Vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

The Role of Cooperatives in the Socialist-Oriented Market Economy in Vietnam Today

ThS. Trần Lê Kim Danh
PGS.TS. Vũ Văn Hùng
Trường Đại học Thương mại

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích một cách khái quát và có hệ thống về vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, chỉ ra những đóng góp chủ yếu của khu vực hợp tác xã đối với phát triển kinh tế – xã hội, thể hiện trên các phương diện, như: tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho người lao động; huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế; tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhà nước; đồng thời, góp phần quan trọng vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ những phân tích trên, bài viết khẳng định vị trí và vai trò của kinh tế tập thể, mà nòng cốt là hợp tác xã như một bộ phận cấu thành quan trọng trong cấu trúc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Hợp tác xã; kinh tế tập thể; kinh tế thị trường; xã hội chủ nghĩa.

Abstract: This article provides a systematic and comprehensive analysis of the role of cooperatives in the socialist-oriented market economy in Vietnam. On that basis, it identifies the principal contributions of the cooperative sector to socio-economic development, including: generating employment and improving workers’ income; mobilizing, exploiting, and efficiently utilizing resources; promoting fair competition in the economy; increasing state budget revenues; and contributing significantly to the process of international economic integration. Based on these analyses, the article affirms the position and role of the collective economy, with cooperatives as its core, as an important constituent of the structure of the socialist-oriented market economy in Vietnam today.

Keywords: Cooperatives; collective economy; market economy; socialism.

1. Đặt vấn đề

Hợp tác xã là tổ chức có tư cách pháp nhân do ít nhất 5 thành viên chính thức tự nguyện thành lập, hợp tác tương trợ trong sản xuất – kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa – xã hội của thành viên, góp phần xây dựng cộng đồng xã hội phát triển bền vững; thực hiện quản trị tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ (khoản 7 Điều 4 Luật Hợp tác xã năm 2023). Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định: “Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, tổ hợp tác có phạm vi hoạt động rộng lớn với vai trò cung cấp dịch vụ cho các thành viên; liên kết, phối hợp sản xuất – kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất – kinh doanh, phát triển bền vững…”1.

Kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã là thành phần kinh tế quan trọng với nhiều hình thức tổ chức kinh tế hợp tác đa dạng có vai trò quan trọng về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với đất nước. Nghị quyết số 20-NQ/T ngày 16/6/2022 Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới đã củng cố quan điểm về vị trí, vai trò và đóng góp của kinh tế thị trường: “Đóng góp về mặt kinh tế của kinh tế tập thể trong nền kinh tế quốc dân là tỷ trọng đóng góp vào GDP, là hiệu quả sản xuất – kinh doanh, lợi nhuận của tổ chức, thu nhập của thành viên… Đóng góp về mặt xã hội của kinh tế tập thể là số lượng thành viên, số lượng việc làm, việc đóng góp vào các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, phong trào thi đua, hoạt động nhân đạo từ thiện, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường trên địa bàn”2 và “Phát triển kinh tế tập thể là một trong những phương thức để khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường, là nền tảng quan trọng để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; là cơ sở để “hợp tác” trở thành văn hóa, bản sắc trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; là một kênh quan trọng để thực hiện các chính sách phát triển văn hóa, xã hội bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại cộng đồng dân cư”3.

Như vậy, phát triển kinh tế thị trường không chỉ có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế, mà còn có ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc. Thực tiễn qua các giai đoạn xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước đã cho thấy, trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khu vực kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã đã góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, hợp tác xã còn là hình thức tổ chức phù hợp để tiếp nhận và lan tỏa hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, thông qua các cơ chế về phát triển nguồn nhân lực, đào tạo cán bộ, tiếp cận đất đai, tín dụng, mở rộng thị trường và thúc đẩy đầu tư phát triển. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tập thể và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

2. Hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Có thể thấy, kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã đã đóng vai trò quan trọng thể hiện ở những điểm chủ yếu: (1) Gia tăng nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế – xã hội; (2) Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, hình thành đội ngũ lao động có tay nghề cao và tinh thần lao động sáng tạo, có kỷ cương, kỷ luật; (3) Góp phần tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân; (4) Gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước; (5) Mở rộng giao thương quốc tế, phát triển thị trường và tham gia vào việc thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

Bảng 1: Số lượng hợp tác xã đang hoạt động tính đến ngày 31/12/2024

ĐVT: Hợp tác xã

Quy mô/ngành/khu vựcBình quân 2020 – 202420202021202220232024
Cả nước22.73925.77727.87829.37831.82533.616
Đồng bằng sông Hồng6.6256.8867.5697.7808.3458.655
Trung du và miền núi phía Bắc5.4226.6717.4397.9578.9299.586
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung5.3295.6725.8516.1676.4886.860
Tây Nguyên1.2261.6101.8521.9832.3342.534
Đông Nam Bộ1.5061.7401.9542.0712.2042.291
Đồng bằng sông Cửu Long2.6313.1983.2133.4203.5203.690
Nguồn: Tác giả tập hợp từ GSO và Hợp tác xã Việt Nam, 2025.

Tính đến ngày 31/12/2024, số lượng hợp tác xã đang hoạt động trên phạm vi cả nước là 33.616 hợp tác xã, trong đó số lượng lớn nhất là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc với 9.586 hợp tác xã, chiếm 28,5%; thấp nhất là khu vực Tây nguyên với 2.534 hợp tác xã, chiếm 7,53%4. Số lượng hợp tác xã trong giai đoạn 5 năm (2020 – 2024) có xu hướng tăng nhẹ theo các năm, nhìn chung số lượng hợp tác xã giai đoạn này tương đối ổn định, tỷ lệ hợp tác xã giải thể và đăng ký mới không có sự chênh lệch đáng kể.

Bảng 2: Số lượng hợp tác xã theo quy mô lao động và theo ngành kinh tế

ĐVT: Hợp tác xã

Quy mô/ngành/khu vựcBình quân 2020 – 202420202021202220232024
Cả nước13.97814.38815.30616.45415.83216.349
Theo quy mô lao động
Dưới 10 lao động8.6469.35510.44511.61211.34511.814
Từ 10 – 49 lao động4.9634.6874.58345624.2464.296
Từ 50 – 99 lao động231223185189150150
Từ 100 lao động trở lên13812393919189
Theo ngành kinh tế
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản7.1047.4187.7758.4077.90811.814
Công nghiệp và xây dựng2.6142.6142.8283.0032.9883.049
Dịch vụ4.2604.3564.7035.0444.9365.146
Nguồn: Tác giả tập hợp từ GSO và Hợp tác xã Việt Nam, 2025.

Số lượng hợp tác xã theo quy mô lao động còn khiêm tốn, số lượng lao động chủ yếu dưới 10 lao động; từ 100 lao động trở lên còn hạn chế, năm 2024, chỉ có 89 hợp tác xã (bình quân giai đoạn 2020 – 2024 là 138 hợp tác xã); theo ngành kinh tế, chủ yếu tập trung vào ngành nông, lâm, thủy sản là chủ yếu, (gấp 2 lần các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ)5. Tuy nhiên, những năm gần đây hợp tác xã đang có xu hướng dịch chuyển từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

Bảng 3: Thu nhập bình quân của người lao động trong hợp tác xã theo quy mô lao động, ngành kinh tế và khu vực

