Ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở

Applying psychology in developing the leadership and management competencies of lower secondary school principals

Trần Thị Thu Hằng
Trường THCS Trưng Vương, xã Quang Minh, Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông cùng với yêu cầu tăng cường tự chủ, trách nhiệm giải trình của nhà trường đang đặt ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở. Trong quá trình đó, các yếu tố tâm lý, như: nhận thức, cảm xúc, động cơ, hành vi và mối quan hệ xã hội có tác động trực tiếp đến hiệu quả lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng. Thực tiễn cho thấy, nhiều hạn chế trong hoạt động quản trị nhà trường trung học cơ sở hiện nay xuất phát từ việc chưa chú trọng đúng mức đến việc ứng dụng các tri thức của tâm lý học trong phát triển năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ hiệu trưởng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả phát triển năng lực hiệu trưởng, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới quản trị nhà trường trong bối cảnh triển khai chủ trương đột phá phát triển giáo dục – đào tạo hiện nay.

Từ khóa: Năng lực lãnh đạo, quản lý; hiệu trưởng; trung học cơ sở; tâm lý học ứng dụng; quản lý giáo dục.

Abstract: In the context of fundamental and comprehensive reform in general education, together with growing demands for greater school autonomy and accountability, increasingly higher requirements are being placed on the leadership and management competencies of lower secondary school principals. In this process, psychological factors such as cognition, emotion, motivation, behavior, and social relationships have a direct impact on the effectiveness of principals’ leadership and management. In practice, many current limitations in lower secondary school governance stem from insufficient attention to the application of psychological knowledge in developing principals’ leadership and management competencies. Therefore, studying and applying psychology to the development of leadership and management competencies of lower secondary school principals is necessary for improving the effectiveness of the development of principals’ competencies, thereby meeting the requirements for innovation in school governance in the current context of implementing breakthrough policies for educational development and reform.

Keywords: Leadership and management competencies; principals; lower secondary education; applied psychology; educational management.

1. Đặt vấn đề

Tháng 8/2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, xác định mục tiêu xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng cao, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới vào năm 2045. Trước bối cảnh đó, các trường phổ thông nói chung và trường trung học cơ sở nói riêng cũng cần phải nỗ lực thực hiện chiến lược phát triển toàn diện học sinh; đổi mới nội dung, phương pháp dạy học; kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực; đồng thời, huy động nguồn lực, phối hợp với gia đình – xã hội để tạo môi trường học tập an toàn, tích cực cho học sinh. Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, triển khai và giám sát thực thi các chủ trương, chính sách đổi mới giáo dục tại cơ sở. Để thực hiện hiệu quả các mục tiêu và yêu cầu đó, đòi hỏi hiệu trưởng không chỉ quản lý hành chính thuần túy mà phải thực sự là nhà lãnh đạo giáo dục toàn diện, biết điều phối và phát huy tiềm năng đội ngũ, đồng thời xây dựng, truyền tải tầm nhìn, mục tiêu phát triển nhà trường.

Tuy nhiên, trên thực tiễn quản trị nhà trường ở nhiều nơi cho thấy, không ít hạn chế trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở bắt nguồn từ những vấn đề mang tính tâm lý, như: hạn chế trong giao tiếp và tạo ảnh hưởng; khó khăn trong tạo động lực và khích lệ đội ngũ giáo viên; lúng túng trong xử lý xung đột, mâu thuẫn; áp lực tâm lý trong ra quyết định và quản trị thay đổi cũng như sự thiếu ổn định trong việc tự phát triển năng lực nghề nghiệp của chính hiệu trưởng. Những vấn đề này không thể giải quyết hiệu quả nếu chỉ dựa vào các quy định hành chính hoặc biện pháp quản lý mang tính mệnh lệnh. Thực trạng đó đòi hỏi cần phải ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở như một yêu cầu khách quan, xuất phát từ bản chất của hoạt động quản lý giáo dục.

2. Nội dung ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở

2.1. Ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực lãnh đạo và quản trị chiến lược nhà trường

Theo Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông (trong đó có trường trung học cơ sở) ban hành kèm Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20/7/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiệu trưởng phải có năng lực lãnh đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường. Đây là nội dung trọng tâm của quản trị nhà trường theo hướng phát triển. Trên thực tế quản trị nhà trường, năng lực này không chỉ là “lập kế hoạch” theo quy trình hành chính, mà cần phải có năng lực lãnh đạo định hướng (xác lập tầm nhìn, mục tiêu, ưu tiên chiến lược) và quản trị chiến lược (huy động nguồn lực, tổ chức thực thi, theo dõi và điều chỉnh) để nhà trường thích ứng với đổi mới giáo dục phổ thông.

