Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền phụ nữ và sự tham gia của phụ nữ trong quản trị quốc gia ở Việt Nam hiện nay

Ho Chi Minh’s views on women’s rights and women’s participation in national governance in Vietnam today

ThS. Nguyễn Thị Như Hoa
Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền phụ nữ và sự tham gia của phụ nữ trong quản trị quốc gia ở Việt Nam hiện nay qua ba phương diện chính: cơ sở tư tưởng, sự vận dụng của Đảng và Nhà nước, cũng như thực trạng tham gia của phụ nữ trong các thiết chế chính trị – hành chính. Từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia thực chất của phụ nữ trong quản trị quốc gia, bao gồm hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác cán bộ nữ, nâng cao hiệu quả cơ chế bảo đảm bình đẳng giới, cải thiện môi trường công vụ và thúc đẩy trách nhiệm giải trình trong thực hiện chính sách. Việc tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền phụ nữ có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, toàn diện và phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; quyền phụ nữ; bình đẳng giới; phụ nữ tham chính; quản trị quốc gia; cán bộ nữ; Việt Nam.

Abstract: This article analyzes Ho Chi Minh’s ideological views on women’s rights and women’s participation in national governance in Vietnam today through three main aspects: the ideological foundation, the Party and State’s application, and the current state of women’s participation in political and administrative institutions. Based on this analysis, the article proposes directions and solutions to strengthen women’s substantive participation in national governance, including improving institutional frameworks, reforming the management of female cadres, enhancing the effectiveness of mechanisms ensuring gender equality, improving the civil service environment, and promoting accountability in policy implementation. The continued creative application of Ho Chi Minh’s ideology on women’s rights is significant for building a modern, comprehensive, and sustainable national governance system in Vietnam today.

Keywords: Ho Chi Minh’s ideology; women’s rights; gender equality; women in politics; national governance; female officials; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền phụ nữ không hình thành một cách biệt lập mà được kiến tạo trên cơ sở hội tụ của nhiều nguồn mạch tư tưởng, lịch sử và thực tiễn cách mạng. Đó là nền tảng tư tưởng giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp cách mạng xã hội. Trong cách tiếp cận của Hồ Chí Minh, phụ nữ không chỉ là đối tượng cần được giải phóng khỏi ách áp bức của chế độ thực dân và phong kiến mà còn phải được xác lập vị thế như một chủ thể tích cực của đời sống chính trị và của công cuộc kiến thiết xã hội mới. Bởi vậy, giải phóng phụ nữ được Người nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời, của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Quan điểm đó cho thấy, việc bảo đảm quyền của phụ nữ không thể dừng lại ở sự khẳng định về mặt nhận thức hay các khẩu hiệu chính trị mà phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được bảo đảm bằng tổ chức xã hội phù hợp và bằng các điều kiện thực tiễn để phụ nữ có thể tham gia hiệu quả vào quản lý nhà nước và đời sống công cộng1.

Bên cạnh nền tảng lý luận cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền phụ nữ còn được bồi đắp sâu sắc từ truyền thống lịch sử – văn hóa của dân tộc Việt Nam, nơi vai trò của phụ nữ luôn gắn bó mật thiết với tiến trình dựng nước và giữ nước. Khi nhắc tới hình tượng Hai Bà Trưng trong thư gửi phụ nữ năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khơi dậy niềm tự hào dân tộc mà còn đặt người phụ nữ đương thời vào dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc, từ truyền thống anh hùng đến trách nhiệm tham gia kháng chiến, kiến quốc và quản trị đất nước. Cách lập luận ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên phương diện chính trị – xã hội, bởi nó khẳng định rằng sự tham gia của phụ nữ vào công việc quốc gia không phải là kết quả của sự “ban phát” quyền lực từ bên ngoài mà là sự tiếp nối chính đáng một vai trò đã được lịch sử và văn hóa dân tộc thừa nhận2.

