Lessons learned from the Party’s leadership in the cause of protecting and promoting the health of the people, 2005–2023
ThS. Nguyễn Đức Thăng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2005 – 2023. Trên cơ sở đó, làm rõ những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa đối với công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng là nhân tố quyết định những thành tựu quan trọng của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đồng thời, những kinh nghiệm chỉ ra có giá trị tham khảo để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong thời gian tiếp theo.
Từ khóa: Bảo vệ; chăm sóc sức khoẻ; Nhân dân; Đảng lãnh đạo; y tế; kinh nghiệm.
Abstract: The article analyzes the Communist Party of Vietnam’s leadership in protecting and caring for people’s health from 2005 to 2023. Based on this, the article clarifies the achievements and limitations and draws some valuable lessons for current state management in the healthcare sector. The research results show that the correct and timely leadership of the Party is the decisive factor for the significant achievements in protecting and caring for people’s health from 2005 to 2023; at the same time, the lessons learned serve as valuable references to continue improving the quality and effectiveness of health protection and care in the future.
Keywords: Health protection and care; people; Party leadership; healthcare; lessons.
1. Đặt vấn đề
Bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân là một trong những chính sách xã hội quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đây không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, gắn liền với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội và ứng phó với các thách thức y tế toàn cầu ngày càng trở nên cấp thiết. Giai đoạn 2005 – 2023 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức và thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân với nhiều chủ trương, chính sách mang tính chiến lược. Những chuyển biến về nhận thức đó đã được cụ thể hoá bằng hệ thống chính sách, pháp luật và các chương trình hành động. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra nhiều vấn đề mới cần tiếp tục giải quyết, đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện, sâu sắc và linh hoạt hơn của Đảng trong giai đoạn tiếp theo.
2. Khái quát quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2005 – 2023
Bước vào giai đoạn đầu của thế kỷ XXI, cùng với những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càng được Đảng ta xác định là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu. Trước yêu cầu cấp thiết đặt ra từ thực tiễn, ngày 23/02/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 46-NQ/TW về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
Nghị quyết xác định 5 quan điểm mang tính nguyên tắc, định hướng cho toàn bộ chiến lược y tế quốc gia: (1) Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội. Đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho phát triển; (2) Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; (3) Thực hiện chăm sóc sức khoẻ toàn diện: gắn phòng bệnh với chữa bệnh, phục hồi chức năng và tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khoẻ; (4) Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt; (5) Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt.
Qua các kỳ Đại hội, Đảng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân và đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Văn kiện Đại hội X của Đảng (năm 2006), nhấn mạnh: Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm mọi người dân được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ1. Trên cơ sở đó, Đảng xác định việc tiếp tục tăng đầu tư để nâng cấp các cơ sở y tế, y tế dự phòng và phát triển bảo hiểm y tế. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) chỉ rõ: Tập trung phát triển mạnh hệ thống chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế2. Nghị quyết Đại hội XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục đề ra nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Trong đó, Đảng xác định: ngân sách nhà nước dành cho y tế phải được điều chỉnh theo hướng đầu tư tập trung cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển và hải đảo…, bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng về chăm sóc sức khoẻ cho người dân.
Trên cơ sở đó, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá XII) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới đã xác định 5 quan điểm, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Trong đó, nhấn mạnh vai trò của mỗi người dân, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; xác định phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh, y tế dự phòng là then chốt, y tế cơ sở là nền tảng” và yêu cầu xây dựng hệ thống mạng lưới y tế phải rộng khắp, gần dân.
Văn kiện Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng, đánh giá: Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được tăng cường, chất lượng dân số từng bước được cải thiện, chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh được nâng cao và từng bước giải quyết tình trạng quá tải ở bệnh viện tuyến trên3 và chỉ rõ các nhiệm vụ trong thời gian tiếp theo, như: đổi mới cơ chế tài chính, cung cấp dịch vụ y tế; khắc phục tình trạng quá tải, phát triển các hình thức khám, chữa bệnh trực tuyến; phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ y tế; đặc biệt nhấn mạnh việc nâng cao năng lực, chủ động phòng chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống, nhất là y tế dự phòng…
Cụ thể hoá chủ trương của Đảng, từ năm 2005 – 2023, Quốc hội, Chính phủ đã thông qua, ban hành các Luật, chiến lược, chương trình, như: Luật Phòng, chống HIV (năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2020), Chiến lược quốc gia về y tế dự phòng (năm 2006), Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Nghị quyết số 18/2008/QH12 ngày 03/6/2008 “về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân”, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, sửa đổi năm 2023, Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân (năm 2013), Chương trình sức khỏe Việt Nam (năm 2018)…
Trong quá trình triển khai, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện:
Một là, nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị và nhân dân về bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ ngày càng được nâng cao.
