Implementation of policies supporting the development of small and medium-sized enterprises: a public administration perspective
Trần Trung Hiếu
NCS của Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Nhận diện được vị trí, vai trò của phát triển kinh tế tư nhân, ngày 04/5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, xác định khu vực này là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Đây chính là bước chuyển mạnh mẽ về tư duy phát triển, khẳng định vai trò trụ cột của kinh tế tư nhân trong mô hình tăng trưởng mới cùng với tầm nhìn định hướng và đồng hành của Đảng, Nhà nước. Đây là động lực quan trọng khẳng định vị thế và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, trên thực tế đã có nhiều chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, nhưng chưa thực sự phát huy đúng với vị thế “quan trọng nhất”.
Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa; quản lý công; thực thi chính sách; hỗ trợ doanh nghiệp.
Abstract: Recognizing the position and role of the private economic sector in national economic development, on May 4th, 2025, the Politburo issued Resolution No. 68-NQ/TW on private sector development, identifying this sector as one of the most important driving forces of the national economy. This marks a significant shift in development thinking, affirming the pivotal role of the private sector within the new growth model, accompanied by the strategic vision and guidance of the Party and the State. It also serves as a crucial impetus for strengthening the position and promoting the development of small and medium-sized enterprises (SMEs). However, in practice, although numerous policies have been promulgated for the private sector in general and SMEs in particular, their effectiveness has not fully matched the sector’s designated status as “one of the most important drivers” of the economy.
Keywords: Policy implementation; small and medium-sized enterprises; private sector development; public administration; Resolution No. 68-NQ/TW.
1. Đặt vấn đề
Thực thi chính sách hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa thể chế vào thực tiễn. Quá trình này tập trung hỗ trợ toàn diện từ thể chế pháp lý, tài chính, tín dụng, thuế, đất đai, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và cơ chế phối hợp liên ngành… Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng đã được ban hành nhưng hiệu quả thực thi vẫn còn hạn chế. Những chính sách này chưa phát huy đúng mức với vị thế “quan trọng nhất” mà Đảng và Nhà nước đã xác định. Do đó, nâng cao chất lượng thực thi chính sách đang trở thành yêu cầu cấp thiết cho phát triển tăng trưởng kinh tế bền vững đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2. Thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực kinh tế tư nhân
2.1. Số lượng và quy mô
Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm hơn 98% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp siêu nhỏ, chiếm tới 69,3%; doanh nghiệp nhỏ chiếm 24,5% và chỉ có khoảng 3,5% là doanh nghiệp vừa. Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp hơn 50% GDP, 30% tổng thu ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm (chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế). Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là lực lượng chủ yếu khai thác các thị trường ngách, huy động tối đa nguồn lực trong dân phục vụ phát triển kinh tế – xã hội1.

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính đến hết năm 2025, cả nước có gần 1.020.000 doanh nghiệp hoạt động, có 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với 1.919,2 nghìn tỷ đồng; tổng số vốn đăng ký và tổng số lao động đăng ký là 1.151,4 nghìn lao động, tăng 24,1% về số doanh nghiệp, tăng 24,1% về vốn đăng ký và tăng 15,0% về số lao động so với năm 20242.
Bên cạnh đó, cả nước có 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 34,3% so với năm 2024, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 2025 lên 297.500 doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm 2024 với tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân bổ sung vào nền kinh tế ước đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 20243.
2.2. Về thể chế và thủ tục hành chính
Từ năm 2008, Nhà nước đã ban hành một số chính sách quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (nghị định, nghị quyết, thông tư liên tịch). Đến năm 2017, sau gần 10 năm, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được ban hành đánh dấu bước sự công nhận chính thức cơ chế hỗ trợ cho các doanh nghiệp đã được luật hóa. Tính đến quý I/2026, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành 15 luật, 01 nghị quyết của Quốc hội và ban hành 19 nghị định về phát triển kinh tế tư nhân nói chung. Điều này đã tạo lập nền móng vững chắc trong việc tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực kinh tế tư nhân. Bên cạnh đó, Luật Đầu tư năm 2025đã cắt giảm 38 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều chỉnh phạm vi 20 ngành, nghề, bổ sung các quy định trong việc quản trị chuyển từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Số lượng thủ tục hành chính, thời gian giải quyết thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ đã cắt giảm trên 30%, vượt mục tiêu đề ra.
