Coordination of social welfare policy implementation by two-tier local governments in Vietnam: opportunities, challenges, and policy recommendations
TS. Nguyễn Đức Thắng
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 không chỉ làm thay đổi cấu trúc tổ chức bộ máy ở địa phương mà còn đặt ra yêu cầu tái thiết kế cơ chế thực thi chính sách trên nhiều lĩnh vực, trong đó có an sinh xã hội. Đây là lĩnh vực có phạm vi bao phủ rộng, tác động trực tiếp đến đời sống của người dân, nhất là các nhóm yếu thế, đồng thời liên quan đến nhiều chủ thể tham gia, nhiều nguồn lực và nhiều quy trình quản lý khác nhau. Trên cơ sở cách tiếp cận quản trị công và tổ chức thực thi chính sách, cho thấy hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ phụ thuộc vào nội dung chính sách hay quy mô nguồn lực mà còn phụ thuộc vào chất lượng phối hợp giữa cấp tỉnh với cấp xã, giữa các cơ quan cùng cấp, giữa bộ máy nhà nước với hệ thống dữ liệu số và các chủ thể xã hội có liên quan.
Từ khóa: An sinh xã hội; phối hợp thực thi chính sách; chính quyền địa phương hai cấp; quản trị địa phương; phân cấp, phân quyền.
Abstract: The implementation of the two-tier local government model in Vietnam, starting July 1, 2025, will not only change the organizational structure of local governments but also necessitate the redesign of policy implementation mechanisms across various sectors, including social welfare. This sector has a broad scope, directly affects people’s lives, particularly vulnerable groups, and involves multiple stakeholders, resources, and diverse management processes. Drawing on public governance and policy implementation approaches, it is evident that the effectiveness of social security policy implementation within the two-tier local government model depends not only on policy content or the scale of resources but also on the quality of coordination among the provincial and commune levels, among agencies at the same level, between the state apparatus and the digital data system, and with relevant social stakeholders.
Keywords: Social security; policy implementation coordination; two-tier local government; local governance; decentralization, devolution.
1. Bối cảnh chính sách và vấn đề nghiên cứu
An sinh xã hội là một trụ cột nền tảng của phát triển bền vững, phản ánh trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm mức sống tối thiểu, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro, hỗ trợ các nhóm yếu thế và củng cố ổn định xã hội. Ở Việt Nam, trong giai đoạn 2021 – 2025, an sinh xã hội tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Báo cáo của Chính phủ cho thấy tổng chi cho an sinh xã hội trong giai đoạn này đạt khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 17% tổng chi ngân sách nhà nước; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% vào năm 2025; trợ giúp thường xuyên được mở rộng cho hàng triệu người có công và đối tượng yếu thế1. Các số liệu đó cho thấy an sinh xã hội ở nước ta đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một chính sách hỗ trợ đơn lẻ để trở thành một cấu phần quan trọng của quản trị phát triển, gắn trực tiếp với ổn định chính trị – xã hội, chất lượng tăng trưởng và niềm tin của người dân vào năng lực điều hành của bộ máy công quyền.
Tuy nhiên, bối cảnh an sinh xã hội hiện nay cũng đang thay đổi theo hướng phức tạp hơn. Bên cạnh các vấn đề truyền thống như nghèo đói, trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công hay bảo hiểm y tế, hệ thống chính sách còn phải đối diện với hàng loạt thách thức mới như già hóa dân số, chuyển dịch cơ cấu lao động, di cư, thiên tai, dịch bệnh, biến động sinh kế và sự gia tăng của các rủi ro xã hội trong môi trường số. Điều đó làm cho yêu cầu của chính sách an sinh xã hội không chỉ là mở rộng diện bao phủ mà còn phải tăng tính linh hoạt, tính tích hợp và năng lực phản ứng nhanh trước các tình huống mới. Nói cách khác, an sinh xã hội ngày càng trở thành một hệ thống chính sách phức hợp, trong đó hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào thiết kế chính sách mà còn phụ thuộc trực tiếp vào năng lực tổ chức thực hiện.