Về bản chất, lãnh đạo định hướng và quản trị chiến lược là quá trình tác động tới nhận thức, niềm tin, động cơ, hành vi của các chủ thể trong nhà trường (gồm: giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh) nhằm tạo đồng thuận và cam kết thực hiện mục tiêu phát triển. Do đó, tâm lý học được ứng dụng trước hết ở năng lực phân tích bối cảnh và ra quyết định. Tâm lý học nghiên cứu sâu về nhận thức giúp hiệu trưởng hạn chế các thiên lệch nhận thức khi đánh giá tình hình (quá tin vào kinh nghiệm cũ, chọn thông tin thuận chiều hay đánh giá rủi ro chủ quan…), từ đó, nâng chất lượng quyết sách chiến lược và lựa chọn ưu tiên phát triển sát với điều kiện nhà trường. Cùng với đó, việc hoạch định chiến lược hiệu quả đòi hỏi mô hình hóa mục tiêu và lộ trình theo cách dễ hiểu, dễ tham gia, dễ đo lường nhằm chuyển hóa kế hoạch từ văn bản thành hành động tập thể1.

Tâm lý học nghiên cứu về động cơ và hành vi của tổ chức nên có thể hỗ trợ hiệu trưởng ở khâu tạo sự đồng thuận và động lực thực thi chiến lược. Với giáo viên, điều quyết định không chỉ là chỉ tiêu mà còn là cảm nhận về ý nghĩa, sự công bằng và cơ hội phát triển nghề nghiệp khi tham gia đổi mới. Vì vậy, hiệu trưởng cần vận dụng các cơ chế tâm lý như ghi nhận, khích lệ, phân quyền hợp lý, thiết kế mục tiêu theo khả năng và tạo sự an toàn về tâm lý để giáo viên dám thử nghiệm2. Hơn nữa, quản trị chiến lược cũng gắn bó chặt chẽ với lãnh đạo sự thay đổi, trong khi đổi mới giáo dục thường đi kèm lo ngại, quá tải, kháng cự thụ động nên hiệu trưởng cần ứng dụng tâm lý học thay đổi để nhận diện “điểm nghẽn tâm lý”, truyền thông theo lộ trình, tạo nhóm nòng cốt, đồng thời củng cố niềm tin bằng các kết quả ngắn hạn. Vai trò lãnh đạo nhà trường trong định hướng, hỗ trợ đội ngũ và nâng cao kết quả học tập.

2.2. Ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực quản trị hoạt động chuyên môn và chất lượng giáo dục

Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông yêu cầu hiệu trưởng trung học cơ sở phải có năng lực quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh và quản lý chất lượng giáo dục. Trong bối cảnh triển khai Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các văn bản cập nhật hướng dẫn thực thi, quản trị chuyên môn của hiệu trưởng trung học cơ sở phải hướng vào phát triển phẩm chất, năng lực người học, đồng thời bảo đảm chất lượng thông qua kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát và cải tiến chất lượng giáo dục. Việc ứng dụng tâm lý học trong quản trị chuyên môn thể hiện ở việc hiệu trưởng trường trung học cơ sở điều hành quá trình dạy – học như một hệ thống tác động tới động cơ, cảm xúc, hành vi và năng lực tự học của học sinh, đồng thời tác động tới niềm tin nghề nghiệp, động lực đổi mới, năng lực sư phạm của giáo viên.

Ở phương diện học sinh trung học cơ sở, hiểu biết tâm lý học giúp hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động giáo dục phù hợp đặc điểm lứa tuổi (nhạy cảm cảm xúc, nhu cầu được tôn trọng, chịu ảnh hưởng mạnh của nhóm bạn, biến động động cơ học tập), từ đó, tổ chức kỷ luật tích cực, hỗ trợ tâm lý học đường và xây dựng môi trường học tập an toàn, lành mạnh. Các nội dung này cần được chỉ đạo tích hợp vào kế hoạch chuyên môn, công tác chủ nhiệm và các hoạt động giáo dục của nhà trường, thay vì xử lý vụ việc theo phản ứng. Trong khi đó, ở phương diện giáo viên, việc hiểu rõ về ứng dụng tâm lý học trong việc tác động tới động cơ nghề nghiệp giúp hiệu trưởng chuyển cách quản trị từ “giám sát – kiểm tra” sang “hỗ trợ – phát triển”. Hiệu trưởng cần thiết kế sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng tại chỗ và hoạt động học tập nghề nghiệp như một quá trình kích hoạt động lực nội tại: tôn trọng tự chủ chuyên môn, tạo cơ hội thử nghiệm, phản hồi mang tính phát triển và ghi nhận nỗ lực đổi mới3.