Hiện nay, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Đặc biệt, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã có sự phân định rõ ràng trách nhiệm hành chính, dân sự và hình sự, giữa cá nhân và pháp nhân trong xử lý vi phạm. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), đã có quy định đối với pháp nhân thương mại, luật đã tạo ra áp lực khiến doanh nghiệp phải siết chặt quản trị nội bộ, xây dựng cơ chế kiểm soát và phòng ngừa rủi ro pháp lý. Nếu xảy ra vi phạm, doanh nghiệp không chỉ phạt tiền mà còn có thể bị đình chỉ hoạt động. Tạo điều kiện cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Mặt khác, sau 9 năm triển khai thực hiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 tồn tại một số bất cập, như: tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa cụ thể, rõ ràng; chưa rõ chính sách hỗ trợ chuyên biệt về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; các quy định đối với nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo4. Một số các quy định còn gây khó khăn và thiệt hại cho doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ khi thời gian ban hành đến thực thi quá gấp, trong khi doanh nghiệp chưa có sự chuẩn bị thích ứng với nội dung của các quy định. Từ đó, phát sinh các chi phi không chính thức khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa không bảo đảm được năng lực tài chính và nhân lực để xử lý các khó khăn, tồn tại này.
2.3. Chính sách hỗ trợ tài khóa, tín dụng
Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu được hỗ trợ thông qua 3 kênh hỗ trợ tín dụng, bao gồm: (1) Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; (2) Quỹ Bảo lãnh tính dụng; (3) Nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa được cấp bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng. Quỹ bảo lãnh tín dụng là một định chế có rất nhiều quốc gia sử dụng để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm bảo đảm vốn bồi thường cho các ngân hàng và bảo lãnh nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế thì khả năng tiếp cận quỹ của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế.
Từ năm 2018 đến nay, số lượng Quỹ bảo lãnh tín dụng có chiều hướng giảm, từ 27 quỹ (năm 2018) xuống 24 quỹ (năm 2022) với số vốn điều lệ gần 1.500 tỷ đồng. Mặc dù Nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và các thông tư hướng dẫn sau 9 năm triển khai đã tạo nguồn vốn vay để phát triển các SME, góp phần tích cực đồng bộ hóa hệ thống chính sách tài chính ngân hàng, thúc đẩy niềm tin kinh doanh đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các quỹ bảo lãnh tín dụng còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế khi giá trị nguồn vốn của các quỹ thấp. Tổng giá trị dư nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế khoảng 2,3 triệu tỷ đồng nhưng mức bảo lãnh tín dụng lại chỉ khoảng 1.500 tỷ đồng cùng với số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 98% thì khả năng hỗ trợ các doanh nghiệp khu vực này rất hạn chế.
Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa khó đáp ứng được các tiêu chí đối với Quỹ Bảo lãnh tín dụng và tiếp cận vay vốn ngân hàng thương mại khi cần phải có tài sản thế chấp trong khi các doanh nghiệp trong khu vực này có quy mô vốn nhỏ, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính hạn chế; gặp nhiều khó khăn trong quản trị doanh nghiệp đặc biệt là quản trị rủi ro khi phụ thuộc hầu hết đối với thị trường. Mặt khác, vốn điều lệ của Quỹ Bảo lãnh tín dụng từ ngân sách nhà nước nên khiến các ngân hàng thương mại và Quỹ Bảo lãnh tín dụng còn e dè trước việc chịu trách nhiệm đối với các rủi ro cao
2.4. Các ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trên thực tế, hiện nay các chính sách ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được áp dụng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Qua đó, thúc đẩy khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, cắt giảm được các chi phí tuân thủ.

Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tuân thủ các quy định về kế toán đồng thời phải tuân thủ các quy định liên quan đến tài chính để có được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp bảo đảm quy định. Bên cạnh đó, năng lực đội ngũ kế toán của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế khi chính sách thuế liên tục có sự điều chỉnh trong thời gian vừa qua.
