Developing students’ teaching competencies: A case study of Hanoi University of Physical Education and Sports
ThS. Mai Thị Bích Ngọc
Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Năng lực sư phạm là một trong những tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng đào tạo giáo viên và mức độ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp. Đối với sinh viên ngành Giáo dục thể chất, năng lực này giữ vai trò nền tảng, quyết định hiệu quả tổ chức và thực hiện hoạt động dạy học, đồng thời, góp phần hình thành năng lực nghề nghiệp của giáo viên trong tương lai. Vì vậy, việc chú trọng phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên trong quá trình đào tạo là yêu cầu tất yếu, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên dạy môn Giáo dục thể chất, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Năng lực sư phạm; sinh viên; giáo dục thể chất; Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội.
Abstract: Pedagogical competence is one of the key criteria reflecting the quality of teacher training and the extent to which education students meet professional requirements after graduation. For students majoring in Physical Education, this competence plays a foundational role, determining the effectiveness of organizing and implementing teaching activities and contributing to the development of future teachers’ professional competence. Therefore, prioritizing the development of students’ pedagogical competence during their training is essential, enhancing the quality of Physical Education teacher training and meeting the demands of educational reform in the current phase.
Keywords: Pedagogical competence; students; Physical Education; Hanoi University of Physical Education and Sports.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục căn bản, toàn diện hiện nay, người giáo viên giảng dạy môn giáo dục thể chất phải giỏi chuyên môn, có năng lực sư phạm và khả năng thích ứng với năng lực nghề để có thể phát huy cao nhất vai trò, sức ảnh hưởng của mình trong hoạt động giảng dạy. Chính vì vậy, đào tạo và phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất là điều kiện cần thiết để sinh viên nhanh chóng tham gia vào hoạt động nghề nghiệp cũng như hoàn thành tốt các nhiệm vụ giáo dục sau khi tốt nghiệp. Do đó, việc xác định đúng và phát triển các năng lực sư phạm cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
2. Năng lực sư phạm của sinh viên ngành Giáo dục thể chất
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể1. Như vậy, năng lực sư phạm chính là khả năng huy động, vận dụng, sử dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ sư phạm của người giáo viên vào thực hiện vai trò và các hoạt động sư phạm nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học ở các nhà trường. Năng lực đó bao hàm năng lực cốt lõi và năng lực chuyên biệt (năng lực nghề nghiệp sư phạm). Trong hệ thống đào tạo giáo viên, năng lực sư phạm được xem là nền tảng quyết định hiệu quả của quá trình giáo dục. Đối với sinh viên ngành giáo dục thể chất, năng lực sư phạm không chỉ là yêu cầu nghề nghiệp mà còn là hành trang cốt lõi giúp người học thực hiện vai trò của người giáo viên trong tương lai.
Trong Chương trình giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, xác định: “môn học cốt lõi, bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12 là Giáo dục thể chất”2. Mục tiêu của giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông góp phần thực hiện “mục tiêu giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, trọng tâm là: trang bị cho học sinh kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khoẻ; kiến thức và kỹ năng vận động; hình thành thói quen tập luyện, biết lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực; trên cơ sở đó giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với các điều kiện sống, sống vui vẻ, hoà đồng với mọi người”3.
Giáo dục thể chất là một lĩnh vực đặc thù, nơi tri thức lý luận, kỹ năng vận động và hoạt động thực hành luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì vậy, người giảng dạy ngoài việc nắm vững chuyên môn còn phải có khả năng tổ chức, hướng dẫn, điều khiển và giáo dục học sinh thông qua các hoạt động vận động. Năng lực sư phạm là công cụ giúp giáo viên chuyển hóa kiến thức chuyên môn thành các hoạt động dạy học có mục đích, phương pháp và đạt hiệu quả cao.