Từ góc độ tổ chức thực thi, an sinh xã hội là lĩnh vực có tính đa đối tượng, đa thủ tục, đa nguồn lực và đa chủ thể tham gia. Một người thụ hưởng có thể đồng thời liên quan đến nhiều chế độ, nhiều cơ quan giải quyết và nhiều nguồn kinh phí khác nhau. Chẳng hạn, một hộ nghèo có thể cùng lúc cần tiếp cận bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí, hỗ trợ nhà ở, vay vốn ưu đãi, đào tạo nghề hoặc trợ giúp xã hội đột xuất. Vì vậy, nếu mỗi cơ quan chỉ xử lý một phần việc theo logic quản lý riêng của mình mà thiếu cơ chế chia sẻ thông tin, liên thông thủ tục, phối hợp nguồn lực và phân định trách nhiệm rõ ràng thì chính sách rất dễ rơi vào tình trạng chậm trễ, bỏ sót đối tượng, xử lý trùng lặp hoặc đẩy phần khó về phía người dân. Trong trường hợp đó, hạn chế lớn nhất không nằm ở chỗ thiếu chính sách mà nằm ở chỗ thiếu một cơ chế phối hợp đủ mạnh để đưa chính sách vào cuộc sống một cách đồng bộ và hiệu quả.
Trong khi yêu cầu của an sinh xã hội ngày càng cao thì tổ chức bộ máy chính quyền địa phương ở Việt Nam lại đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi có tính bước ngoặt. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 xác lập mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, minh bạch, thông suốt, liên tục và gắn với chuyển đổi số. Sau khi Luật được ban hành, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1589/QĐ-TTg ngày 24/7/2025 về Kế hoạch triển khai thi hành Luật; cùng với đó là hệ thống 28 nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cũng được ban hành để chuẩn bị cho việc vận hành mô hình mới từ ngày 01/7/2025. Việc các bộ, ngành phải rà soát hàng nghìn văn bản và hàng nghìn nhiệm vụ, thẩm quyền liên quan cho thấy đây không chỉ là sự thay đổi về cơ cấu tổ chức mà còn là một quá trình tái thiết kế lại quan hệ thực thi chính sách ở địa phương trên quy mô lớn.
Đối với lĩnh vực an sinh xã hội, tác động của sự chuyển đổi này đặc biệt sâu sắc. Trước đây, nhiều quy trình tổ chức thực hiện chính sách thường vận hành qua tầng nấc trung gian là cấp huyện. Khi chuyển sang mô hình hai cấp, hàng loạt công việc phải được phân định lại giữa cấp tỉnh và cấp xã. Điều đó tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức. Cơ hội nằm ở chỗ có thể rút ngắn đường đi của thông tin, giảm tầng nấc trung gian, tăng tính gần dân và nâng cao trách nhiệm trực tiếp của cấp xã. Nhưng thách thức cũng rất rõ: nếu việc phân giao nhiệm vụ, thiết kế quy trình và xác định đầu mối phối hợp không đủ rõ ràng thì rất dễ phát sinh khoảng trống trách nhiệm, chồng chéo thẩm quyền hoặc đứt đoạn trong cung ứng chính sách. Với an sinh xã hội, đây là rủi ro đặc biệt lớn, bởi chỉ một sự chậm trễ nhỏ trong xác nhận đối tượng, cập nhật dữ liệu, chuyển kinh phí hoặc tổ chức chi trả cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân, nhất là nhóm yếu thế.
Ngoài ra, chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức phối hợp trong thực thi chính sách an sinh xã hội. Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội (nay thuộc Bộ Nội vụ) đã duy trì kết nối, chia sẻ bốn cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trong khi đó, ngành Bảo hiểm xã hội đã mở rộng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chíp, ứng dụng định danh điện tử và nhiều nền tảng số trong giải quyết chế độ chính sách. Trên thực tế, việc chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt cũng đã được triển khai ở tất cả các tỉnh, thành phố cho thấy, phối hợp ngày nay không còn chỉ là quan hệ hành chính giữa các cơ quan nhà nước, mà ngày càng gắn chặt với dữ liệu số, hạ tầng thanh toán, định danh điện tử và các nền tảng liên thông2. Điều đó mở ra khả năng nâng cao hiệu quả thực thi, nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới về chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ và tránh làm phát sinh thêm rào cản tiếp cận chính sách đối với nhóm yếu thế.