Không dừng lại ở giá trị truyền thống dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền phụ nữ còn thể hiện sự tiếp thu có chọn lọc tinh thần tiến bộ của phong trào phụ nữ quốc tế, nhất là ở phương diện gắn kết bình đẳng giới với hòa bình, phát triển và tiến bộ xã hội. Trong thư gửi Phụ nữ nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ (08/3/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn những kinh nghiệm và thành tựu của phụ nữ tại các nước xã hội chủ nghĩa trên các phương diện như giáo dục, lao động kỹ thuật và đại diện nghị viện nhằm động viên phụ nữ Việt Nam tiếp tục phấn đấu, vươn lên khẳng định năng lực và vị thế của mình. Đồng thời, qua đó, Người cũng nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao địa vị phụ nữ, mở rộng cơ hội học tập, lao động, tham chính và thụ hưởng thành quả phát triển. Điều này cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền phụ nữ không chỉ mang giá trị dân tộc sâu sắc mà còn hàm chứa tinh thần thời đại, thể hiện một tầm nhìn tiến bộ và nhân văn về vị thế, vai trò của phụ nữ trong cấu trúc quyền lực cũng như trong tiến trình phát triển quốc gia3.

2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ và sự vận dụng của Đảng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người về giải phóng con người, giải phóng xã hội và xây dựng chế độ mới. Trong tư tưởng ấy, phụ nữ không chỉ là lực lượng xã hội đông đảo mà còn là chủ thể chính trị có vai trò trực tiếp trong cách mạng, trong xây dựng nhà nước và phát triển đất nước4.

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nam nữ bình quyền là nguyên tắc cơ bản của chế độ mới. Theo Người, bình đẳng giới không chỉ là yêu cầu đạo đức mà còn là yêu cầu chính trị, pháp lý và xã hội, đòi hỏi phụ nữ phải được bảo đảm quyền bình đẳng với nam giới trong học tập, lao động, tham gia hoạt động xã hội, quản lý nhà nước và đời sống chính trị5.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem giải phóng phụ nữ là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Người cho rằng không thể xây dựng một xã hội tiến bộ nếu phụ nữ còn bị lệ thuộc vào định kiến và tập quán lạc hậu. Trong bài viết Nam nữ bình quyền, người nhấn mạnh đây là “một cuộc cách mạng khá to và khó”, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ thể chế đến nhận thức xã hội6.

Thứ ba, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị và quản trị quốc gia. Người khẳng định phụ nữ không chỉ có đóng góp trong cách mạng, kháng chiến và lao động sản xuất, mà còn phải được tham gia công việc nước, tham gia chính quyền và quản lý xã hội. Trong thư gửi phụ nữ năm 1952, Người vừa biểu dương truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam, vừa yêu cầu phụ nữ “hăng hái tham gia chính quyền”, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của các cấp lãnh đạo trong việc tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển7.

Thứ tư, Người coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ nữ và cho rằng, cần có kế hoạch phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và sử dụng phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Trong Di chúc, Người căn dặn phải có “kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ “phụ nữ” để ngày càng có nhiều phụ nữ phụ trách cả công việc lãnh đạo8.

Thứ năm, Người cũng chỉ ra rằng, định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ là trở lực lớn đối với việc thực hiện quyền phụ nữ. Nếu không thay đổi nhận thức xã hội và xóa bỏ tập quán lạc hậu, bình đẳng giới sẽ khó đạt được hiệu quả thực chất9. Đồng thời, Người luôn gắn việc nâng cao địa vị phụ nữ với chất lượng phát triển xã hội, xây dựng gia đình, đạo đức và kiến thiết đất nước10.

Trên cơ sở kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã từng bước thể chế hóa quyền phụ nữ trong hệ thống chính trị và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 khẳng định nam, nữ bình đẳng về mọi mặt và Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền, cơ hội bình đẳng giới. Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, tiếp tục cụ thể hóa các nguyên tắc và biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trong thực tiễn.

Sự vận dụng đó còn thể hiện rõ trong chủ trương phát triển cán bộ nữ và tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới đều nhấn mạnh yêu cầu nâng cao tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy, cơ quan dân cử và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị. Đây là sự tiếp nối trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về việc bồi dưỡng, cất nhắc và tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển.

Ở phương diện chính sách, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 và Quyết định số 2282/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn 2021 – 2030 đã đặt ra các mục tiêu, chương trình cụ thể nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Cùng với đó, quy định duy trì tối thiểu 35% phụ nữ trong danh sách chính thức người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tiếp tục thể hiện nỗ lực để đại diện phụ nữ trong hệ thống chính trị11. Tuy vậy, như các khuyến nghị quốc tế đã chỉ ra, cơ chế này chỉ thực sự hiệu quả khi đi kèm với các điều kiện hỗ trợ về đào tạo, cơ hội cạnh tranh và môi trường không định kiến.