Đối với quản trị chất lượng, điều quan trọng nhất là đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh. Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT ngày 20/7/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông đã quy định rõ các nguyên tắc đánh giá học sinh trung học cơ sở, nhấn mạnh yêu cầu công bằng, khách quan và đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; đồng thời, coi trọng động viên, khuyến khích, không so sánh học sinh với nhau. Khi triển khai yêu cầu này, hiệu trưởng cần ứng dụng tâm lý học để chỉ đạo giáo viên lựa chọn hình thức, kỹ thuật đánh giá để giảm các áp lực gây hại, tăng phản hồi tích cực, giúp học sinh hiểu mục tiêu và điều chỉnh cách học.

2.3. Ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực quản trị nhân sự và phát triển đội ngũ giáo viên

Theo Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT yêu cầu năng lực quản trị nhân sự đối với hiệu trưởng là một trong những năng lực cốt lõi, bao gồm tổ chức sử dụng, đánh giá, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển nhà trường. Đối với trường trung học cơ sở, quản trị nhân sự không thể chỉ dừng lại ở việc phân công, kiểm tra, xếp loại theo thủ tục, mà cần chuyển sang quản trị dựa trên hiểu biết tâm lý cá nhân, tâm lý nhóm và tâm lý tổ chức để phát huy động lực và năng lực đổi mới của giáo viên trong bối cảnh giáo dục phổ thông đang có những thay đổi sâu sắc và đột phá như hiện nay.

Ứng dụng tâm lý học giúp hiệu trưởng phát triển năng lực tạo động lực và gắn kết đội ngũ. Việc hiểu rõ động cơ dưới góc nhìn tâm lý học giúp hiệu trưởng nhìn nhận ra bản chất động lực nghề nghiệp của giáo viên phụ thuộc nhiều vào cảm nhận về ý nghĩa công việc, sự công bằng, sự ghi nhận, cơ hội phát triển và mức độ được tôn trọng trong tổ chức. Vì vậy, hiệu trưởng sẽ biết cách vận dụng các cơ chế tâm lý, như: ghi nhận kịp thời, trao quyền hợp lý, khuyến khích sáng kiến, tạo điều kiện học tập nghề nghiệp và xây dựng sự an toàn tâm lý trong tổ chuyên môn để giáo viên dám thử nghiệm và chia sẻ kinh nghiệm tốt với nhau. Qua đó, giúp kiến tạo động lực và bầu không khí tâm lý tích cực4.

Bên cạnh đó, việc nắm vững các kỹ năng giao tiếp và tạo động lực còn giúp hiệu trưởng phát triển năng lực đánh giá, phản hồi, phát triển giáo viên theo hướng đánh giá vì sự tiến bộ nghề nghiệp. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT cũng cung cấp hệ tiêu chí chính thức để định hướng bồi dưỡng nhưng để chuẩn trở thành năng lực thực tế, hiệu trưởng cần tổ chức phản hồi mang tính phát triển, giảm sự phòng vệ tâm lý, tăng đối thoại chuyên môn và cá nhân hóa kế hoạch bồi dưỡng theo năng lực, nhu cầu của từng giáo viên.

Ngoài ra, việc ứng dụng tâm lý học nghề nghiệp còn giúp hiệu trưởng phát triển năng lực phòng ngừa rủi ro tâm lý trong đội ngũ, như: căng thẳng, quá tải, suy giảm gắn kết. Trong điều kiện đổi mới giáo dục – đào tạo, nếu hiệu trưởng không nhận diện sớm các tín hiệu tâm lý (mệt mỏi đổi mới, giảm hợp tác, xung đột ngầm) thì các biện pháp quản lý hành chính sẽ thường khiến gia tăng thêm áp lực và giảm hiệu quả. Do đó, quản trị nhân sự hiệu quả cần kết hợp phân bổ công việc hợp lý, truyền thông rõ mục tiêu, xây dựng cơ chế hỗ trợ đồng nghiệp và phát triển cộng đồng học tập chuyên môn, từ đó, giúp hiệu trưởng phát triển năng lực quản trị nhân sự theo hướng nhân văn và hiệu quả, tạo nền tảng cho chất lượng giáo dục của nhà trường đi vào thực chất và bền vững.