Từ những phân tích trên, có thể thấy bối cảnh thực thi chính sách an sinh xã hội của chính quyền địa phương hai cấp được cấu thành bởi ba lớp vấn đề đan xen chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, an sinh xã hội đang giữ vai trò ngày càng trung tâm trong quản trị phát triển và ổn định xã hội.
Thứ hai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang tái cấu trúc lại hệ thống tổ chức thực thi ở địa phương.
Thứ ba, chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức phối hợp giữa các chủ thể tham gia thực thi chính sách. Sự gặp nhau của ba lớp bối cảnh này khiến cho việc phối hợp trong thực thi chính sách an sinh xã hội không còn là một yêu cầu kỹ thuật thuần túy của quản lý hành chính, mà trở thành một vấn đề có ý nghĩa thể chế, tổ chức và quản trị công.
2. Những thuận lợi và điểm nghẽn chủ yếu trong phối hợp thực thi chính sách an sinh xã hội của chính quyền địa phương hai cấp
2.1. Những điều kiện thuận lợi chủ yếu
Điều kiện thuận lợi đầu tiên là khung pháp lý mới đã tạo nền tảng rõ hơn cho việc phân công trách nhiệm và tổ chức phối hợp. Việc xác lập mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, cùng với Kế hoạch triển khai thi hành luật và hệ thống nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, đã góp phần thu hẹp vùng mờ về trách nhiệm giữa các cấp chính quyền và giữa các cơ quan có liên quan. Khi thẩm quyền được xác định rõ hơn, cơ chế phối hợp có điều kiện chuyển từ tình trạng phụ thuộc vào tập quán hành chính sang hoạt động dựa trên quy trình, trách nhiệm và khả năng giải trình.
Điều kiện thuận lợi thứ hai là tiến trình chuyển đổi số quốc gia đang cung cấp hạ tầng kỹ thuật mới cho phối hợp trong thực thi an sinh xã hội. Việc kết nối dữ liệu giữa ngành Lao động – Thương binh và xã hội với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, việc sử dụng căn cước công dân gắn chip, VNeID, VssID trong giải quyết chế độ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội cho thấy khả năng phối hợp dựa trên dữ liệu đang từng bước trở thành hiện thực. Trong điều kiện dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông tốt, việc xác định đối tượng, kiểm tra điều kiện hưởng, theo dõi chi trả và giám sát trùng lặp có thể được thực hiện nhanh hơn, chính xác hơn và giảm đáng kể chi phí hành chính.
Điều kiện thuận lợi thứ ba là thực tiễn triển khai chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt đã tạo ra kinh nghiệm phối hợp liên ngành tương đối rõ nét. Việc cả 63 địa phương triển khai hình thức chi trả này, cùng với những kết quả cụ thể ở một số địa phương, như: TP. Hồ Chí Minh hay thành phố Hà Nội cho thấy, khi chính quyền địa phương, cơ quan công an, ngân hàng, bưu điện và cơ quan chuyên môn phối hợp đồng bộ thì có thể tạo ra chuyển biến thực chất trong cung ứng chính sách3. Quan trọng hơn, đây là minh chứng cho thấy phối hợp không chỉ dừng ở trao đổi hành chính mà còn có thể được chuyển hóa thành quy trình phục vụ rõ ràng và đo được bằng kết quả thực tế.
Điều kiện thuận lợi thứ tư là hệ thống thủ tục hành chính và dịch vụ công trong lĩnh vực an sinh xã hội đang từng bước được công khai, chuẩn hóa và số hóa. Một số thủ tục như trợ cấp hưu trí xã hội, tiếp nhận đối tượng bảo trợ xã hội vào cơ sở trợ giúp xã hội đã được cập nhật trên Cổng Dịch vụ công quốc gia với quy trình, thời hạn và đầu mối xử lý tương đối rõ4. Điều này tạo tiền đề để liên thông giữa cấp tỉnh và cấp xã được thiết kế minh bạch hơn, qua đó hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu giảm tầng nấc trung gian và tăng trách nhiệm phục vụ trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Điều kiện thuận lợi thứ năm là bản thân hệ thống an sinh xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025 đã đạt được những kết quả đủ lớn để làm nền cho cải cách phối hợp. Sự cải thiện về giảm nghèo đa chiều, mở rộng trợ giúp xã hội, duy trì và nâng cao độ bao phủ bảo hiểm y tế, cùng với việc chủ động bố trí nguồn lực ở nhiều địa phương, cho thấy bộ máy thực thi đã có tích lũy kinh nghiệm và năng lực nhất định5. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra hiện nay không phải là xây dựng một hệ thống từ đầu mà là tái cấu trúc quan hệ phối hợp để hệ thống đó vận hành nhịp nhàng, hiệu quả và phù hợp hơn với mô hình tổ chức mới.