Sau khi Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị được ban hành, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã trở thành nhiệm vụ chính trị thường xuyên, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị. Qua đó, nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của sức khỏe trong phát triển đã được nâng lên rõ rệt trong các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Các mục tiêu, chỉ tiêu về y tế được lồng ghép ngày càng cụ thể trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các ngành, địa phương. Cùng với đó, nhận thức của người dân về sức khỏe cũng đã có những chuyển biến tích cực. Mỗi cá nhân đều ý thức rõ hơn về việc chủ động bảo vệ và giữ gìn sức khỏe cho bản thân và gia đình. Chăm sóc sức khỏe không còn bị xem là trách nhiệm của riêng Nhà nước, mà là nghĩa vụ, quyền lợi và nhu cầu thiết yếu của mỗi người.
Hai là, cơ chế, chính sách bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được hoàn thiện.
Từ năm 2005 – 2023, hệ thống pháp luật và chính sách y tế đã được xây dựng và hoàn thiện toàn diện, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhiều luật quan trọng đã được ban hành và sửa đổi, như: Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 (sửa đổi 2023), Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi 2014), Luật Dược năm 2016… cùng hàng loạt văn bản hướng dẫn chi tiết về tổ chức, tài chính, nhân lực, xã hội hóa,… Qua đó, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, cải cách thủ tục hành chính, minh bạch giá dịch vụ và quản lý tài chính hiệu quả.
Chi ngân sách nhà nước cho y tế không ngừng tăng: từ 7.608 tỷ đồng (năm 2005) lên 226.264 tỷ đồng (từ năm 2021 – 2023), chiếm khoảng 6,81% tổng chi thường xuyên4. Chính sách Bảo hiểm y tế đạt nhiều thành tựu, tỷ lệ bao phủ tăng từ 56,2% (năm 2010) lên 93,3% (năm 2023)5. Cơ chế thanh toán Bảo hiểm y tế được cải thiện, góp phần kiểm soát chi phí và sử dụng hiệu quả quỹ Bảo hiểm y tế. Chủ trương xã hội hóa y tế được đẩy mạnh, với sự phát triển nhanh của hệ thống y tế tư nhân: đến năm 2023 có 343 bệnh viện và hơn 53.000 phòng khám tư nhân6, đóng góp quan trọng vào cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh, giảm gánh nặng ngân sách.
Ba là, hệ thống bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân không ngừng được củng cố và phát triển.
Mạng lưới y tế dự phòng, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng đã được phát triển ở tất cả các tuyến, tạo thành một hệ thống liên hoàn từ Trung ương đến địa phương. Sự phát triển này bao gồm việc tăng cường năng lực cho các viện, bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương và tỉnh, cũng như các trung tâm y tế dự phòng. Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt từ năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh năm 2005 và kiểm soát tốt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sởi, ho gà, sốt xuất huyết, cúm A/H1N1 và H5N1. Các trạm y tế xã, phường đã được tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế. Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ, nữ hộ sinh/y sĩ sản nhi, và y học cổ truyền ngày càng tăng. Việc triển khai các đề án trọng điểm như Đề án giảm quá tải bệnh viện (theo Quyết định số 92/QĐ-TTg) và Đề án bệnh viện vệ tinh (theo Quyết định số 774/QĐ-BYT) đã góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho các cơ sở y tế tuyến dưới. Đặc biệt, từ sau năm 2020, mô hình khám, chữa bệnh từ xa (telemedicine) được triển khai mạnh mẽ, góp phần đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ y tế trong điều kiện bình thường mới và khi xảy ra dịch bệnh.
Bốn là, công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực y tế được chú trọng; khoa học công nghệ được đẩy mạnh trong nghiên cứu và ứng dụng.