ĐVT: 1.000 VNĐ/tháng

Quy mô/ngành/khu vựcBình quân 2020 – 202420202021202220232024
Cả nước3.8114.3674.0264.4645.2035.896
Theo quy mô lao động
Dưới 10 lao động2.9613.5142.7183.0573.6824.212
Từ 10 – 49 lao động3.5854.0653.9214.6765.4286.003
Từ 50 – 99 lao động4.2294.3694.3293.4554.8766.790
Từ 100 lao động trở lên5.2926.2116.5407.2827.6628.347
Theo ngành kinh tế
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản1.6952.3931.5763352.7264.089
Công nghiệp và xây dựng3.8434.0114.0974.5045.0455.247
Dịch vụ6.4257.0197.0147.2098.2638.210
Theo khu vực
Đồng bằng sông Hồng3.8734.5564.2755.1096.0256.390
Trung du và miền núi phía Bắc3.6873.9583.7734.3014.6374.918
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung2.8463.3713.0783.2884.3734.540
Tây Nguyên4.3574.5124.6486.3926.4816.792
Đông Nam Bộ5.9146.9976.1336.1337.0868.840
Đồng bằng sông Cửu Long3.2073.4553.0713.2303.3194.816
Nguồn: Tác giả tập hợp từ GSO và Hợp tác xã 2025.

Theo số liệu (Bảng 3) có thể thấy rõ: (1) Thu nhập bình quân của người lao động tại các hợp tác xã có quy mô càng lớn thu nhập càng cao, ngành nông nghiệp thấp hơn ngành công nghiệp và ngành công nghiệp thấp hơn ngành dịch vụ (có mức thu nhập cao nhất; (2) Giai đoạn 2020 – 2024, thu nhập của người lao động tăng dần qua các năm, điều này thể hiện thu nhập tốt cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò và vị thế của hợp tác xã ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân; (3) Thu nhập của lao động tại khu vực đồng bằng cao hơn so với khu vực miền núi, Trung du và Tây Nguyên, riêng khu vực Đông Nam Bộ cao nhất trong 6 khu vực, điều này phản ánh tại khu vực này các hợp tác xã hoạt động trong các trang trại, đồn điền cây công nghiệp có thu nhập khá cao.

Bảng 4: Nguồn vốn của hợp tác xã theo quy mô lao động, ngành kinh tế và khu vực

ĐVT: tỷ VNĐ

Quy mô/ ngành/khu vựcBình quân 2020 – 202420202021202220232024
Cả nước225.777225.783273.68432.6287322.284414.663
Theo quy mô lao động
Dưới 10 lao động51.90555.46956.86365.71169.61093.320
Từ 10 – 49 lao động107.323102.735137.777176.114168.212226.330
Từ 50 – 99 lao động7.9567.8008.5639.9567.87410.682
Từ 100 lao động trở lên58.59359.77970.44174.50676.58884.331
Theo ngành kinh tế
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản20.14326.37217.47940.07729.54379.981
Công nghiệp & xây dựng25.00228.87327.92427.21125.64029.423
Dịch vụ180.632170.538228.241258.999267.101305.259
Theo khu vực
Đồng bằng sông Hồng99.00498.099123.502154.919144.027195.602
Trung du và miền núi phía Bắc22.04323.26326.90532.71335.81341.319
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung34.19433.63942.02151.36554.97067.165
Tây Nguyên11.41211.19913.24115.56818.08825433
Đông Nam Bộ42.84541.24949.91049.67747.78254.116
Đồng bằng sông Cửu Long16.27818.33418.06522.04521.60431.028
Nguồn: Tác giả tập hợp từ GSO và Hợp tác xã 2025.

Theo số liệu từ (Bảng 4) cho thấy, nguồn vốn huy động được nhiều nhất là với loại hình hợp tác xã có quy mô vừa và nhỏ (từ 10 – 49 lao động) và chủ yếu từ ngành dịch vụ ở khu vực Đông Nam Bộ. Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy rằng quy mô tổ chức và đặc thù ngành nghề có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng huy động vốn của hợp tác xã; trong đó, các hợp tác xã dịch vụ với tính linh hoạt cao và khả năng thích ứng nhanh với thị trường thường có lợi thế hơn trong việc tiếp cận và khai thác các nguồn lực tài chính. Đồng thời, điều này cũng phản ánh vai trò của điều kiện phát triển kinh tế – xã hội vùng trong việc tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của khu vực kinh tế tập thể.