Đối với giáo viên Giáo dục thể chất, năng lực sư phạm bảo đảm việc thiết kế bài dạy, lựa chọn phương pháp, hướng dẫn kỹ thuật vận động và tổ chức hoạt động dạy học một cách khoa học, hợp lý. Năng lực sư phạm giúp vận dụng hiệu quả kiến thức vào thực tiễn giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy học; sự tự tin khi đứng lớp, xử lý linh hoạt các tình huống sư phạm; qua đó từng bước phát triển, hoàn thiện bản lĩnh và phong cách nghề nghiệp. Đồng thời, nó còn hỗ trợ thực hiện chức năng giáo dục, góp phần hình thành ở học sinh thói quen rèn luyện thân thể, tinh thần kỷ luật, ý thức hợp tác và lối sống lành mạnh. Do đó, mỗi sinh viên ngành giáo dục thể chất trong quá trình học tập, nghiên cứu phải được trang bị năng lực nghề nghiệp nhằm để đáp ứng được với nhu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay và yêu cầu thực tiễn nghề nghiệp trong tương lai.
Rèn luyện và phát triển năng lực sư phạm trở thành mục tiêu để sinh viên không ngừng tự học, tự bồi dưỡng, thích ứng với những thay đổi của chương trình và môi trường giáo dục, qua đó từng bước khẳng định vai trò và vị thế của người giáo viên giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông sau khi tốt nghiệp đại học.
Năng lực sư phạm của sinh viên ngành giáo dục thể chất trong quá trình được đào tạo ở bậc đại học, bao gồm:
1) Năng lực tư duy đặc thù: Đây là năng lực giữ vai trò trung tâm, quyết định hiệu quả của quá trình chuyển hóa tri thức chuyên môn thành kỹ năng vận động trong thực tiễn giảng dạy môn giáo dục thể chất. Năng lực này được biểu hiện qua các thành tố cơ bản sau:
Tư duy phân tích – tổng hợp kỹ thuật động tác và mô hình hóa. Đây làkhả năng chuyển hóa tri thức chuyên môn thành động tác thị phạm thông qua việc phân tích cấu trúc động tác thành các giai đoạn (chuẩn bị, cơ bản, kết thúc), từ đó nhận diện sai sót và đề xuất biện pháp điều chình phù hợp.
Tư duy tổ chức, điều khiển và sáng tạo trong thiết kế bài tập. Tư duy này thể hiện ở khả năng thiết kế, tổ chức và điều chỉnh hoạt động dạy học thông qua việc phân phối hợp lý lượng vận động (độ khó, số lần lặp lại, thời gian nghỉ) phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người học. Đồng thời, yếu tố sáng tạo được biểu hiện qua khả năng đa dạng hóa bài tập, linh hoạt biến đổi hình thức vận động và cách thức tổ chức nhằm duy trì hứng thú, tăng cường động lực và nâng cao hiệu quả tham gia của người học.
Tư duy xử lý tình huống sư phạm và điều chỉnh quá trình dạy học. Đó chính là khả năng quan sát nhanh, nhận diện chính xác và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh trong bối cảnh dạy học vận động có tính biến động và tiền ẩn nguy cơ rủi ro cao. Dựa vào các dấu hiệu bất thường của người học, chủ thể dạy học có thể phân tích nguyên nhân, dự đoán diễn biến tiếp theo và đưa ra quyết định sư phạm phù hợp trong thời gian rất ngắn. Đồng thời, tư duy này còn được biểu hiện qua khả năng điều chỉnh linh hoạt quá trình dạy học như thay đổi cường độ vận động, nội dung, hình thức tổ chức hoặc cách thức hướng dẫn kỹ thuật nhằm thích ứng với điều kiện thực tế của lớp học.
2) Năng lực giải quyết vấn đề: Đây là một trong những năng lực quan trọng, thể hiện khả năng của giáo viên trong việc phát hiện, phân tích và lựa chọn giải pháp tối ưu nhằm xử lý các tình huống nảy sinh trong dạy – học, huấn luyện và tổ chức thể dục thể thao. Năng lực này biểu hiện ở khả năng ứng biến với sự vận động của đối tượng (trạng thái thể lực của học sinh) và môi trường tập luyện (điều kiện thời tiết, cơ sở vật chất…). Đồng thời, năng lực giải quyết vấn đề còn thể hiện qua việc xử lý các tình huống kỹ thuật và bảo đảm an toàn trong vận động, cũng như khả năng điều tiết xung đột và hành vi trong quá trình tập luyện, thi đấu, đặc biệt đối với các môn thể thao có tính đối kháng cao.