Về nhân lực y tế, công tác đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ y tế được chú trọng, đặc biệt là thông qua việc đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo nhằm tăng cường năng lực thực hành và chuyên môn. Tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân tăng từ 6,5 năm 2005 lên 12,5 năm 2023, điều dưỡng từ 6,5 lên 15 và dược sĩ đại học từ 1,0 lên 3,2 trên vạn dân7. Về khoa học công nghệ, ngành y tế đã đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng, đặc biệt là các kỹ thuật cao và hiện đại. Nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công tại Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực như ghép tạng, ứng dụng tế bào gốc, các kỹ thuật nội soi can thiệp, và các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại. Chuyển đổi số trong y tế đạt nhiều bước tiến quan trọng khi 100% bệnh viện tuyến trung ương và tỉnh đã triển khai phần mềm quản lý bệnh viện, trên 80% tỷ lệ dân số được quản lý sức khoẻ8.
Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, sự lãnh đạo toàn diện, linh hoạt và kịp thời của Đảng đã giúp Việt Nam kiểm soát hiệu quả dịch bệnh trong điều kiện còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và nguồn lực.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật đã đạt được, công tác lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân của Đảng giai đoạn 2005 – 2023 vẫn còn một số hạn chế. Nhận thức về vai trò, vị trí của công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ nhân dân có nơi, có lúc còn chưa đầy đủ, sâu sắc; cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân vẫn còn những bất cập, chồng chéo giữa các ngành, các cấp, thiếu tính liên thông và nhất quán; nhân lực ngành Y tế phát triển về số lượng nhưng bất cập về chất lượng và cơ cấu. Trong ứng phó với đại dịch Covid-19, hệ thống y tế bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng, chưa đáp ứng yêu cầu khi dịch bùng phát; khó khăn trong tiếp cận với dịch vụ y tế khi bùng phát trên diện rộng, dẫn đến tình trạng quá tải hệ thống.
2. Một số kinh nghiệm rút ra
Thứ nhất, nắm chắc diễn biến tình hình, đề ra chủ trương phù hợp trong bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Để có được chủ trương sát đúng, yêu cầu tiên quyết là phải nắm chắc diễn biến tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt trước sự phức tạp của các vấn đề như đại dịch toàn cầu, biến đổi môi trường… Yêu cầu bám sát thực tiễn này càng trở nên cấp thiết khi sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đối mặt với hàng loạt thách thức mới như: già hóa dân số, sự gia tăng bệnh không lây nhiễm, ô nhiễm môi trường và bất bình đẳng trong tiếp cận y tế.
Thực tiễn cho thấy, sau hơn một thập kỷ thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trước những biến đổi sâu sắc của tình hình kinh tế – xã hội và các thách thức mới đối với sức khỏe cộng đồng, Đảng đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, tạo bước chuyển quan trọng trong tư duy lãnh đạo. Điểm nổi bật của nghị quyết này là xác lập quan điểm coi bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội. Đây là sự phát triển về nhận thức, phù hợp với yêu cầu huy động tổng thể các nguồn lực trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và đánh giá những hạn chế trong quá trình triển khai, Đảng tiếp tục điều chỉnh, bổ sung chủ trương thông qua các văn kiện quan trọng như Kết luận số 118-KL/TW ngày 04/01/2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Đặc biệt là Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. So với giai đoạn trước, tư duy lãnh đạo đã có bước tiến rõ rệt khi chuyển trọng tâm từ mô hình thiên về khám, chữa bệnh sang cách tiếp cận phòng bệnh chủ động, lấy y tế dự phòng làm then chốt và y tế cơ sở làm nền tảng. Sự chuyển dịch này không chỉ phản ánh xu hướng hiện đại của quản trị y tế mà còn phù hợp với đặc điểm dịch tễ học ở Việt Nam, nơi các bệnh không lây nhiễm và bệnh mạn tính ngày càng gia tăng, đòi hỏi quản lý sức khỏe liên tục và lâu dài ngay tại cộng đồng.
Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, kinh nghiệm nắm bắt và đánh giá đúng tình hình đã được thể hiện rõ nét. Trước diễn biến nhanh, phức tạp và chưa có tiền lệ của dịch bệnh, Đảng đã theo dõi sát tình hình, kịp thời ban hành các chủ trương và quyết sách linh hoạt theo từng giai đoạn. Quá trình này cho thấy sự kết hợp hiệu quả giữa tư duy chiến lược và khả năng điều hành linh hoạt, bảo đảm vừa kiểm soát dịch bệnh, vừa duy trì ổn định kinh tế – xã hội và an sinh của người dân.
Thứ hai, chú trọng công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn đối với vấn đề tự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe.
Công tác tuyên truyền có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, giúp phổ biến rộng rãi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của chính sách y tế không chỉ phụ thuộc vào năng lực hệ thống cung ứng dịch vụ mà còn gắn chặt với mức độ nhận thức và hành vi của người dân đối với việc phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe.