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn vẫn còn những hạn chế nhất định, nhất là ở hiệu quả thực thi và mức độ chuyển hóa thành quyền lực thực chất của phụ nữ trong bộ máy lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, cần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người theo hướng không chỉ mở rộng sự hiện diện của phụ nữ mà còn nâng cao năng lực lãnh đạo, chất lượng tham gia và ảnh hưởng thực chất của phụ nữ trong quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách công.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ có giá trị sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, bao quát từ nguyên tắc nam nữ bình quyền, giải phóng phụ nữ, phát huy vai trò chính trị của phụ nữ, xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đến chống định kiến giới và bảo đảm điều kiện phát triển toàn diện cho phụ nữ. Đảng đã vận dụng khá toàn diện những tư tưởng đó vào hệ thống chủ trương, chính sách và pháp luật về công tác phụ nữ và bình đẳng giới. Trong bối cảnh hiện nay, tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và xây dựng hệ thống chính trị phát triển bền vững.

3. Thực trạng tham gia của phụ nữ trong quản trị quốc gia

Sự tham gia của phụ nữ trong quản trị quốc gia ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa yêu cầu đại diện và mức độ tham gia thực chất. Trong các thiết chế dân cử, kết quả bầu cử nhiệm kỳ 2021-2026 cho thấy, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt 30,26% (151/499), vượt ngưỡng 30% nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 35% được đặt ra trong một số định hướng chính sách và khuyến nghị quốc tế12. Ở cấp địa phương, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2021 – 2026 đạt khoảng 29,0% ở cấp tỉnh, 29,1% ở cấp huyện và 29,0% ở cấp xã13. Mặc dù cho thấy xu hướng cải thiện, các tỷ lệ này vẫn thấp hơn mức bình quân toàn cầu về đại diện nữ trong cơ quan dân cử địa phương là 35,5%14.

Thực tiễn địa phương cũng cho thấy mức độ tham gia của phụ nữ còn thiếu đồng đều giữa các địa bàn. Một số nơi đạt tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân khá cao, như TP. Hồ Chí Minh với khoảng 43,62%, trong khi nhiều địa phương khác chỉ dao động ở mức 25-30%15. Điều này cho thấy hiệu quả chuyển hóa từ cơ cấu ứng cử sang kết quả trúng cử còn phụ thuộc lớn vào chất lượng tạo nguồn, quy trình hiệp thương và bối cảnh chính trị – xã hội của từng địa phương.

Trong hệ thống hành chính nhà nước, sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo đã được mở rộng nhưng chưa phản ánh đầy đủ mức độ chia sẻ quyền lực. Theo số liệu đến ngày 31/12/2024, có 46,67% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ; ở địa phương, 48/63 tỉnh có lãnh đạo chủ chốt là nữ; tỷ lệ này ở cấp huyện và cấp xã lần lượt khoảng 44,56% và 46,58%. Tuy nhiên, nếu tính theo số lượng cá nhân nắm giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt, tỷ lệ nữ chỉ khoảng 14,2%; đồng thời, tại thời điểm thống kê chưa có Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là nữ. Ở Trung ương, tỷ lệ nữ bộ trưởng và tương đương chỉ khoảng 13-14%, còn nữ thứ trưởng hoặc cấp phó khoảng 13%16.

Tổng hợp từ thông tin nhân sự trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ đạt 31,8% (7/22); tỷ lệ nữ lãnh đạo trên tổng số lãnh đạo chủ chốt đạt 14,2% (18/127 người). Chính phủ hiện có 01 nữ Phó Thủ tướng, 03/22 Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là nữ (13,6%) và 14/107 Thứ trưởng và cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ là nữ (13,1%). Hiện không có Chủ tịch UBND cấp tỉnh là nữ. Có 15/34 tỉnh, thành phố có nữ Phó Chủ tịch UBND (44%). Tổng cộng có 19/187 lãnh đạo UBND cấp tỉnh là nữ (10,2%)17.