2.5. Hỗ trợ khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo
Việt Nam đã xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khá đồng bộ. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2025, Việt Nam đứng thứ hạng 44 về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) và đứng thứ 55/100 đối với xếp hạng Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo5. Bên cạnh đó, Việt Nam có khoảng 75.000 doanh nghiệp công nghệ số và 92% doanh nghiệp bắt đầu ứng dụng công nghệ số và hơn 50% duy trì sử dụng sau giai đoạn thử nghiệm6.
| STT | Tên chỉ tiêu/số liệu | Đơn vị tính | Năm 2025 |
| 1 | Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam | Thứ hạng | 44 |
| 2 | Đầu vào đổi mới sáng tạo | Thứ hạng | 50 |
| 3 | Đầu ra đổi mới sáng tạo | Thứ hạng | 37 |
| 4 | Tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo | % | 34,6 |
| 5 | Xếp hạng Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam | Hạng | 55/100 |
| 6 | Số doanh nghiệp khoa học và công nghệ | Doanh nghiệp | 962 (số liệu tính đến tháng 11/2025) |
Về xếp hạng chỉ số môi trường kinh doanh cho đổi mới sáng tạo (IBEI) – StartupBlink công bố, năm 2025, Việt Nam đạt 57,133 điểm, đứng thứ 52 trên toàn cầu và thứ 8 tại châu Á. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ ba sau Singapore và Malaysia, đồng thời đứng trên nhiều nền kinh tế như Indonesia và Thái Lan7. Điều này cho thấy môi trường kinh doanh phục vụ đổi mới sáng tạo của Việt Nam ngày càng được cải thiện và bảo đảm môi trường phát triển công bằng đối với các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi các chính sách còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa do quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế, năng lực nguồn nhân lực, quản trị doanh nghiệp và công nghệ cao còn chưa đáp ứng. Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam và Vụ Kinh tế và Xã hội số (Bộ Khoa học và Công nghệ)8, có khoảng 69% doanh nghiệp mới dừng ở mức ứng dụng cơ bản, như: email, phần mềm kế toán; 16% triển khai công nghệ ERP, CRM, IoT ở mức trung bình; 10% đã số hóa toàn diện và tích hợp AI, 5% chưa bắt đầu chuyển đổi số. Mặt khác, có khoảng 48,8% doanh nghiệp từng sử dụng giải pháp số nhưng đã ngừng do không còn phù hợp; chỉ có 2,2% doanh nghiệp nhỏ và vừa làm chủ công nghệ, 6,2% doanh nghiệp xác định mục tiêu chuyển đổi số và 7,6% có kế hoạch cụ thể9.
2.6. Hỗ trợ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đảng và Nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật nhằm hỗ trợ tư vấn pháp lý cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân, tạo nền tảng định hướng chiến lược để tiếp tục hoàn thiện và triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ pháp lý, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững, minh bạch và tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp tư nhân.
Tuy nhiên, theo Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp)10, hạn chế lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu chính sách mà ở khâu tổ chức thực thi và đánh giá tác động chính sách. Trong đó, một số chính sách khi xây dựng chưa bám sát năng lực tuân thủ của doanh nghiệp nhỏ và vừa, điều này chưa đảm bảo tính khả thi trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các điều kiện thụ hưởng theo quy định. Bên cạnh đó, khi xảy ra các vấn đề liên quan đến pháp lý phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có đội ngũ pháp chế hoặc đội ngũ luật sư kinh nghiệm đồng hành hỗ trợ. Mặt khác, các phương thức hỗ trợ tư vấn pháp lý truyền thống không còn phù hợp, việc ứng dụng và đẩy mạnh các phương thức tư vấn pháp lý mới gắn với công nghệ, thông tin, truyền thông chính sách chưa đáp được yêu cầu thực tiễn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Một là, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và cải cách hành chính.
Trước hết cần sửa đổi sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 (theo Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 14/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ). Đồng thời, sớm hoàn thiện chính sách, pháp luật và cơ chế thực thi hiệu quả để cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh phát triển thành doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển thành các doanh nghiệp lớn. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh. Các chính sách này phải được thiết kế phù hợp, nhằm giảm thiểu tối đa gánh nặng chi phí phát sinh trong quá trình tiếp cận và thực thi quy định pháp luật, đồng thời tăng cường hỗ trợ pháp lý thiết thực, kịp thời và hiệu quả cho các đối tượng này, góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch và bền vững. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính và đẩy mạnh Chính phủ số, theo đó, giảm tối thiểu 30% thời gian, chi phí tuân thủ; mở rộng dịch vụ công mức độ 4, tích hợp National Single Window với cổng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phân cấp và nâng cao năng lực quản trị đối với địa phương, chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.
Hai là, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.
Trước hết, cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 theo hướng thể chế hóa mạnh mẽ cơ chế “hậu kiểm” thay vì “tiền kiểm”, quy định bắt buộc chia sẻ dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhỏ và vừa và trách nhiệm đánh giá thực thi định kỳ (hàng năm hoặc 3 năm/lần) với sự tham gia của hiệp hội doanh nghiệp và chuyên gia độc lập.