Bảng 5: Doanh thu thuần của hợp tác xã theo quy mô lao động, ngành kinh tế và khu vực

ĐVT: tỷ VNĐ

Quy mô/ngành/ khu vựcBình quân 2020 – 202420202021202220232024
Cả nước87.21899.92892.25994.095107.472120.309
Theo quy mô lao động
Dưới 10 lao động17.56621.45318.99121.23029.22433.573
Từ 10 – 49 lao động30.59034.86032.77837.23841.22246.730
Từ 50 – 99 lao động5.2855.3196.5537.6408.64310.838
Từ 100 lao động trở lên33.77638.29633.94727.98728.38329.168
Theo ngành kinh tế
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản10.57917.1869.63412.48516.12020.888
Công nghiệp và xây dựng14.99115.54317.59018.50919.92820.897
Dịch vụ61.64767.19965.03563.10171.42478.524
Theo khu vực
Đồng bằng sông Hồng21.49627.02323.43624.79328.27830.277
Trung du và miền núi phía Bắc8.84710.3379.98411.53112.47915.594
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung8.96510.2549.38310.99212.31916.394
Tây nguyên3.9953.8703.8734.8526.3208.439
Đông Nam bộ36.74740.32137.99333.59236.51334.957
Đồng bằng sông Cửu Long7.1688.1237.5908.33511.56314.647
Nguồn: Tác giả tập hợp từ GSO và Hợp tác xã 2025.

Có thể thấy, doanh thu thuần bình quân của hợp tác xã trong giai đoạn 2020 – 2024 đạt mức cao nhất ở nhóm hợp tác xã quy mô lớn (từ 100 lao động trở lên). Xu hướng này cũng tương đồng theo ngành, khi khu vực dịch vụ ghi nhận mức doanh thu vượt trội với giá trị bình quân đạt khoảng 61.647 tỷ đồng trong giai đoạn này. Xét theo khu vực kinh tế, Đông Nam Bộ tiếp tục là địa bàn dẫn đầu về doanh thu của các hợp tác xã với mức bình quân đạt khoảng 36.747 tỷ đồng6. Trên cơ sở đó, có thể khẳng định, quy mô lao động, ngành, lĩnh vực hoạt động và điều kiện phát triển vùng là những nhân tố có tác động rõ nét đến hiệu quả sản xuất – kinh doanh của hợp tác xã. Trong đó, các hợp tác xã quy mô lớn thường có lợi thế về tích tụ nguồn lực, năng lực quản trị và khả năng mở rộng thị trường, từ đó, tạo ra doanh thu cao hơn. Đồng thời, lĩnh vực dịch vụ với đặc trưng linh hoạt, khả năng thích ứng nhanh với nhu cầu thị trường cũng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, lợi thế về hạ tầng kinh tế, mức độ phát triển thị trường và khả năng liên kết vùng tại khu vực Đông Nam Bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp tác xã gia tăng doanh thu và mở rộng quy mô hoạt động.

Bảng 6: Lợi nhuận trước thuế của hợp tác xã theo quy mô lao động,
ngành Kinh tế và khu vực

ĐVT: tỷ VNĐ

Quy mô/ngành/khu vựcBình quân 2020 – 202420202021202220232024
Cả nước3.2652.6633.7103.1453.9054.101
Theo quy mô lao động
Dưới 10 lao động445327500487293571
Từ 10 – 49 lao động1.0758251.6861.7731.9331.797
Từ 50 – 99 lao động182246114146163335
Từ 100 lao động trở lên1.5631.2651.4107391.5161.398
Theo ngành kinh tế
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản365401303-103182267
Công nghiệp và xây dựng4452149751.350503360
Dịch vụ2.4552.0482.4321.89832203.474
Theo khu vực
Đồng bằng sông Hồng532429626422679696
Trung du và miền núi phía Bắc19-117145192121225
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung284148276227385574
Tây Nguyên139135130180242334
Đông Nam bộ1.8431.5292.0641.8082.0061.399
Đồng bằng sông Cửu Long448539469316471873
Nguồn: Tác giả tập hợp từ GS và Hợp tác xã 2025.