3) Năng lực giao tiếp: Trong giáo dục thể chất, năng lực giao tiếp mang tính đặc thù, kết hợp giữa ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, trong đó các yếu tố như cử chỉ, tư thế, ánh mắt, khẩu lệnh và thị phạm giữ vai trò chủ đạo trong truyền đạt nội dung kỹ thuật. Năng lực này thể hiện ở khả năng sử dụng khẩu lệnh ngắn gọn, chính xác kết hợp với biểu đạt vận động (thị phạm) nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức trực quan của người học. Đồng thời, trong điều kiện không gian dạy học rộng (sân bãi, nhà thi đấu), giáo viên cần có khả năng bao quát lớp học, sử dụng giọng nói có độ vang và tính điều khiển, khẩu lệnh dứt khoát nhằm duy trì kỷ luật cũng như bảo đảm an toàn tập luyện. Bên cạnh đó, trong các tình huống phát sinh như học sinh gặp rào cản tâm lý, chấn thương hoặc xung đột trong thi đấu, năng lực giao tiếp được chuyển hóa thành kỹ năng thuyết phục và xử lý tình huống, giáo dục tinh thần thể thao cho học sinh. Đây là năng lực có cấu trúc đa chiều, vừa mang tính chuẩn mực sư phạm, vừa thể hiện tính linh hoạt của hoạt động vận động. Quá trình hình thành năng lực này bắt đầu từ sự tự ý thức nghề nghiệp và được phát triển thông qua quan sát, trải nghiệm trong môi trường đào tạo sư phạm.
4) Năng lực số: Trong bối cảnh chuyển đổi số, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông thể hiện ở khả năng khai thác và sử dụng các công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và huấn luyện. Cụ thể, người làm công tác giarg dạy cần có khả năng ứng dụng thiết bị số để thu thập và phân tích dữ liệu về thể lực và vận động của người học, từ đó hỗ trợ đánh giá và điều chỉnh kỹ thuật một cách khoa học. Đồng thời, năng lực số còn thể hiện ở khả năng quản lý dữ liệu, theo dõi tiến trình phát triển và thiết kế chương trình tập luyện theo hướng cá nhân hóa. Bên cạnh đó, việc sử dụng học liệu số và kết hợp các hình thức dạy học trực tuyến góp phần mở rộng không gian học tập và tăng cường tính tự chủ của người học. Năng lực số không chỉ hỗ trợ hoạt động giảng dạy mà còn chuyển hóa vai trò của sinh viên GDTC từ người hướng dẫn vận động sang người tổ chức và kiểm soát quá trình huấn luyện dựa trên dữ liệu.
5) Năng lực sử dụng các công cụ, phương tiện học giáo dục thể chất: Năng lực này thể hiện ở việc lựa chọn, khai thác, sử dụng hiệu quả các dụng cụ, thiết bị, phương tiện hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động vận động và giảng dạy kỹ thuật. Mỗi nhà giáo cần có hiểu biết về đặc điểm, công năng của các dụng cụ thể thao cũng như các phương tiện dạy học hiện đại. Đồng thời phải nắm vững nguyên tắc lựa chọn, bố trí phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh và điều kiện tập luyện. Bên cạnh đó, năng lực này còn bao gồm khả năng sử dụng thành thạo, bảo quản cũng như đảm bảo an toàn trong quá trình tổ chức dạy học.
6) Năng lực học tập độc lập với phương pháp phù hợp: Năng lực này thể hiện ở khả năng tự chủ trong học tập thông qua việc xác định mục tiêu, lựa chọn và vận dụng các phương pháp phù hợp để lĩnh hội tri thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng vận động. Đồng thời, người học có thể tổ chức quá trình học tập theo chu trình liên tục gồm tiếp nhận tri thức, thực hành vận động và phản tư sư phạm, qua đó không ngừng hoàn thiện năng lực nghề nghiệp. Bên cạnh đó, năng lực tự học còn gắn với khả năng tự đánh giá, điều chỉnh hoạt quá trình học, cũng như tham gia hiệu quả vào môi trường học tập hợp tác góp phần nâng chất lượng phát triển năng lực nghề nghiệp và năng lực phối hợp trong học tập và công tác.