2.2. Những điểm nghẽn chủ yếu
Một là, nguy cơ khoảng trống trách nhiệm trong giai đoạn chuyển tiếp là điểm nghẽn lớn nhất. Việc không còn cấp huyện đồng nghĩa với việc nhiều nhiệm vụ vốn quen đi qua một tầng nấc trung gian nay phải được phân lại cho cấp tỉnh hoặc chuyển thẳng xuống cấp xã. Về mặt pháp lý, các nghị định đã được ban hành để xử lý việc phân định thẩm quyền; song trên thực tế, từ quy định của trung ương đến quy trình phối hợp cụ thể ở từng địa phương vẫn còn một khoảng cách không nhỏ6. Nếu địa phương chậm ban hành quy chế nội bộ, chậm chỉ định đầu mối hoặc chậm hướng dẫn liên thông hồ sơ thì các lĩnh vực cần phản ứng nhanh, như trợ cấp xã hội, cứu trợ đột xuất, hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, cận nghèo rất dễ rơi vào tình trạng chậm triển khai.
Hai là, tính phân mảnh liên ngành trong chính sách an sinh xã hội vẫn là một hạn chế mang tính cơ cấu. Bản chất của an sinh xã hội là bao trùm nhiều chính sách khác nhau, nhưng hệ thống tổ chức thực thi lại thường vận hành theo từng lĩnh vực quản lý. Điều đó khiến cùng một đối tượng có thể phải đi qua nhiều đầu mối, còn thông tin thì chưa được tích hợp đầy đủ. Việc các thủ tục an sinh vẫn được công bố theo từng lĩnh vực riêng, việc các cơ sở dữ liệu chuyên ngành mới ở giai đoạn kết nối từng phần và việc chi trả không dùng tiền mặt vẫn phải tiếp tục khắc phục các vướng mắc về xác thực, đồng bộ dữ liệu cho thấy tính tích hợp của hệ thống chưa đạt mức cần thiết.
Ba là, năng lực thực thi và năng lực phối hợp của cấp xã chưa đồng đều, trong khi cấp xã lại là nơi phải gánh vác nhiều công việc hơn trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Khi vai trò của cấp xã tăng lên, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cũng thay đổi theo hướng vừa phải hiểu chính sách, vừa phải thành thạo quy trình số, cập nhật dữ liệu, hướng dẫn người dân và xử lý các tình huống liên ngành. Trên thực tế, không phải địa phương nào cũng có ngay đội ngũ đủ mạnh về chuyên môn, hạ tầng số và điều kiện tổ chức để đáp ứng yêu cầu đó. Ở các vùng khó khăn, thách thức này còn lớn hơn do hạn chế về nguồn lực, khoảng cách địa lý và mức độ tiếp cận công nghệ.
Bốn là, kết nối dữ liệu đã có tiến triển nhưng chưa đồng nghĩa với việc dữ liệu đã thật sự đúng, đủ, sạch và sống ở mọi khâu. Việc duy trì kết nối bốn cơ sở dữ liệu ngành với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là một bước tiến quan trọng, song đối với an sinh xã hội, chỉ cần dữ liệu về cư trú, tình trạng hưởng chế độ, tài khoản nhận trợ cấp hoặc biến động đối tượng chưa đồng bộ thì đã có thể dẫn đến chậm chi trả, bỏ sót đối tượng hoặc phải bổ sung hồ sơ nhiều lần. Vì vậy, dữ liệu hiện nay vừa là lợi thế rất lớn, vừa có thể trở thành điểm nghẽn nếu thiếu cơ chế cập nhật, kiểm tra chéo và quy trách nhiệm rõ ràng.