Xây dựng Hệ thống quản trị điện tử tích hợp của doanh nghiệp nhỏ và vừa kết nối với Cổng thông tin quốc gia và Cơ chế một cửa quốc gia (NSW), cho phép nộp hồ sơ, thẩm định và giải ngân hỗ trợ hoàn toàn trực tuyến mức độ 4, áp dụng AI và dữ liệu lớn để tự động hóa quy trình, giảm thời gian xử lý từ hàng tuần xuống chỉ vài ngày. Việc này cần kết hợp với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, phấn đấu giảm ít nhất 30% thời gian và chi phí tuân thủ, chuyển mạnh sang thanh tra dựa trên rủi ro để giảm kiểm tra chồng chéo.
Tăng cường giám sát, kiểm tra, đánh giá và trách nhiệm giải trình để đảm bảo chính sách thực sự mang lại hiệu quả trên thực tế. Xây dựng và vận hành bảng theo dõi hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, công khai minh bạch hàng năm để các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cùng theo dõi. Cần thiết lập cơ chế phản ứng nhanh khi phát sinh vướng mắc thực tiễn, nâng cao vai trò giám sát của các chủ thể (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, các viện nghiên cứu, người dân, doanh nghiệp…) để bảo đảm việc thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt hiệu quả trên thực tiễn.
Ba là, triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách tài khoá, tín dụng.
Để khắc phục điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa là tiếp cận vốn và gánh nặng tài chính, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách tài khóa (thuế, chi ngân sách) và tín dụng, chuyển từ hỗ trợ chung sang hỗ trợ có trọng tâm, có điều kiện và dựa trên kết quả. Đồng thời, học hỏi bài học từ khuyến nghị của OECD và kinh nghiệm quốc tế về việc xây dựng chính sách tài chính toàn diện và hiệu quả cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về chính sách tài khóa, cần thể chế hóa và mở rộng các ưu đãi thuế thực chất hơn theo tinh thần Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân và Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15. Đồng thời, cần tăng cường phân bổ vốn đầu tư công có trọng điểm vào hạ tầng số, khu công nghiệp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các chương trình kết nối chuỗi cung ứng, nhằm gián tiếp giảm chi phí hoạt động cho khu vực này.
Về chính sách tín dụng, trọng tâm là nâng cao khả năng tiếp cận vốn thông qua cơ chế bảo lãnh và đa dạng hóa nguồn vốn. Cần tái cơ cấu, tăng vốn điều lệ cho Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEDF) và các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương, nâng tỷ lệ bảo lãnh lên 75 – 85% giá trị khoản vay. Khuyến khích các ngân hàng thương mại cho vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm và phương án kinh doanh thay vì tài sản bảo đảm truyền thống. Cần thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển các sản phẩm tín dụng phù hợp và đa dạng, đặc biệt là cho vay tín chấp và tín dụng xanh dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đang thực hiện chuyển đổi số, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cũng như áp dụng các mô hình kinh tế mới (kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn…). Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để các công ty Fintech và quỹ đầu tư mạo hiểm tham gia sâu hơn vào giai đoạn khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên duy trì việc điều hành tăng trưởng tín dụng một cách linh hoạt, đồng thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng đẩy mạnh triển khai các chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp một cách thường xuyên, hiệu quả. Đặc biệt, cần áp dụng mức lãi suất ưu đãi hơn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên chiến lược của Nhà nước như sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và công nghệ cao.
Bốn là, phát triển khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Tổ chức thực thi hiệu quả và triển khai quyết liệt các nội dung của Đề án 433 (Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030) với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030) hỗ trợ ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, tư vấn xây dựng lộ trình, đào tạo nâng cao năng lực số và thử nghiệm các giải pháp công nghệ. Trong đó, ít nhất 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được hỗ trợ trực tiếp ứng dụng các sản phẩm, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo, đồng thời hình thành khoảng 200 doanh nghiệp nhỏ và vừa tiêu biểu về chuyển đổi số trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Ưu tiên trọng tâm hỗ trợ tối đa 50 – 70% chi phí thuê hoặc mua giải pháp chuyển đổi số, tư vấn chuyên sâu và đào tạo nhân lực số. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bằng cách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận phòng thí nghiệm, trung tâm ươm tạo, không gian làm việc chung và các quỹ đầu tư mạo hiểm, đồng thời thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tổ chức các chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng số cho lãnh đạo và người lao động trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, ưu tiên đào tạo chuyển đổi số cho CEO và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao.