2.4. Ứng dụng tâm lý học trong xây dựng văn hóa nhà trường và môi trường giáo dục

Năng lực xây dựng văn hóa nhà trường là một tiêu chí trong quản trị nhà trường hiện đại. Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông theo Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT cũng quy định hiệu trưởng có chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý các hoạt động giáo dục, quản lý giáo viên, học sinh, bảo đảm môi trường giáo dục phù hợp mục tiêu phát triển toàn diện người học.

Việc ứng dụng tâm lý học xã hội và tâm lý học tổ chức giúp hiệu trưởng kiến tạo văn hóa nhà trường thông qua việc định hình chuẩn mực tập thể, cơ chế lan tỏa giá trị và duy trì bầu không khí tâm lý tích cực. Văn hóa nhà trường là thành tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động của nhà trường, trong đó, cán bộ quản lý, đặc biệt là hiệu trưởng, có vai trò quyết định trong việc xây dựng môi trường và các yếu tố văn hóa ở cả “tầng nổi” và “tầng chìm”5. Ở góc độ này, hiệu trưởng cần vận dụng các cơ chế tâm lý, như: nêu gương, công nhận hành vi phù hợp giá trị, thiết kế nghi thức, hoạt động tập thể và tạo cơ chế đối thoại để hình thành niềm tin chung và sự gắn kết giữa các cá nhân trong tập thể nhà trường.

Bên cạnh đó, như trên đã đề cập, xây dựng môi trường giáo dục ở trung học cơ sở cũng gắn liền với quản trị hành vi và kỷ luật học sinh theo hướng tôn trọng nhân phẩm, giảm tổn thương tâm lý. Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học cũng không còn quy định hình thức phê bình học sinh trước lớp, trước trường như trước, phản ánh định hướng quản trị kỷ luật học đường phù hợp tâm lý lứa tuổi và bảo vệ quyền trẻ em6. Theo đó, hiệu trưởng sẽ cần ứng dụng tâm lý học hành vi để phát triển các biện pháp phòng ngừa (quy tắc rõ ràng, củng cố hành vi tích cực, can thiệp sớm), thay vì xử lý trừng phạt gây phản kháng và làm xấu hình ảnh và thương hiệu nhà trường. Ngoài ra, việc ứng dụng tâm lý học còn giúp hiệu trưởng quản trị mâu thuẫn trong tập thể sư phạm và giữa nhà trường, học sinh, phụ huynh theo hướng đối thoại, hòa giải và phục hồi quan hệ. Khi các mối quan hệ được quản trị tốt, văn hóa nhà trường trở thành “năng lực mềm” của tổ chức: tạo sự an toàn, tăng hợp tác, giảm rủi ro và nâng chất lượng giáo dục.

2.5. Ứng dụng tâm lý học trong phát triển quan hệ nhà trường – gia đình – xã hội

Năng lực phát triển quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cũng là một trong những tiêu chuẩn của chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông nói chung và chuẩn hiệu trưởng trường trung học cơ sở nói riêng để huy động sự tham gia của các chủ thể trong và ngoài nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục. Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông cũng quy định nhà trường có trách nhiệm phối hợp với cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục và hiệu trưởng có vai trò là đầu mối tổ chức và điều phối các mối quan hệ đó. Theo đó, ứng dụng tâm lý học trong giao tiếp và vận dụng tốt tâm lý học xã hội giúp hiệu trưởng xây dựng quan hệ với phụ huynh theo hướng hợp tác – tin cậy – đồng hành. Trên thực tế cũng cho thấy, nhiều căng thẳng giữa nhà trường và phụ huynh không thuần túy do “đúng/sai” về chuyên môn, mà phát sinh từ khác biệt về kỳ vọng, cảm xúc và cách diễn giải thông tin. Vì vậy, hiệu trưởng cần vận dụng các nguyên tắc tâm lý, như: lắng nghe chủ động, thừa nhận cảm xúc, diễn đạt đồng cảm và minh bạch thông tin để giảm sự phòng vệ tâm lý, chuyển đối thoại từ tranh cãi sang đồng kiến tạo giải pháp. Điều này phù hợp với các phân tích chính thống về tình trạng phối hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội còn “lỏng lẻo”, cần cơ chế trách nhiệm rõ ràng và mô hình liên kết thực chất để giáo dục trẻ em hiệu quả7.