Năm là, quá trình số hóa và chi trả không dùng tiền mặt tuy đem lại hiệu quả rõ rệt nhưng cũng bộc lộ những giới hạn thực tế cần được nhìn nhận thẳng thắn. Không phải mọi đối tượng thụ hưởng an sinh xã hội đều sẵn sàng với tài khoản ngân hàng, điện thoại thông minh hay kỹ năng số. Một bộ phận người cao tuổi, người khuyết tật nặng, người sống ở vùng khó khăn hoặc người ít tiếp cận dịch vụ tài chính số vẫn cần cơ chế hỗ trợ trung gian hoặc phương thức chi trả linh hoạt. Việc thành phố Hà Nội phải ban hành cơ chế hỗ trợ liên quan đến chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực này không thể chỉ dựa vào công nghệ mà cần cả chính sách hỗ trợ và tổ chức thực hiện phù hợp với đặc điểm xã hội của nhóm thụ hưởng.
Sáu là, cơ chế giám sát và đánh giá phối hợp còn nặng về thủ tục, chưa thật sự chuyển sang đánh giá kết quả phục vụ người dân. Nhiều báo cáo hiện vẫn thiên về số lượng văn bản, số cuộc họp, số đầu việc đã triển khai, trong khi những chỉ báo quan trọng hơn phải là thời gian giải quyết hồ sơ, tỷ lệ chi trả đúng hạn, tỷ lệ sai sót, mức độ hài lòng của người dân và khả năng xử lý các trường hợp phức tạp. Nếu không chuyển mạnh sang cách đánh giá dựa trên đầu ra và trải nghiệm của người thụ hưởng, thì phối hợp rất dễ bị đồng nhất với sự tồn tại của hoạt động liên ngành hơn là hiệu quả thực chất của chính sách.
Từ các phân tích nêu trên, có thể khẳng định, việc phối hợp trong thực thi chính sách an sinh xã hội ở mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đứng trước một trạng thái kép. Một mặt, khung pháp lý mới, chuyển đổi số và kinh nghiệm thực tiễn thời gian qua đã tạo ra tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng phối hợp. Mặt khác, sự chuyển đổi mô hình tổ chức, tính phân mảnh liên ngành, năng lực chưa đồng đều của cấp xã, những bất cập về dữ liệu và hạn chế trong cơ chế đánh giá vẫn là các nút thắt đáng lưu ý. Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo nghĩa nội dung mà còn phải thiết kế lại cơ chế phối hợp theo hướng rõ trách nhiệm, tích hợp quy trình, dựa trên dữ liệu và lấy người dân làm trung tâm phục vụ.
3. Một số đề xuất
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phối hợp và phân định trách nhiệm giữa cấp tỉnh với cấp xã.
Cần thiết lập một khung phối hợp thống nhất, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn xử lý, khắc phục nguy cơ chồng chéo hoặc bỏ trống trách nhiệm trong giai đoạn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Mỗi địa phương cần ban hành quy chế phối hợp liên ngành trong thực thi chính sách an sinh xã hội trên cơ sở Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Kế hoạch triển khai thi hành luật và các nghị định về phân cấp, phân quyền. Quy chế phải xác định rõ nhóm việc do cấp xã chủ trì tiếp nhận và xác minh; nhóm việc do cấp tỉnh quyết định; cơ quan đầu mối đối với các hồ sơ liên ngành; trình tự chuyển hồ sơ, phản hồi và giải trình; cơ chế xử lý trường hợp khẩn cấp; trách nhiệm của người đứng đầu khi để chậm trễ, sai sót hoặc bỏ sót đối tượng. Điểm cốt lõi là chuyển từ phối hợp theo thói quen hành chính sang phối hợp theo quy trình có thể kiểm soát và truy trách nhiệm. Bên cạnh đó, cần nguồn lực kỹ thuật để số hóa quy trình, chuẩn hóa biểu mẫu và tổ chức tập huấn cho công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ.