Trên cơ sở đó, Đảng đã xác định rõ yêu cầu nâng cao năng lực tự chăm sóc sức khỏe của người dân, coi đây là một trụ cột trong chiến lược phát triển y tế. Điểm đáng chú ý là sự chuyển dịch từ cách tiếp cận truyền thông một chiều sang cách tiếp cận lấy người dân làm trung tâm, chú trọng thay đổi hành vi. Theo đó, nội dung truyền thông không chỉ dừng lại ở việc phổ biến kiến thức y tế cơ bản mà từng bước mở rộng sang các vấn đề sức khỏe toàn diện, bao gồm phòng, chống bệnh không lây nhiễm, sức khỏe sinh sản, dinh dưỡng, lối sống lành mạnh và kiểm soát các yếu tố nguy cơ.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy hiệu quả của công tác truyền thông phụ thuộc lớn vào tính phù hợp với đặc điểm văn hóa, xã hội và điều kiện của từng nhóm đối tượng. Việc đa dạng hóa phương thức truyền thông, kết hợp giữa các kênh đại chúng với các hình thức truyền thông trực tiếp tại cộng đồng, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đã góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và mức độ chấp nhận của người dân. Điều này phản ánh sự chuyển biến từ truyền thông đại trà sang truyền thông có mục tiêu, có phân khúc, phù hợp với yêu cầu quản trị hiện đại.
Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò của mạng lưới y tế cơ sở và đội ngũ y tế thôn bản, cộng tác viên dân số – y tế là một yếu tố có ý nghĩa quyết định. Đây là lực lượng trực tiếp gắn bó với cộng đồng, có lợi thế về sự am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và ngôn ngữ, từ đó giúp chuyển tải thông tin y tế một cách hiệu quả và bền vững. Thực tiễn cho thấy, khi hệ thống này được củng cố và vận hành tốt, công tác truyền thông không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn góp phần hình thành hành vi sức khỏe tích cực trong cộng đồng.
Nhờ vậy, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế, mà đã trở thành trách nhiệm chính trị thường xuyên, liên tục và xuyên suốt trong các chủ trương phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Đảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội trên toàn quốc.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ y tế vững mạnh giữ vai trò nòng cốt trong các hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Một trong những kinh nghiệm có ý nghĩa quyết định trong quá trình lãnh đạo của Đảng là nhận thức đúng và nhất quán về vai trò trung tâm của nguồn nhân lực y tế đối với chất lượng và hiệu quả của hệ thống chăm sóc sức khỏe. Thực tiễn cho thấy, mọi cải cách về thể chế hay đầu tư cơ sở vật chất chỉ có thể phát huy hiệu quả khi gắn với một đội ngũ nhân lực đủ năng lực chuyên môn, vững vàng về y đức và được phân bổ hợp lý.
Trên cơ sở đó, Đảng đã xác định rõ phát triển nhân lực y tế là một khâu đột phá, đồng thời nhấn mạnh tính đặc thù của nghề y, đòi hỏi cơ chế tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ phù hợp. Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận không chỉ dừng lại ở việc gia tăng số lượng mà chuyển dần sang nâng cao chất lượng và cơ cấu nhân lực theo hướng đáp ứng yêu cầu của hệ thống y tế hiện đại. Việc đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường thực hành lâm sàng, chuẩn hóa trình độ và mở rộng đào tạo sau đại học đã góp phần từng bước nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế.
Các chính sách ưu tiên đối với vùng sâu, vùng xa như đào tạo theo địa chỉ, luân phiên cán bộ, đưa bác sĩ trẻ về cơ sở không chỉ giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực mà còn góp phần nâng cao năng lực của y tế tuyến cơ sở. Điều này cho thấy sự chuyển biến từ tư duy phát triển nhân lực theo chiều rộng sang tư duy điều tiết và phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, hướng tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe.
Thực tiễn phòng, chống đại dịch Covid-19 đã làm nổi bật hơn vai trò nòng cốt của đội ngũ nhân lực y tế. Trong điều kiện áp lực chưa từng có, lực lượng cán bộ y tế không chỉ thực hiện chức năng chuyên môn mà còn thể hiện năng lực thích ứng, tinh thần trách nhiệm và y đức nghề nghiệp ở mức cao. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh này cũng bộc lộ những hạn chế về số lượng, cơ cấu và chế độ đãi ngộ, cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới chính sách phát triển và quản trị nhân lực y tế theo hướng bền vững hơn.