Những năng lực trên được hình thành, phát triển thông qua quá trình đào tạo và tự rèn luyện trong môi trường đại học. Việc không chú trọng phát triển các năng lực đó sẽ dẫn đến những hạn chế trong thực hành nghề nghiệp, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng thực hiện hiệu quả mục tiêu dạy học của môn học.
3. Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội
Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội là một trong những cái nôi lớn đào tạo rất nhiều thế hệ thầy, cô giáo đã và đang trực tiếp vừa thực hiện nhiệm vụ giáo dục giúp học sinh ở các cấp hình thành, phát triển kỹ năng vận động, thói quen tập thể dục thể thao; đồng thời, phát hiện, bồi dưỡng các tài năng thể thao cho đất nước. Hoạt động nghề nghiệp đặc thù này góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng, nâng cao sức khỏe, cải thiện tầm vóc cho nhiều thế hệ học sinh trở thành những công dân phát triển hài hòa về thể chất, tinh thần đáp ứng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế.
Trong những năm gần đây, hoạt động đào tạo sinh viên ngành Giáo dục thể chất của nhà trường đã có nhiều chuyển biến theo hướng tiếp cận năng lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đổi mới giáo dục đại học và đạt được nhiều thành tựu trong quá trình đào tạo. Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội đã xây dựng chuẩn đầu ra chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực, nhằm bảo đảm sinh viên tốt nghiệp có năng lực sư phạm tiệm cận Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông; đồng thời, đủ khả năng thực hiện vai trò của người thầy với tư cách là nhà giáo dục và người định hướng phát triển nhân cách học sinh. Chương trình đào tạo được điều chỉnh theo hướng phát triển năng lực, chú trọng tích hợp giữa kiến thức chuyên môn thể thao với khoa học giáo dục. Nội dung đào tạo bám sát với những yêu cầu của Chương trình phổ thông năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các học phần kỹ năng nghề nghiệp, như: phương pháp giảng dạy, phương pháp nghiên cứu khoa học, đánh giá học sinh và tổ chức nhiều hoạt động phát triển thể chất đặt biệt được chú trọng.
Hoạt động thực hành và thực tập sư phạm nhất là ở các học phần chuyên sâu đều được tăng cường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tiếp cận môi trường giảng dạy thực tế tại các trường phổ thông. Qua đó từng bước hình thành các năng lực quan trọng như tổ chức lớp học, điều hành hoạt động vận động và xử lý tình huống sư phạm, đồng thời rèn luyện kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và phản tư nghề nghiệp cho sinh viên. Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của giảng viên ngày càng được nâng cao, nhiều phương pháp dạy học tích cực được vận dụng góp phần tăng cường trải nghiệm và thực hành cho sinh viên.
Việc ứng dụng công nghệ trong giảng dạy giáo dục thể chất cũng đã được triển khai ở hầu hết các học phần tạo tiền đề cho đổi mới phương pháp dạy học. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày càng được quan tâm và khuyến khích với nhiều hình thức tổ chức đa dạng như đề tài nghiên cứu, tiểu luận chuyên sâu và các hoạt động ở các học phần có tích hợp nghiên cứu theo hướng tiếp cận đổi mới phương pháp dạy học của môn học đã thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.
Ngoài ra, các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy như sân bãi, nhà thi đấu bể bơi, nhà đa năng và các thiết bị hiện đại được quan tâm đầu tư đã tạo môi trường thuận lợi cho việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời hỗ trợ triển khai các phương pháp dạy học tích cực và các hoạt động thực hành đa dạng. Đặc biệt, nhà trường đã tích cực tăng cường liên kết với các trường phổ thông và tổ chức thể thao, tạo điều kiện để sinh viên thực tập, trải nghiệm thực tế và tiếp cận các cơ hội việc làm. Đồng thời, nhà trường cũng đã và đang thúc đẩy nhanh việc mở rộng hợp tác quốc tế, giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận các mô hình đào tạo và phương pháp giảng dạy đa dạng. Những nỗ lực này góp phần nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, mở rộng mạng lưới quan hệ chuyên môn và phát triển nhận thức toàn cầu cho sinh viên.