Những số liệu này cho thấy, phụ nữ đã tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước, nhưng chủ yếu ở mức hiện diện cơ cấu, chưa đạt sự tham gia tương xứng ở các vị trí quyền lực cao nhất.

Trong tổ chức Đảng, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy vẫn còn khiêm tốn, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cán bộ nữ cho toàn bộ hệ thống chính trị. Tỷ lệ nữ trong Bộ Chính trị là 6,25% và trong Ban Chấp hành Trung ương khoảng 10,65%, phản ánh tốc độ gia tăng còn chậm19. Khi nguồn cán bộ nữ ở cấp ủy còn mỏng, khả năng hình thành đội ngũ nữ giữ vị trí cấp trưởng trong hành chính cũng bị hạn chế, kéo dài mô thức phổ biến “nam trưởng, nữ phó”. Đây là rào cản mang tính cấu trúc, bên cạnh ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa và mạng lưới quan hệ không chính thức.

Tổng thể, thực trạng hiện nay cho thấy Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc mở rộng sự tham gia của phụ nữ vào các thiết chế quản trị quốc gia. Tuy nhiên, mức độ tham gia này vẫn thiên về chiều rộng hơn chiều sâu. Phụ nữ đã gia tăng tỷ lệ hiện diện trong cơ quan dân cử, tổ chức Đảng và hệ thống hành chính nhà nước, nhưng vẫn còn hạn chế rõ rệt ở các vị trí lãnh đạo cao nhất và trong khả năng chuyển hóa từ tham gia hình thức sang tham gia thực chất trong quá trình ra quyết định.

4. Một số giải pháp

Một là, rà soát và chuẩn hóa cách hiểu về khái niệm “lãnh đạo chủ chốt là nữ”, đồng thời xây dựng hệ thống theo dõi thống nhất trên hai phương diện: tỷ lệ cơ quan có lãnh đạo chủ chốt là nữ và tỷ lệ nữ trong tổng số vị trí lãnh đạo chủ chốt, bao gồm cả cấp trưởng và cấp phó, theo từng ngành, từng cấp và từng địa phương. Hệ thống này cần được triển khai đồng bộ giữa cơ quan quản lý cán bộ, cơ quan phụ trách bình đẳng giới và hệ thống thống kê nhà nước, gắn với cơ chế công bố dữ liệu thường niên nhằm tăng cường giám sát chính sách. Cùng với đó, các mục tiêu về tỷ lệ cơ quan có lãnh đạo chủ chốt là nữ theo Chiến lược quốc gia giai đoạn 2021-2030 cần được chuyển hóa thành tiêu chí bắt buộc trong đánh giá trách nhiệm của người đứng đầu và các cơ quan tham mưu công tác cán bộ. Trường hợp không đạt chỉ tiêu phải có giải trình rõ nguyên nhân và lộ trình khắc phục cụ thể, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình trong tổ chức thực hiện.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quota ứng cử theo hướng nâng cao hiệu quả thực chất. Không chỉ duy trì tỷ lệ tối thiểu 35% phụ nữ trong danh sách ứng cử, mà còn cần có hướng dẫn kỹ thuật về cơ cấu ứng cử, hỗ trợ kỹ năng vận động, tiếp xúc với cử tri, truyền thông chính trị và kiểm soát khuynh hướng định kiến giới trong truyền thông bầu cử. Ở trung hạn, trọng tâm cần đặt vào toàn bộ chuỗi tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ nữ. Trên cơ sở các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới và tinh thần của GR25, có thể nghiên cứu áp dụng quota đầu ra đối với một số vị trí lãnh đạo, quản lý có ảnh hưởng lớn, nhất là ở cấp trưởng sở, ngành, phòng chuyên môn và lãnh đạo chính quyền địa phương. Việc áp dụng cần có thời hạn, tiêu chí đánh giá và cơ chế điều chỉnh phù hợp, nhằm bảo đảm vừa thúc đẩy bình đẳng thực chất, vừa giữ vững yêu cầu về chất lượng cán bộ.