Thứ tư, coi trọng hợp tác quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Hợp tác quốc tế là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để Việt Nam có thể tiếp cận một cách nhanh chóng các tiến bộ khoa học kỹ thuật y học tiên tiến nhất trên thế giới, làm chủ các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiện đại, cập nhật các mô hình tổ chức và quản lý hệ thống chăm sóc sức khoẻ đã được chứng minh là hiệu quả ở các quốc gia khác. Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế tạo ra những cơ hội quan trọng để Việt Nam huy động một cách hiệu quả các nguồn lực từ cộng đồng quốc tế, bổ sung kịp thời và hiệu quả cho nguồn lực trong nước, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngân sách nhà nước dành cho y tế còn hạn chế so với nhu cầu đầu tư cho phát triển hệ thống y tế toàn diện.
Trên cơ sở đó, Đảng đã xác định hợp tác quốc tế không chỉ nhằm tiếp nhận hỗ trợ mà còn hướng tới nâng cao năng lực nội sinh và từng bước tham gia vào quá trình kiến tạo các chính sách y tế khu vực và toàn cầu. Việc mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế và các đối tác song phương đã giúp Việt Nam tiếp cận nhanh chóng với tri thức, công nghệ và các mô hình quản trị y tế tiên tiến. Đồng thời, đây cũng là kênh quan trọng để huy động các nguồn lực tài chính, kỹ thuật và đào tạo, góp phần bổ sung cho nguồn lực trong nước còn hạn chế.
Thực tiễn cho thấy, hợp tác quốc tế đã đóng vai trò thiết thực trong việc nâng cao năng lực của hệ thống y tế, đặc biệt ở các lĩnh vực như phòng, chống bệnh truyền nhiễm, tiêm chủng mở rộng và phát triển y tế cơ sở. Việc tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác đa phương không chỉ giúp Việt Nam tuân thủ các chuẩn mực quốc tế mà còn nâng cao vị thế và uy tín trong cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là quá trình hợp tác không dừng lại ở việc “tiếp nhận” mà từng bước chuyển sang “chủ động thích ứng và làm chủ”, thể hiện sự trưởng thành về năng lực quản trị.
Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, vai trò của hợp tác quốc tế được thể hiện rõ nét khi trở thành yếu tố quan trọng bảo đảm khả năng tiếp cận vắc xin, công nghệ và kinh nghiệm phòng, chống dịch. Điều này cho thấy, trong điều kiện các nguồn lực trong nước còn hạn chế, việc chủ động hội nhập và tận dụng hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế có ý nghĩa quyết định đối với khả năng ứng phó với các tình huống y tế khẩn cấp.
3. Kết luận
Giai đoạn 2005 – 2023 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thông qua việc ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết và chính sách phù hợp, Đảng đã từng bước hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Đồng thời, thực tiễn cũng cho thấy yêu cầu phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, củng cố y tế cơ sở, tăng cường y tế dự phòng và đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế. Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, đặc biệt là các thách thức về già hóa dân số, dịch bệnh mới nổi và bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ y tế, việc vận dụng hiệu quả những kinh nghiệm đã được tổng kết từ thực tiễn giai đoạn 2005 – 2023 có ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong thời gian tới.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4, 6. Ban Cán sự đảng Bộ Y tế (2023). Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) về việc tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới (ban hành kèm theo Công văn số 1448-CV/BCSĐ ngày 23/5/2023 của Ban cán sự đảng Bộ Y tế).
5, 7. Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê. H. NXB Thống kê.
8. Bộ Y tế (2024). Báo cáo số 11/BC-BYT ngày 04/01/2024: Tổng kết công tác y tế năm 2023 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2024.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1993). Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 của Hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng (khóa VII) về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016). Kết luận số 118-KL/TW ngày 04/01/2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
4. Bộ Chính trị (2005). Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
5. Bộ Y tế (2023). Báo cáo số 1381/BC-BYT ngày 27/10/2023 tổng kết công tác phòng, chống dịch Covid-19.
6. Đào Hồng Lan (2025). Tăng cường bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Tạp chí Cộng sản, số 1053+1054, tr. 121-128.
7. Tổng cục Thống kê (2011). Niên giám thống kê 2010. H. NXB Thống kê.
8. Tổng cục Thống kê (2016). Niên giám thống kê 2015. H. NXB Thống kê.
9. Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám thống kê 2023. H. NXB Thống kê.