Những thành tựu đạt được trong quá trong trình đào tạo của nhà trường đã khẳng định định hướng đổi mới theo phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên là hoàn toàn phù hợp. Sinh viên sau khi tốt nghiệp đã đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, có khả năng thích ứng với môi trường làm việc và từng bước khẳng định vai trò của mình trong hoạt động giáo dục thể chất tại các cơ sở giáo dục. Điều này góp phần nâng cao uy tín và chất lượng đào tạo của nhà trường trong hệ thống đào tạo giáo viên hiện nay. Tuy nhiên, như đánh giá của Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị “Nội dung, chương trình giáo dục còn nhiều bất cập, giáo dục đạo đức, thể chất, thẩm mỹ chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự hiệu quả”4 .
Mặt khác, trước yêu cầu ngày càng cao của đổi mới giáo dục, hoạt động đào tạo vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt là trong việc phát triển năng lực sư phạm, tăng cường gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, cũng như nâng cao khả năng tự học, tự bồi dưỡng của sinh viên. Ngoài ra, cơ hội để sinh viên được trải nghiệm thực tế tại các cơ sở giáo dục phổ thông cần được tăng cường nhằm giúp sinh viên củng cố và vận dụng kiến thức đã học một cách linh hoạt. Việc ứng dụng công nghệ trong dạy học và đánh giá cũng cần được chú trọng hơn để phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục hiện nay. Đây là những yếu tố quan trọng cần tiếp tục được quan tâm, cải thiện nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nghề nghiệp trong bối cảnh giáo dục hiện nay.
4. Giải pháp cơ bản phát triển năng lực sư phạm của sinh viên ngành giáo dục thể chất hiện nay
Thứ nhất, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo.
Để phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên, nhà trường cần tăng cường hơn nữa các chương trình, nội dung đào tạo theo định hướng tích hợp mô hình năng lực thể chất, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/08/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, bám sát Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông cũng như các văn bản hướng dẫn nhiệm vụ Giáo dục thể chất của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo đó, chương trình đào tạo cần trang bị cho sinh viên năng lực thiết kế, tổ chức và đánh giá bài học theo định hướng phát triển năng lực thể chất, với sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sư phạm, gắn kết các yếu tố thể chất – nhận thức – cảm xúc – xã hội trong mối tương tác với môi trường nhằm phát triển năng lực cá nhân của người học.
Cần hướng tới việc hình thành cho sinh viên năng lực thiết kế, tổ chức và đánh giá bài học theo mô hình năng lực thể chất, tích hợp giữa lý thuyết và thực hành sư phạm. Cách tiếp cận này thúc đẩy việc cá nhân hóa lộ trình học tập theo đặc điểm, nhu cầu và năng lực riêng của từng sinh viên, qua đó nâng cao tính thích ứng và hiệu quả giáo dục trong bối cảnh thực tiễn đa dạng. Trên phương diện tổ chức, chương trình được vận hành theo cơ chế đồng bộ, xuyên suốt từ chuẩn đầu ra đến hoạt động dạy học. Các năng lực cốt lõi cần được cụ thể hóa thành các học phần, nhất là nội dung có sự tích hợp các tình huống sư phạm nhằm tăng cường khả năng vận dụng trong thực tiễn.
Đồng thời, phương pháp đào tạo cần được đổi mới theo hướng phát huy vai trò chủ thể của người học, yêu cầu sinh viên tham gia thiết kế, tổ chức và đánh giá hoạt động dạy học trong môi trường học tập ở bậc đại học. Ở góc độ đánh giá và phát triển năng lực, việc áp dụng cơ chế đánh giá đa chiều (kết hợp giữa thành tích thể thao và hành vi sư phạm) cùng với việc xây dựng các môi trường thực hành nghề nghiệp đa dạng (mô phỏng và thực tế) tạo điều kiện để sinh viên hình thành năng lực học tập độc lập và năng lực tự điều chỉnh.