Trong ngắn hạn, địa phương cần rà soát toàn bộ các nhiệm vụ an sinh xã hội đã được chuyển giao sau khi thực hiện mô hình hai cấp; đối chiếu với văn bản trung ương để xác định chính xác các khâu cần quy định lại. Trong trung hạn, hoàn thiện và vận hành quy chế phối hợp thống nhất ở cấp tỉnh, đồng thời chuẩn hóa biểu mẫu, quy trình điện tử và đầu mối xử lý. Trong dài hạn, định kỳ sơ kết, cập nhật quy chế theo kết quả thực thi và các vấn đề phát sinh từ thực tiễn.
Thứ hai, chuẩn hóa quy trình liên thông, lấy người dân làm trung tâm trong tiếp cận chính sách an sinh xã hội.
Cần giảm chi phí hành chính cho người dân, rút ngắn thời gian tiếp cận chính sách và hạn chế tình trạng một đối tượng phải đi lại qua nhiều cơ quan để hoàn tất các quyền lợi an sinh có liên quan. Đề xuất này nhằm xử lý trực diện điểm nghẽn về tính phân mảnh liên ngành và tình trạng quy trình còn chia cắt theo từng lĩnh vực quản lý. Theo đó, cần rà soát toàn bộ “hành trình tiếp cận chính sách” của từng nhóm đối tượng chủ yếu như hộ nghèo, cận nghèo, người có công, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cần trợ giúp đột xuất và người mới đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Trên cơ sở đó, địa phương chuẩn hóa quy trình theo nguyên tắc một đầu mối tiếp nhận, nhiều cơ quan cùng xử lý, một kết quả trả cho người dân. Các thủ tục đã công bố trên Cổng Dịch vụ công quốc gia cần được tích hợp sâu hơn với quy trình nội bộ của địa phương để tránh tình trạng trực tuyến ở khâu tiếp nhận nhưng vẫn thủ công, phân tán ở khâu xử lý. Đối với trường hợp phức hợp, cần xây dựng gói xử lý liên thông thay vì chia nhỏ theo từng chế độ.
Cần sự tham gia đồng bộ của cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội, Công an, Bảo hiểm xã hội, Y tế, Giáo dục, Ngân hàng Chính sách, Cơ quan Cải cách Hành chính và Chính quyền cơ sở. Nguồn lực quan trọng không chỉ là kinh phí mà còn là năng lực thiết kế quy trình, năng lực điều phối liên ngành và hệ thống phản hồi từ người dân để hoàn thiện quy trình một cách thực chất. Trong ngắn hạn, lựa chọn một số nhóm thủ tục có tần suất cao và liên quan đến nhiều đầu mối để thí điểm liên thông, như trợ giúp xã hội thường xuyên, hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và cận nghèo, hoặc chi trả trợ cấp cho người có công. Trong trung hạn, mở rộng liên thông sang các nhóm chính sách phức hợp và tích hợp đồng bộ với dịch vụ công trực tuyến. Trong dài hạn, hình thành mô hình phục vụ theo vòng đời đối tượng và theo nhóm nhu cầu an sinh, thay cho cách tiếp cận thuần túy theo từng thủ tục riêng lẻ.
Thứ ba, xây dựng nền tảng dữ liệu an sinh xã hội dùng chung gắn với chi trả và giám sát số.
Bảo đảm xác định đúng đối tượng, đúng chế độ, đúng thời điểm; giảm trùng lặp, sai sót; đồng thời tạo nền tảng cho chi trả minh bạch và giám sát theo thời gian thực. Đề xuất này xuất phát từ điểm nghẽn về dữ liệu chưa thật sự đồng bộ, kết nối còn từng phần và chi trả điện tử chưa bao phủ đều giữa các nhóm đối tượng. Các địa phương cần xây dựng một cấu trúc dữ liệu dùng chung cho lĩnh vực an sinh xã hội, kết nối tối thiểu các nhóm dữ liệu về dân cư, trợ giúp xã hội, người có công, trẻ em, giảm nghèo, bảo hiểm, hộ tịch, y tế, giáo dục và việc làm. Trên nền tảng đó, cần chuẩn hóa các trường thông tin cốt lõi như tình trạng cư trú, mã định danh, điều kiện hưởng, biến động hộ nghèo, tài khoản chi trả và lịch sử thụ hưởng. Dữ liệu dùng chung phải được gắn trực tiếp với quy trình chi trả không dùng tiền mặt và với hệ thống theo dõi, cảnh báo các trường hợp chậm chi trả, sai lệch thông tin hoặc trùng lặp đối tượng. Như vậy, dữ liệu không chỉ là công cụ lưu trữ mà còn trở thành công cụ phối hợp, giám sát và điều hành.