Trong quản trị quan hệ với xã hội, tâm lý học hỗ trợ hiệu trưởng hiểu cơ chế hình thành dư luận và các hiệu ứng tâm lý đám đông, qua đó chủ động xây dựng “vùng an toàn truyền thông” cho nhà trường. Thay vì phản ứng bị động khi xuất hiện sự cố, hiệu trưởng cần thiết lập kênh trao đổi thường xuyên với phụ huynh, quy trình cung cấp thông tin nhất quán và thông điệp có tính trấn an, định hướng (đặc biệt trong tình huống liên quan đến an toàn học đường). Hiểu rõ các nguyên tắc tâm lý học còn giúp hiệu trưởng huy động nguồn lực xã hội theo hướng tự nguyện, đồng thuận và bền vững: nhận diện động cơ đóng góp của cộng đồng, thiết kế hoạt động phù hợp với giá trị chung và duy trì niềm tin bằng sự minh bạch, công bằng. Qua đó, giúp phát triển quan hệ nhà trường – gia đình – xã hội theo hướng nâng cao năng lực đối thoại, thuyết phục và điều phối các mối quan hệ giữa các chủ thể trong và ngoài nhà trường, tăng hiệu quả giáo dục, giảm rủi ro quản trị phát sinh từ mâu thuẫn, hiểu nhầm và khủng hoảng truyền thông.

2.6. Ứng dụng tâm lý học trong tự phát triển năng lực nghề nghiệp của hiệu trưởng

Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông nói chung và hiệu trưởng trung học cơ sở nói riêng không chỉ xác định tiêu chuẩn các năng lực quản trị nhà trường mà còn đặt ra yêu cầu về phẩm chất nghề nghiệp và phát triển chuyên môn, nghiệp vụ bản thân của người Hiệu trưởng. Việc hiểu rõ và vận dụng tốt các nguyên tắc của tâm lý học hành vi giúp hiệu trưởng phát triển năng lực tự nhận thức, tự điều chỉnh. Tự nhận thức giúp hiệu trưởng nhận diện phong cách lãnh đạo của bản thân, điểm mạnh/yếu trong giao tiếp, xu hướng phản ứng khi căng thẳng, từ đó điều chỉnh cách ra quyết định và cách ứng xử để giảm xung đột, tăng hiệu quả tác động. Trong khi đó, tự điều chỉnh cảm xúc giúp hiệu trưởng duy trì được trạng thái tâm lý ổn định, tránh “lây lan cảm xúc tiêu cực” trong tổ chức, đặc biệt khi phải giải quyết sự cố hoặc mâu thuẫn trong trường học. Đây là năng lực nền tảng để thực thi các nhóm năng lực quản trị khác một cách tỉnh táo và nhất quán.

Bên cạnh đó, vận dụng tốt kiến thức của tâm lý học ứng dụng còn giúp hiệu trưởng quản trị stress nghề nghiệp và phòng ngừa tình trạng kiệt sức. Nhất là trong bối cảnh áp lực đổi mới giáo dục khiến cường độ và tính phức hợp của công việc quản lý gia tăng, dễ dẫn đến quá tải tâm lý nếu thiếu kỹ thuật cân bằng. Vì vậy, hiệu trưởng cần vận dụng các kỹ thuật tâm lý, như: thiết lập ưu tiên, quản trị thời gian, tái cấu trúc nhận thức trước áp lực và xây dựng mạng lưới hỗ trợ chuyên môn. Bản thân các hiệu trưởng trường cũng cần phải tự ý thức bồi dưỡng theo hướng học tập suốt đời, lấy nhu cầu thực tiễn làm trung tâm. Thay vì tham gia bồi dưỡng theo chương trình khung, hiệu trưởng cần biết tự đánh giá theo chuẩn, tự xác định khoảng trống năng lực, lựa chọn nội dung học phù hợp và thực hành tự thân để chuyển tri thức thành năng lực của mình. Định hướng phát triển, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới cũng đã được Đảng, Nhà nước nhấn mạnh trong trong nhiều giai đoạn, qua đó cho thấy tính cấp thiết của yêu cầu chuẩn hóa và nâng cao năng lực đối với đội ngũ này8.

