiệp số hợp tác đầu tư với trường đại học bằng cách chia sẻ lợi nhuận của các dự án số hoặc cho phép khai thác một phần tài nguyên số. Nhà trường cung cấp các khóa học, khóa đào tạo trực tuyến theo yêu cầu của doanh nghiệp mà không cần tổ chức lớp học vật lý, đồng thời cấp chứng chỉ được công nhận, giúp doanh nghiệp và người lao động tiết kiệm chi phí và thời gian đào tạo.
Bốn là, đẩy mạnh đào tạo, nâng cao năng lực số cho đội ngũ giảng viên, cán bộ lãnh đạo. Các trường đại học cần có lộ trình bồi dưỡng kỹ năng số cho giảng viên, cán bộ để chủ động trong khai thác, sử dụng công cụ số, AI trong giảng dạy, nghiên cứu và quản lý. Đối với sinh viên, cần nâng cao ý thức về việc học tập trên môi trường số, trang bị các kỹ năng sử dụng công cụ số, AI để nâng cao năng lực tự học, làm quen với môi trường việc làm số. Các trường đại học có thể nghiên cứu, thiết lập vị trí Giám đốc chuyển đổi số (Chief Digital Officer – CDO) chuyên trách về việc xây dựng chiến lược, thay đổi tư duy, áp dụng công nghệ để chuyển đổi mô hình hoạt động của đơn vị.
Năm là, phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng hành lang pháp lý, định hướng phát triển, giám sát về nội dung đối với quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Báo cáo tổng kết năm học về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục đại học.
2. Chính phủ (2021). Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
3. Ngân hàng Thế giới (2020). Nâng cao hiệu quả giáo dục đại học tại Việt Nam hướng tới sự đổi mới và tự chủ tài chính.
4. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030.
6. Vũ Thị Duyên (2025). Chuyển đổi số tại các trường đại học Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. https://tapchicongthuong.vn/chuyen-doi-so-tai-cac-truong-dai-hoc-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-179065.htm.
7. 12 đại học Việt Nam doanh thu nghìn tỷ: Học phí chiếm gần hết, nghiên cứu “lép vế”. https://tuoitre.vn/12-dai-hoc-viet-nam-doanh-thu-nghin-ti-hoc-phi-chiem-gan-het-nghien-cuu-lep-ve-20251001101555014.htm.
8. Nguồn thu chủ yếu từ học phí và khoảng trống của các trường đại học. https://laodong.vn/su-kien-binh-luan/nguon-thu-chu-yeu-tu-hoc-phi-va-khoang-trong-cua-cac-truong-dai-hoc-1581407.ldo.
9. Kinh nghiệm chuyển đổi số trong giáo dục đại học của các quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/04/02/kinh-nghiem-chuyen-doi-so-trong-giao-duc-dai-hoc-cua-cac-quoc-gia-tren-the-gioi-va-bai-hoc-cho-viet-nam.
10. Carnoy, M (2013). University Expansion in a Changing Global Economy. Stanford University Press.
11. Huang, R., et al. (2021). The Development of Smart Education in China. Smart Learning Environments.
12. Laurillard, D. (2002). Rethinking University Teaching: A Conversational Framework for the Effective Use of Learning Technologies. Routledge.
13. Min, W. (2006). Economic Analysis of Education Policy. Peking University Press.
14. Ministry of Education of the People’s Republic of China (2024). Annual Report on the Development of Smart Education in China (2022-2024).
15. Rifkin, J. (2014). The Zero Marginal Cost Society: The Internet of Things, the Collaborative Commons, and the Eclipse of Capitalism. St. Martin’s Press.
16. Secundo, G., et al. (2018). Intellectual capital in the age of commercialization of university knowledge. Journal of Intellectual Capital.
17. Stewart, T. A. (1997). Intellectual Capital: The New Wealth of Organizations. Doubleday.
18. Zhou, K. (2022). Big Data and AI in Higher Education Governance: Evidence from the Greater Bay Area. China Education Review.