Cần đầu tư cho hạ tầng số, phần mềm kết nối dữ liệu, an toàn thông tin, chuẩn hóa và làm sạch dữ liệu, cũng như kinh phí hỗ trợ mở rộng chi trả không dùng tiền mặt ở những địa bàn hoặc nhóm đối tượng còn khó khăn. Nguồn lực con người cũng rất quan trọng, nhất là đội ngũ nhập liệu, kiểm tra dữ liệu và hỗ trợ người dân tiếp cận phương thức chi trả mới. Trong ngắn hạn, tập trung làm sạch dữ liệu, đối soát thông tin đối tượng và thống nhất bộ trường dữ liệu tối thiểu giữa các ngành. Trong trung hạn, hoàn thành kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa cấp tỉnh với cấp xã, giữa cơ quan lao động – xã hội với công an, bảo hiểm xã hội và các cơ quan liên quan; đồng thời mở rộng chi trả không dùng tiền mặt theo hướng linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Trong dài hạn, phát triển các bảng điều khiển quản trị để theo dõi tình trạng hồ sơ, tiến độ chi trả, biến động đối tượng và hiệu quả thực thi trên địa bàn.
3.4. Nâng cao năng lực phối hợp của cấp xã gắn với cơ chế giám sát và bảo đảm nguồn lực thực hiện.
Tăng năng lực thực thi thực chất của cấp xã, biến cấp xã thành điểm tiếp nhận, xác minh, hỗ trợ và phản hồi chính sách an sinh xã hội một cách chuyên nghiệp; đồng thời bảo đảm phối hợp được duy trì bằng cơ chế giám sát và nguồn lực ổn định. Đề xuất này xử lý đồng thời hai điểm nghẽn lớn là năng lực chưa đồng đều của cấp xã và cơ chế giám sát, bảo đảm nguồn lực còn hạn chế. Cần xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên biệt cho công chức cấp xã theo hướng liên ngành, tập trung vào kỹ năng xác định đối tượng, sử dụng dịch vụ công, cập nhật dữ liệu số, xử lý hồ sơ phức hợp, hỗ trợ chi trả điện tử và phối hợp với các cơ quan liên quan. Song song với đó, cần thiết lập bộ chỉ số đánh giá hiệu quả phối hợp ở cấp tỉnh và cấp xã, tập trung vào thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ liên thông đúng hạn, tỷ lệ chi trả đúng hạn, tỷ lệ sai sót hoặc bổ sung hồ sơ nhiều lần, mức độ hài lòng của người dân và khả năng xử lý trường hợp khẩn cấp. Kết quả đánh giá cần gắn với trách nhiệm của người đứng đầu và với phân bổ nguồn lực cho năm sau.
Cần bố trí ngân sách ổn định cho đào tạo, tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật, thiết bị làm việc, kết nối mạng, phương tiện phục vụ nhập liệu và xử lý hồ sơ. Đồng thời, cần huy động nguồn lực từ chương trình cải cách hành chính, chuyển đổi số và các chương trình mục tiêu có liên quan để tránh tình trạng giải pháp đúng nhưng không có điều kiện thực hiện đến nơi đến chốn. Trong ngắn hạn, rà soát vị trí việc làm, xác định khoảng trống năng lực của công chức cấp xã và ban hành bộ chỉ số đánh giá phối hợp ở quy mô thí điểm. Trong trung hạn, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo nhóm kỹ năng, triển khai cơ chế hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên từ cấp tỉnh xuống cấp xã và áp dụng thống nhất bộ chỉ số đánh giá trong toàn địa phương. Trong dài hạn, hình thành cơ chế quản trị theo kết quả, trong đó năng lực phối hợp của cấp xã trở thành một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở.