Cần “đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá; thúc đẩy ứng dụng các mô hình giáo dục số, giáo dục trí tuệ nhân tạo, quản trị giáo dục thông minh, trường học số, lớp học thông minh”5. Việc ứng dụng công nghệ trong theo dõi và phân tích các chỉ số vận động giúp sinh viên từng bước tiếp cận phương thức dạy học dựa trên dữ liệu, tích hợp mô hình năng lực thể chất tạo lập một hệ sinh thái đào tạo toàn diện, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa chuẩn đầu ra, quá trình đào tạo và thực tiễn nghề nghiệp.
Thứ hai, đổi mới nội dung kiến thức lý luận và chuyên môn.
Dạy học giáo dục thể chất không chỉ truyền thụ kiến thức về vận động mà còn làm rõ đặc trưng tích hợp giữa khoa học vận động và hoạt động sư phạm. Vì thế, sinh viên cần nắm vững hệ thống tri thức chuyên ngành (lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, kỹ – chiến thuật các môn thể thao) trong mối liên hệ với các khoa học cơ sở (sinh lý học thể dục thể thao, giải phẫu học vận động, y học thể thao) và khoa học huấn luyện.
Sự tích hợp liên ngành này không chỉ giúp củng cố nền tảng khoa học mà còn tạo điều kiện để sinh viên hiểu đúng bản chất của quá trình tổ chức và điều khiển hoạt động dạy học vận động. Trên phương diện phát triển năng lực, quá trình đào tạo cần hướng tới hình thành năng lực tự học và tự bồi dưỡng nghề nghiệp. Trên phương diện vận dụng, cần hướng sinh viên tới việc hình thành năng lực đánh giá và điều chỉnh mối quan hệ giữa yêu cầu của chương trình với đặc điểm nhận thức, thể lực và hứng thú của học sinh. Điều này giúp sinh viên nâng cao sự chủ động học tập và phản tư quá trình giảng dạy, điều chỉnh phương pháp linh hoạt, từ đó lựa chọn nội dung, hình thức dạy học phù hợp, nâng cao hiệu quả giờ học và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh.
Thứ ba, tăng cường các hoạt động rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm.
Bên cạnh hoạt động học tập trên lớp, sinh viên cần tham gia các hoạt động thực hành sư phạm thường xuyên như một thành tố quan trọng trong quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp. Về bản chất, các hoạt động này tạo ra môi trường trải nghiệm nghề nghiệp liên tục, trong đó, sinh viên được đặt vào các tình huống sư phạm giả định và bán thực tiễn, buộc phải vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết nhiệm vụ cụ thể. Do đó, cần “tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kiên cố hóa, hiện đại hóa trường, lớp học; bảo đảm đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt chuẩn, đặc biệt chú trọng đầu tư các phòng học thực hành, trải nghiệm STEM/STEAM, không gian vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất”6.
Cần chú trọng chuyển hóa tri thức lý luận thành năng lực thực tiễn thông qua tập soạn giảng, nghiên cứu bài học, tham gia sinh hoạt học thuật, hoạt động tập thể rèn luyện kỹ năng, nghề nghiệp sư phạm thể chất. Thúc đẩy sinh viên tự giác xây dựng, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao tự tin, bản lĩnh sư phạm, đồng thời phát triển phẩm chất và tác phong giáo viên. Đây là con đường quan trọng để bảo đảm sự phát triển năng lực sư phạm một cách liên tục và bền vững trong quá trình đào tạo.
Thứ tư, nâng cao chất lượng kiến tập, thực tập sư phạm.