3. Một số giải pháp

3.1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và chương trình bồi dưỡng nhằm tích hợp ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực hiệu trưởng trường trung học cơ sở

Phát triển năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở là nhiệm vụ mang tính hệ thống, gắn liền với chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện và đột phá giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước. Trước bối cảnh đó, việc ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực hiệu trưởng trường trung học cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân mà cần được thể chế hóa thông qua cơ chế, chính sách và chương trình bồi dưỡng chính thống, nhất quán và có tính hệ thống.

Theo đó, trước hết cần tích hợp có chủ đích các nội dung tâm lý học lãnh đạo và quản lý giáo dục vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng hiệu trưởng theo Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông. Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT đã xác định rõ các nhóm năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng, tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai, nội dung bồi dưỡng vẫn còn thiên về cập nhật quy định, quy trình quản lý và kỹ năng hành chính, trong khi các năng lực mang tính “lõi”, như: tạo động lực, giao tiếp lãnh đạo, quản trị xung đột, quản trị cảm xúc và lãnh đạo thay đổi chưa được chú trọng tương xứng. Do đó, cần rà soát, điều chỉnh chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng theo hướng bổ sung các mô-đun về tâm lý học lãnh đạo, tâm lý học tổ chức, tâm lý học giáo dục và tâm lý học phát triển con người, gắn trực tiếp với các nhóm năng lực trong Chuẩn hiệu trưởng.

Cần đổi mới cách thức tổ chức bồi dưỡng hiệu trưởng theo hướng lấy trải nghiệm và thực tiễn quản trị làm trung tâm, thay vì truyền thụ lý thuyết thuần túy. Đặc biệt, việc ứng dụng tâm lý học đối với người học ở vị trí quản lý chỉ thực sự phát triển năng lực khi được tham gia vào các tình huống thực tế, có cơ hội thực hành, trao đổi kinh nghiệm và nhận phản hồi trực tiếp mới có thể phát huy được hiệu quả. Đồng thời, cần tiếp tục gắn ứng dụng tâm lý học với cơ chế đánh giá và phát triển nghề nghiệp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở. Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông không chỉ là công cụ đánh giá cuối kỳ, mà cần được sử dụng như một khung tham chiếu để xây dựng lộ trình phát triển năng lực cá nhân cho mỗi hiệu trưởng. Trên cơ sở kết quả tự đánh giá và đánh giá theo chuẩn, cơ quan quản lý giáo dục cần định hướng nội dung bồi dưỡng phù hợp với khoảng trống năng lực của từng hiệu trưởng, trong đó chú trọng các năng lực có yếu tố tâm lý học, như: lãnh đạo đội ngũ, xây dựng văn hóa nhà trường và phát triển quan hệ xã hội.

Ngoài ra, cần tăng cường vai trò của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục trong nghiên cứu và chuyển giao các tri thức tâm lý học ứng dụng. Các cơ sở này cần chủ động cập nhật kết quả nghiên cứu khoa học về tâm lý học quản lý giáo dục, xây dựng tài liệu bồi dưỡng phù hợp với bối cảnh Việt Nam và đặc thù cấp trung học cơ sở; đồng thời, phối hợp với các địa phương để tổ chức bồi dưỡng linh hoạt, gắn với thực tiễn quản lý trường học. Việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng cũng phù hợp với định hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý giáo dục trong các chiến lược và chương trình phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước.

3.2. Tổ chức triển khai ứng dụng tâm lý học trong quản trị nhà trường ở cấp trường trung học cơ sở

Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định trong việc chuyển hóa tri thức tâm lý học thành năng lực quản trị thực tiễn của hiệu trưởng trường trung học cơ sở. Để thực hiện hiệu quả giải pháp này cần chú trọng các hoạt động sau:

Thứ nhất, cần lồng ghép có hệ thống các nguyên lý tâm lý học vào quy trình quản trị nhà trường. Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, hiệu trưởng chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá các hoạt động giáo dục trong nhà trường; đồng thời, chủ động tích hợp yếu tố tâm lý học vào từng khâu của chu trình quản trị, từ lập kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, đến đánh giá và điều chỉnh hoạt động. Chẳng hạn, khi xây dựng kế hoạch năm học, hiệu trưởng cần tính đến trạng thái tâm lý, mức độ sẵn sàng đổi mới và năng lực thực tiễn của đội ngũ giáo viên để xác định mục tiêu và lộ trình phù hợp, tránh gây quá tải hoặc tâm lý chống đối thụ động.