Tăng cường sự đầu tư và đẩy mạnh hợp tác công – tư trong việc phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Xây dựng và nâng cấp hạ tầng số dùng chung (nghiên cứu ứng dụng và phát triển 6G tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, mạng băng rộng) để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận và sử dụng tối ưu. Đồng thời, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tác động của chính sách về khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Năm là, tăng cường cơ chế phối hợp thực thi.
Tăng cường công tác phối hợp liên ngành giữa Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam… và tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan trung ương và địa phương. Cần tăng cường cơ chế phối hợp thực hiện đồng bộ, tập trung vào thể chế hóa trách nhiệm rõ ràng, chia sẻ dữ liệu, giám sát chặt chẽ, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 14/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026 – 2030.
Thực hiện hiệu quả công tác đánh giá, kiểm tra, giám sát và nâng cao trách nhiệm giải trình đối trong việc tổ chức thực thi, phối hợp các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Áp dụng cơ chế hậu kiểm mạnh mẽ thay vì tiền kiểm, gắn kết quả thực thi với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu các bộ, ngành và địa phương thông qua chế tài rõ ràng tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững.
4. Kết luận
Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là yếu tố quyết định để khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Mặc dù trong bối cảnh hiện nay, khung pháp lý đã được hình thành khá đầy đủ, nhưng trên thực tế đã bộc lộ những khó khăn, hạn chế trong việc thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, vì vậy, cần phải có sự nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung. Việc thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là một trong những ưu tiên hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nhằm tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng bền vững và phát triển toàn diện đất nước.
Chú thích:
1. Thủ tướng Chính phủ (2025). Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 25/3/2025 về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2. Cục Thống kê, Bộ Tài chính. Báo cáo số 01/BC-CTK ngày 05/01/2026 về tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
3. Phát triển kinh tế tư nhân là mệnh lệnh hành động với tình cảm từ trái tim đến trái tim, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/trien-khai-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-la-menh-lenh-hanh-dong-voi-tinh-cam-tu-trai-tim-den-trai-tim-119260131155739185.htm, ngày 02/02/2026.
4. Sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa – Yêu cầu cấp thiết. https://diendandoanhnghiep.vn/sua-luat-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-yeu-cau-cap-thiet-10167921.html, ngày 23/12/2025.
5. Số liệu nổi bật về lĩnh vực đổi mới sáng tạo năm 2025. https://mst.gov.vn/so-lieu-noi-bat-linh-vuc-doi-moi-sang-tao-nam-2025-197260106114803857.htm, ngày 06/01/2026.
6. Tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp. https://nhandan.vn/tao-nen-tang-thuc-day-chuyen-doi-so-trong-doanh-nghiep-post930265.html, ngày 15/12/2025.
7. Việt Nam nằm trong top 10 châu Á về môi trường hỗ trợ đổi mới sáng tạo. https://vista.gov.vn/vi/news/khoi-nghiep-doi-moi-sang-tao/viet-nam-trong-top-10-chau-a-ve-moi-truong-ho-tro-doi-moi-sang-tao-12780.html, ngày 08/3/2026.
8. Chuyển đổi số trong doanh nghiệp: Cần sự hỗ trợ từ chính sách. https://www.vietnamplus.vn/chuyen-doi-so-trong-doanh-nghiep-can-su-ho-tro-tu-chinh-sach-post1054268.vnp#google_vignette, ngày 07/8/2025.
9. Báo cáo chuyển đổi số: Chỉ có 2,2% doanh nghiệp làm chủ công nghệ. https://www.vietnamplus.vn/bao-cao-chuyen-doi-so-chi-co-22-doanh-nghiep-lam-chu-cong-nghe-post846351.vnp, ngày 16/02/2023
10. Nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. https://daibieunhandan.vn/nang-cao-hieu-qua-cong-tac-ho-tro-phap-ly-cho-doanh-nghiep-10401219.html, ngày 20/12/2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2018). Đổi mới phương thức hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị cho Việt Nam. H. NXB Thống kê Hà Nội.
2. Arokiasamy, L., & Ismail, M. (2009). The background and challenges faced by the small and medium enterprises. A human resource development perspective. International Journal of Business and Management, 4(10), p. 95.
3. OECD (2021). SME and entrepreneurship policy in Viet Nam. OECD Studies on SMEs and Entrepreneurship. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/30c79519-en.