Ba là, cần xây dựng các chương trình phát triển lãnh đạo nữ trong khu vực công theo hướng gắn với quy hoạch cán bộ, ưu tiên cán bộ nữ trẻ, cán bộ nữ ở vùng khó khăn và phụ nữ dân tộc thiểu số. Nội dung đào tạo cần vượt ra ngoài bồi dưỡng kiến thức đơn thuần, tập trung nhiều hơn vào kỹ năng lãnh đạo, quản trị thay đổi và triển khai các dự án cải cách cụ thể tại cơ quan, địa phương. Đây cũng là sự vận dụng trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng, cất nhắc phụ nữ một cách chủ động và có kế hoạch. Bên cạnh đó, cần giảm gánh nặng kép cho phụ nữ thông qua việc mở rộng dịch vụ chăm sóc, thiết kế môi trường công vụ linh hoạt và xây dựng văn hóa tổ chức bao trùm. Điều này đòi hỏi vừa hoàn thiện chính sách làm việc linh hoạt, vừa tăng cường hỗ trợ chăm sóc trẻ em và người phụ thuộc, đồng thời hạn chế các rào cản phi chính thức trong văn hóa công sở, nhất là những hình thức giao lưu, kết nối mang tính loại trừ đối với nữ giới.

Bốn là, cần hướng tới bình đẳng cấu trúc trong toàn bộ hệ thống chính trị – hành chính. Theo đó, trách nhiệm giới phải được thể chế hóa như một thành tố bắt buộc trong công tác cán bộ; mọi kế hoạch nhân sự trung hạn của bộ, ngành và địa phương cần có phân tích giới, có chỉ tiêu định lượng tối thiểu về tỷ lệ nữ giữ vị trí cấp trưởng và có nguồn lực bảo đảm thực hiện. Đồng thời, giáo dục bình đẳng giới và năng lực lãnh đạo cần được tích hợp vào chương trình đào tạo công vụ, bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý như một chuẩn năng lực nghề nghiệp trong khu vực công, thay vì chỉ dừng ở hoạt động tuyên truyền chung. Đây cũng là cách chuyển các quy định hiện hành về truyền thông và giáo dục bình đẳng giới thành năng lực thể chế bền vững.

Năm là, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm theo hướng chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường so sánh chính sách và định kỳ công bố báo cáo quốc gia về phụ nữ trong chính trị và công vụ theo chuẩn quốc tế, trên cơ sở đối chiếu với SDG 5.5 và các khuyến nghị của CEDAW. Đây là điều kiện quan trọng để vừa nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, vừa đánh giá thực chất tác động của việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo và quản trị quốc gia.

Chú thích:
1, 4, 5, 6, 9. Hồ Chí Minh (1952). Nam nữ bình quyền.
2, 7. Hồ Chí Minh (1952). Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3/1952).
3, 10. Hồ Chí Minh (1960). Thư gửi phụ nữ toàn quốc nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3/1960).
8. Hồ Chí Minh (1969). Di chúc.
11. Quốc hội (2025). Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2025.
12. Việt Nam Women’s Union (2021). Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (khóa XV) đạt 30,26%.
13, 15, 18. Gender Statistics 2020. https://asiapacific.unwomen.org/en/digital-library-2
14. United Nations. (n.d.). Goal 5: Gender equality; Target 5.5 and global progress.
16, 17. Tăng cường tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. https://tcnnld.vn/news/detail/70897/Tang-cuong-ty-le-nu-lanh-dao-quan-ly-trong-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-o-Viet-Nam.html.
19. Tỷ lệ nữ ủy viên Bộ Chính trị đạt 6,25%, nữ ủy viên Trung ương khóa 13 đạt 10,65%. https://vietnamnet.vn/ti-le-nu-uy-vien-bo-chinh-tri-dat-6-25-nu-uy-vien-trung-uong-khoa-13-10-65-2445064.html
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Bí thư (2018). Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới.
2. Bộ Chính trị (2007). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
4. Quốc hội (2006). Luật Bình đẳng giới năm 2006.
5. Chính phủ (2009). Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới.
6. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021–2030.
7. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 2282/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 phê duyệt Chương trình tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn 2021–2030.
8. CEDAW Committee (2004). General Recommendation No. 25 on article 4, paragraph 1, of the Convention (temporary special measures).
9. CEDAW Committee (2015). Concluding observations on the combined seventh and eighth periodic reports of Viet Nam (CEDAW/C/VNM/CO/7-8). United Nations.
10. UN Statistics Division (2023-2024). SDG Indicator metadata 5.5.1(a) and 5.5.1(b).