Thứ hai, cần tổ chức môi trường làm việc và sinh hoạt chuyên môn theo hướng tạo tâm lý an toàn và thúc đẩy tinh thần học tập trong tổ chức. Môi trường làm việc có sự an toàn về tâm lý cao sẽ khuyến khích giáo viên chia sẻ khó khăn, thử nghiệm phương pháp mới và hợp tác trong phát triển chuyên môn. Trong phạm vi quyền hạn của mình, hiệu trưởng trường trung học cơ sở cần thiết kế các hình thức sinh hoạt chuyên môn dựa trên đối thoại, phản hồi mang tính phát triển, hạn chế phê bình công khai gây tổn thương tâm lý. Đây cũng là tinh thần đổi mới quản lý nhà trường theo hướng dân chủ, nhân văn trong giai đoạn hiện nay.

Thứ ba, cần ứng dụng tâm lý học trong quản trị đội ngũ và xử lý các tình huống quản lý phát sinh tại trường trung học cơ sở. Thực tiễn cho thấy, phần lớn các vấn đề phức tạp trong quản lý nhà trường không xuất phát từ thiếu quy định mà từ xung đột lợi ích, khác biệt nhận thức, cảm xúc tiêu cực hoặc giao tiếp không hiệu quả giữa các chủ thể. Vì vậy, hiệu trưởng cần vận dụng tâm lý học giao tiếp và tâm lý học xung đột để xử lý các tình huống, như: mâu thuẫn nội bộ, phản ứng của giáo viên trước đổi mới chuyên môn, hoặc khiếu nại của phụ huynh. Cách tiếp cận dựa trên lắng nghe, thấu hiểu và đối thoại không chỉ giúp giải quyết vấn đề trước mắt mà còn củng cố niềm tin và sự gắn kết lâu dài trong tập thể sư phạm.

Thứ tư, cần xây dựng và duy trì văn hóa nhà trường tích cực như một cơ chế tâm lý hỗ trợ cho hoạt động quản trị nhà trường của hiệu trưởng. Văn hóa nhà trường không hình thành từ các khẩu hiệu hành chính mà từ các chuẩn mực hành vi được lặp lại và củng cố qua thời gian. Hiệu trưởng với vai trò nhà lãnh đạo cần nêu gương trong ứng xử, giao tiếp và ra quyết định, đồng thời tạo cơ chế ghi nhận các hành vi phù hợp giá trị cốt lõi của nhà trường. Đặc biệt, cần khuyến khích hiệu trưởng trường trung học cơ sở định kỳ thực hành tự đánh giá các quyết định quản lý dưới góc độ tâm lý học, như: mức độ tạo động lực, tác động cảm xúc đến đội ngũ, hiệu quả giao tiếp, từ đó giúp hiệu trưởng không ngừng điều chỉnh phong cách lãnh đạo và nâng cao năng lực quản trị của mình. Đây cũng là cách để người hiệu trưởng từng bước hiện thực hóa các yêu cầu của chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông trong điều kiện cụ thể của từng nhà trường.

3.3. Phát huy vai trò chủ động của hiệu trưởng trong việc tự ứng dụng tâm lý học trong việc phát triển năng lực lãnh đạo, quản lý

Tự nhận thức là tiền đề của mọi hình thức phát triển năng lực lãnh đạo, giúp hiệu trưởng hiểu rõ phong cách lãnh đạo của bản thân, các khuynh hướng cảm xúc, phản ứng trước áp lực và ảnh hưởng của mình đối với tâm lý tập thể sư phạm. Thông qua việc đối chiếu hành vi quản lý với các yêu cầu trong chuẩn hiệu trưởng, hiệu trưởng có thể nhận diện những “khoảng trống năng lực” liên quan đến giao tiếp, tạo động lực, quản trị xung đột hay lãnh đạo và dẫn dắt sự thay đổi – những lĩnh vực có hàm lượng tâm lý học cao. Trên cơ sở đó, hiệu trưởng chủ động điều chỉnh cách thức lãnh đạo, tránh tình trạng quản lý theo cảm tính hoặc thói quen cũ không còn phù hợp với bối cảnh đổi mới giáo dục.