Kiến tập và thực tập sư phạm là giai đoạn mang tính bản lề trong đào tạo giáo viên giáo dục thể chất, nơi các yêu cầu về chuẩn đầu ra được kiểm chứng trực tiếp thông qua thực tiễn dạy học tại trường phổ thông. Trong môi trường này, sinh viên với vai trò “giáo viên tập sự” phải tự chủ trong việc: (1) Lập kế hoạch, tổ chức và điều hành hoạt động dạy học cũng như giải quyết các tình huống phát sinh; (2) Quản lý lớp học trong không gian mở, điều chỉnh lượng vận động phù hợp với thể lực học sinh, đảm bảo an toàn tập luyện và duy trì kỷ luật học tập; (3) Giải quyết huống phát sinh (chênh lệch trình độ vận động, tâm lý e ngại của học sinh, hoặc va chạm trong thi đấu). Điều này đòi hỏi sinh viên phải có khả năng quan sát nhanh, phân tích tình huống và đưa ra quyết định sư phạm kịp thời. Sinh viên cần chủ động trong quá trình thực hành sư phạm, tích cực cá nhân hóa lộ trình học tập, ứng dụng lý thuyết vào thực tế để năng lực sư phạm không chỉ được “thể hiện” mà còn được “tái thiết kế” thông qua trải nghiệm thực tế.
Kiến tập và thực tập sư phạm đóng vài trò như một chu trình học tập nghề nghiệp dựa trên trải nghiệm. Hoạt động này còn phản ánh rõ nét mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và trường phổ thông trong việc xây dựng môi trường rèn luyện năng lực sư phạm liên tục cho sinh viên. Do đó, cần tăng cường vai trò của người hướng dẫn (giáo viên hướng dẫn, giảng viên sư phạm) trong việc định hướng, hiệu chỉnh và chuẩn hóa các hành vi nghề nghiệp của sinh viên. Mặt khác, việc tăng cường mối liên kết trong hoạt động đào tạo, tăng cường sự tiếp xúc với học sinh trong sẽ tạo ra một môi trường rèn luyện năng lực sư phạm liên tục giúp sinh viên định hình phong cách giảng dạy cá nhân, tạo tiền đề cho sự thích ứng và phát triển trong bối cảnh nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.
Thứ năm, đẩy mạnh các hoạt động bổ trợ phát triển toàn diện kỹ năng sư phạm.
Các hoạt động như hội thi nghiệp vụ sư phạm, hội nghị nghiên cứu khoa học sinh viên, Câu lạc bộ chuyên đề, Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo có vai trò hỗ trợ thiết thực trong việc hình thành và phát triển năng lực sư phạm. là môi trường “mở” – nơi sinh viên phải chủ động tham gia, tự tổ chức và trực tiếp trải nghiệm các tình huống gần với thực tiễn nghề nghiệp. Vì vậy, với các học động này, sinh viên cần phải chủ động tham gia, tự tổ chức và trực tiếp trải nghiệm các tình huống gần với thực tiễn nghề nghiệp. Sinh viên phải tích cực hơn trong xây dựng giáo án, tổ chức dạy học thử và xử lý các tình huống sư phạm trong điều kiện có áp lực về thời gian và đánh giá.
Việc chủ động tiếp trong lựa chọn vấn đề, thu thập và xử lý số liệu liên quan đến dạy học hoặc huấn luyện thể thao sẽ giúp sinh viên biết phân công nhiệm vụ, quản lý nhóm, duy trì kỷ luật và xử lý các tình huống như chênh lệch thể lực, mâu thuẫn trong thi đấu hoặc sự cố trong quá trình tổ chức. Qua đó, các kỹ năng giao tiếp, tổ chức và xử lý tình huống được hình thành một cách tự nhiên thông qua trải nghiệm. Như vậy, mặc dù không thuộc chương trình chính khóa nhưng các hoạt động này lại có giá trị thực tiễn cao nên các nguồn lực trong phạm vi hoạt động này cần được khai thác hiệu quả hơn nhằm hoàn thiện năng lực sư phạm của sinh viên theo hướng toàn diện, gắn với yêu cầu thực tế của nghề dạy học giáo dục thể chất.
5. Kết luận
Phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục thể chất có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Thông qua việc trang bị kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm, sinh viên có điều kiện hình thành và phát triển các năng lực cần thiết của người giáo viên trong tương lai, đáp ứng với yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản trên là cơ sở cho các nhà trường đào tạo sinh viên ngành Giáo dục thể chất tổ chức các hoạt động phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên một cách hiệu quả trong bối cảnh hiện nay.
Chú thích:
1, 2, 3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Thông tư số 32/2028/BGD-ĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông.
4, 5, 6. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Quốc hội (2019). Luật Giáo dục năm 2019.