4. Kết luận
Tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp là một bước chuyển quan trọng của quản trị nhà nước ở Việt Nam. Sự thay đổi này không chỉ tác động đến cấu trúc tổ chức bộ máy mà còn đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc phương thức thực thi chính sách ở địa phương. Trong bối cảnh đó, an sinh xã hội là lĩnh vực đòi hỏi cơ chế phối hợp đặc biệt chặt chẽ vì đây là khu vực chính sách đa ngành, đa đối tượng, có mức độ nhạy cảm xã hội cao và tác động trực tiếp đến chất lượng sống của người dân.
Thực tiễn hiện nay cho thấy phối hợp trong thực thi chính sách an sinh xã hội của chính quyền địa phương hai cấp đã có những tiền đề thuận lợi như khung pháp lý rõ hơn, tiến trình phân định thẩm quyền được đẩy mạnh, dữ liệu số từng bước được kết nối, chi trả không dùng tiền mặt được mở rộng và thủ tục hành chính ngày càng được chuẩn hóa. Tuy nhiên, vẫn còn những điểm nghẽn quan trọng như nguy cơ khoảng trống trách nhiệm trong giai đoạn chuyển tiếp, tính phân mảnh liên ngành, năng lực chưa đồng đều của cấp xã, dữ liệu chưa thật sự đồng bộ và cơ chế giám sát còn nặng về thủ tục.
Vì vậy, nâng cao hiệu quả phối hợp trong thực thi chính sách an sinh xã hội ở mô hình chính quyền địa phương hai cấp cần được xem là một trọng tâm cải cách trong giai đoạn tới. Trọng tâm ấy không chỉ nằm ở việc bổ sung thêm chính sách, mà quan trọng hơn là hoàn thiện cơ chế thực thi theo hướng rõ trách nhiệm hơn, tích hợp hơn, dựa trên dữ liệu nhiều hơn, gần dân hơn và được đo lường bằng kết quả phục vụ người dân. Chỉ khi đó, chính sách an sinh xã hội mới thực sự phát huy vai trò là trụ cột của ổn định xã hội và phát triển bao trùm trong bối cảnh quản trị địa phương đang chuyển sang một giai đoạn mới.
Chú thích:
1. Báo cáo kinh tế – xã hội do Thủ tướng Chính phủ trình bày tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. https://baochinhphu.vn/bao-cao-kinh-te-xa-hoi-do-thu-tuong-chinh-phu-trinh-bay-tai-ky-hop-thu-10-quoc-hoi-khoa-xv-102251020091726421.htm
2. Chuyển đổi số trong lĩnh vực BHYT: Tạo thuận lợi tối đa cho người tham gia. https://baohiemxahoi.gov.vn/gioithieu/Pages/gioi-thieu-chung.aspx?CateID=0&ItemID=24852
3. Chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt. https://dangcongsan.org.vn/dongthap/tin-tuc-hoat-dong/chi-tra-tro-cap-khong-dung-tien-mat-cho-doi-tuong-chinh-sach-nhieu-loi-ich-thiet-thuc2.html
4. Tiếp nhận đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vào cơ sở trợ giúp xã hội cấp tỉnh, cấp xã. https://dichvucong.gov.vn/p/home/dvc-tthc-thu-tuc-hanh-chinh-chi-tiet.html?ma_thu_tuc=156424
5. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1589/QĐ-TTg ngày 24/7/2025 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
Tài liệu tham khảo:
1. Tra cứu 28 nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/tra-cuu-cac-nghi-dinh-ve-phan-cap-phan-quyen-phan-dinh-tham-quyen-119250613092002493.htm
2. Thực hiện, điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. https://dichvucong.gov.vn/p/home/dvc-chi-tiet-thu-tuc-dung-chung.html?ma_thu_tuc=1.014027
3. Thông qua nghị quyết quy định mức hỗ trợ chi trả an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội. https://vanban.hanoi.gov.vn/chi-tiet-van-ban/ve-viec-quy-dinh-muc-ho-tro-chi-tra-an-sinh-xa-hoi-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-228331
4. Cầu nối thực hiện công tác an sinh xã hội. https://baohungyen.vn/cau-noi-thuc-hien-cong-tac-an-sinh-xa-hoi-3172670.html