Hiệu trưởng cũng cần chủ động rèn luyện năng lực quản lý cảm xúc và kiểm soát stress. Việc vận dụng các kỹ thuật tâm lý học, như: nhận diện sớm dấu hiệu stress, tái cấu trúc nhận thức trước áp lực, cân bằng công việc – cuộc sống và duy trì mạng lưới hỗ trợ chuyên môn là những biện pháp thiết thực giúp hiệu trưởng duy trì sự ổn định tâm lý và bản lĩnh lãnh đạo.

Để duy trì hiệu quả, hiệu trưởng cần chủ động học tập và ứng dụng tâm lý học quản lý trong thực tiễn điều hành nhà trường. Khác với việc tiếp thu tri thức lý thuyết một cách thụ động, học tập hiệu quả đối với cán bộ quản lý đòi hỏi gắn chặt với tình huống thực tiễn. Cùng với đó, bản thân người hiệu trưởng cũng cần thực hành lãnh đạo nêu gương và lan tỏa giá trị tâm lý tích cực trong nhà trường. Do đó, việc tự rèn luyện và thực hành các phẩm chất tâm lý tích cực không chỉ là yêu cầu đạo đức nghề nghiệp, mà còn là phương thức lãnh đạo hiệu quả.

4. Kết luận

Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện và đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay, yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở đang đặt ra ngày càng cấp thiết, không chỉ về phương diện thể chế, quy trình quản lý mà còn ở chiều sâu tác động tới con người và các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường. Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng tâm lý học trong phát triển năng lực lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở có ý nghĩa hết sức quan trọng cả ở phương diện lý luận cũng như thực tiễn.

Nghiên cứu về chủ đề này, tác giả hy vọng bài viết góp phần làm rõ cơ sở khoa học của việc tích hợp các tri thức tâm lý học vào khoa học quản lý giáo dục, qua đó bổ sung và làm phong phú cách tiếp cận phát triển năng lực hiệu trưởng theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông. Việc phân tích vai trò của tâm lý học trong từng nhóm năng lực quản trị giúp khắc phục xu hướng tiếp cận thiên về kỹ thuật hành chính, đồng thời nhấn mạnh bản chất “quản trị con người” của hoạt động lãnh đạo nhà trường của hiệu trưởng trung học cơ sở nói riêng trong quá trình đổi mới quản trị giáo dục – đào tạo hiện nay.

Chú thích:
1. Trần Thị Tuyết Mai (2021). Các mô hình lập kế hoạch chiến lược trong trường học. Tạp chí Khoa học Quản lý giáo dục, số 02(30), tháng 6/2021, tr. 30 – 37.
2. Hà Nguyễn Bảo Khuyên (2016). Vai trò của hiệu trưởng trong việc tạo động lực cho giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường. Tạp chí Khoa học Quản lý giáo dục, số 03 (11)/2016, tr. 61 – 66.
3. Hiệu trưởng như những nhà lãnh đạo chuyên môn: Góc nhìn từ một số quốc gia châu Á và hàm ý đối với giáo dục Việt Nam. https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/89931/225/hieu-truong-nhu-nhung-nha-lanh-dao-chuyen-mon-goc-nhin-tu-mot-so-quoc-gia-chau-a-va-ham-y-doi-voi-giao-duc-viet-nam/
4, 5. Nguyễn Thị Thu Hương (2016). Nhận thức về xây dựng văn hóa nhà trường tại một số trường trung học phổ thông các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học quản lý giáo dục số 02 (10)/2016, tr. 92 – 97.
6. Từ 1/11, không phê bình học sinh trước trường, lớp. https://baochinhphu.vn/tu-1-11-khong-phe-binh-hoc-sinh-truoc-truong-lop-102279363.htm
7. Gia đình – Nhà trường – Xã hội: Cùng đồng hành để giáo dục trẻ em hiệu quả. https://baochinhphu.vn/gia-dinh-nha-truong-xa-hoi-cung-dong-hanh-de-giao-duc-tre-em-hieu-qua-102251127163022678.htm
8. Phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới. https://baochinhphu.vn/phat-trien-doi-ngu-nha-giao-dap-ung-yeu-cau-doi-moi-102202129.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20/7/2018 ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020). Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.
3. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998). Tâm lý học quản. H. NXB Giáo dục.
4. Đỗ Thị Thu Hằng (2022). Xây dựng văn hóa nhà trường trong bối cảnh chuyển đổi số – Vấn đề đặt ra cho cán bộ quản lý trường học. Tạp chí Giáo dục, số 22/2022.
5. Ngô Xuân Hiếu (2023). Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường phổ thông trong bối cảnh hiện nay. Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 286 (4/2023).