Lợi nhuận trước thuế bình quân của hợp tác xã trong giai đoạn 2020 – 2024 đạt mức cao ở nhóm hợp tác xã quy mô lớn (từ 100 lao động trở lên) với giá trị khoảng 1.563 tỷ đồng; theo ngành, khu vực dịch vụ ghi nhận mức lợi nhuận nổi trội, đạt khoảng 2.455 tỷ đồng; Đông Nam Bộ là khu vực dẫn đầu với mức lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 1.843 tỷ đồng7.

Từ thực tiễn trên có thể nhận thấy, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hợp tác xã ngày càng được nâng cao; hệ thống thể chế, chính sách liên quan không ngừng được hoàn thiện thông qua các nghị quyết, kết luận, chiến lược, kế hoạch và các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước. Một số cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển hợp tác xã đã được rà soát, điều chỉnh, bổ sung theo hướng phù hợp với nhu cầu thực tiễn, trình độ phát triển của khu vực kinh tế tập thể cũng như khả năng cân đối của ngân sách nhà nước trong từng giai đoạn, qua đó tạo cơ sở cho việc bố trí và huy động nguồn lực hỗ trợ.

Trong bối cảnh đó, khu vực kinh tế tập thể đã từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động theo cơ chế thị trường, qua đó khẳng định vai trò quan trọng trong bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị ở cơ sở và thúc đẩy phát triển kinh tế của các thành viên, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế – xã hội. Phần lớn các hợp tác xã đã chuyển đổi sang mô hình kiểu mới, vận hành theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm; mối liên kết giữa các thành viên được củng cố thông qua hợp tác góp vốn, chia sẻ nguồn lực và lợi ích; đồng thời, mở rộng hợp tác với các thành phần kinh tế khác, qua đó vừa đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, vừa hỗ trợ phát triển kinh tế hộ và kinh tế cá thể.

Tuy nhiên, khu vực hợp tác xã vẫn đối mặt với nhiều thách thức, như: năng lực quản lý và chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; công tác tài chính, kế toán chưa bảo đảm tính chuyên nghiệp; nhiều hợp tác xã có quy mô nhỏ, thiếu vốn và trang thiết bị; việc tiếp cận chính sách hỗ trợ và nguồn tín dụng ưu đãi còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc ứng dụng khoa học – công nghệ trong sản xuất còn phân tán, thiếu liên kết chuỗi giá trị; tỷ lệ hợp tác xã xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng hiện chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển. Chính vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực nội tại và thúc đẩy đổi mới, liên kết trong khu vực hợp tác xã là yêu cầu cấp thiết nhằm phát huy vai trò của kinh tế tập thể, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

3. Một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về kinh tế thị trường nói chung, hợp tác xã nói riêng. Theo đó, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức và Nhân dân nhận thức đúng, đầy đủ về kinh tế thị trường nói chung, hợp tác xã nói riêng là yêu cầu và xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Qua đó, tạo sự thống nhất về tư duy, nhận thức và hành động trong quá trình phát triển kinh tế tập thể, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước với kinh tế thị trường nói chung, hợp tác xã nói riêng thông qua xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế thị trường tập trung thống nhất, xuyên suốt chỉ đạo điều hành từ Trung ương đến địa phương; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có chuyên môn, nghiệp vụ, được đào tạo chuyên sâu về kinh tế thị trường. Đặc biệt, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý; tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về kinh tế thị trường, liên thông với hệ thống đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện chính sách về hỗ trợ, thu hút nguồn lực, ứng dụng khoa học – công nghệ, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, mở rộng thị trường cho hợp tác xã. Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hợp tác xã cần xây dựng theo hướng coi hợp tác xã là chủ thể phù hợp, kết hợp giữa đóng góp của người dân (thông qua thành viên của tổ chức kinh tế hợp tác) và sự hỗ trợ của Nhà nước, là phương thức để Nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa bàn một cách minh bạch, hiệu quả.

Bốn là, nâng cao năng lực cạnh tranh của các hợp tác xã, theo đó, đội ngũ cán bộ quản lý phải là những cá nhân có đủ tài, đức do thành viên hợp tác xã bầu ra. Từ đó, phát huy dân chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm của các thành viên trong các tổ chức kinh tế thị trường, hợp đồng kinh tế với động lực tinh thần, khơi dậy phong trào quần chúng nhân dân tham gia phát triển kinh tế thị trường.

Khuyến khích việc tăng vốn góp và huy động vốn từ thành viên để tăng nguồn vốn hoạt động, đầu tư phát triển.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế, huy động các nguồn lực xã hội tham gia thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường, hợp tác xã. Đẩy mạnh các hình thức hợp tác quốc tế trong phát triển hợp tác xã với các tổ chức trong và ngoài nước, thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm của các nước, vùng lãnh thổ có phong trào hợp tác xã phát triển.

Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, như: Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA), các tổ chức hợp tác xã các nước, các tổ chức đại diện và hỗ trợ hợp tác xã; tham gia và chủ trì tổ chức các hội nghị quốc tế về hợp tác xã nhằm quảng bá và thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Huy động mọi nguồn lực hỗ trợ phát triển hợp tác xã ngoài nguồn vốn ngân sách nhà nước, như: hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), nguồn xã hội hóa nhằm phát huy lợi thế cùa các thành viên tham gia vì mục tiêu phát triển.

4. Kết luận

Qua các dữ liệu và phân tích cho thấy, hợp tác xã có quy mô từ 100 lao động trở lên, hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và tập trung ở khu vực Đông Nam Bộ đạt hiệu quả cao nhất, thể hiện qua các chỉ tiêu về thu nhập của người lao động, khả năng huy động vốn, doanh thu thuần và lợi nhuận trước thuế. Kết quả này phản ánh rõ sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của hợp tác xã theo quy mô, lĩnh vực và điều kiện phát triển vùng.

Để tiếp tục khẳng định vị trí và vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách theo hướng đồng bộ, phù hợp với thực tiễn; khuyến khích phát triển các hợp tác xã có quy mô lớn, hoạt động theo chuỗi giá trị và gắn với nhu cầu thị trường. Đồng thời, chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị và khả năng ứng dụng khoa học – công nghệ; tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã với doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác nhằm mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Từ đó, phát huy tối đa tiềm năng của khu vực kinh tế tập thể, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn tới.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 129 – 130.
2, 3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế thị trường trong giai đoạn mới.
4, 5, 6, 7. Tổng cục Thống kê (2023, 2024). Sách trắng Hợp tác xã Việt Nam năm 2025. H. NXB Thống kê, tr. 65 – 67, 68, 82 – 85, 90 – 93.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006). Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin (dùng cho các khối ngành Kinh tế – Quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. H.NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 340/QĐ-TTg ngày 12/3/2021 về phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 – 2030.
4. Một số giải pháp phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/11/07/mot-so-giai-phap-phat-trien-kinh-te-tap-the-o-viet-nam-hien-nay/
5. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: sự phát triển nhận thức và dự báo xu hướng phát triển. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/06/04/mo-hinh-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-su-phat-trien-nhan-thuc-va-du-bao-xu-huong-phat-trien/
6. Một số giải pháp phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/11/07/mot-so-giai-phap-phat-trien-kinh-te-tap-the-o-viet-nam-hien-nay/
7. Tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/10/17/tiep-tuc-phat-trien-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi/
8. Vai trò của mô hình kinh tế hợp tác xã trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/05/07/vai-tro-cua-mo-hinh-kinh-te-hop-tac-xa-trong-xay-dung-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam/
9. Giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế tập thể lấy hợp tác xã làm nòng cốt ở Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay. https://kinhtevadubao.vn/giai-phap-tiep-tuc-phat-trien-kinh-te-tap-the-lay-hop-tac-xa-lam-nong-cot-o-viet-nam-trong-boi-canh-moi-hien-nay-28403.html