Một số đặc điểm và những vấn đề đặt ra đối với nâng cao chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1

Some characteristics and challenges regarding the improvement of the quality of mass mobilization work by the Provincial Military Command within Military Region 1

ThS. Thượng tá Bùi Xuân Tuấn
NCS của Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng và hoạt động khu vực phòng thủ tỉnh, thế trận phòng thủ Quân khu 1. Bên cạnh những kết quả đạt được, còn có những vấn đề đặt ra, những điểm nghẽn riêng mà cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quan tâm tháo gỡ nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 hiện nay, góp phần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới.

Từ khóa: Đặc điểm công tác dân vận; những vấn đề đặt ra; chất lượng công tác dân vận; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh; địa bàn Quân khu 1.

Abstract: The mass mobilization work of the Provincial Military Command within Military Region 1 plays a particularly important role in building “public support,” establishing and operating the provincial defense zone, and strengthening the defense posture of Military Region 1. Alongside the achievements, there are challenges and specific bottlenecks that party committees and commanders at all levels must address to enhance the quality of the Provincial Military Command’s civilian mobilization work in Military Region 1 today, thereby helping meet mission requirements in the new era of development.

Keywords: Characteristics of civilian mobilization work; emerging issues; quality of civilian mobilization work; Provincial Military Command; Military Region 1 area.

1. Mở đầu

“Công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân”1. Công tác dân vận là một trong ba chức năng, góp phần làm nên bản chất, truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 là nhiệm vụ chính trị góp phần quyết định thắng lợi trong kháng chiến; ngày nay có vị trí, vai trò quan trọng trong xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng và hoạt động khu vực phòng thủ tỉnh tỉnh, thế trận phòng thủ Quân khu 1 vững mạnh. Do đó nhận thức rõ đặc điểm và những vấn đề đặt ra là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng công tác dân vận của của bộ chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 hiện nay.

2. Đặc điểm công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1

Một là, công tác dân vận mang tính tổng hợp cao và có nét riêng biệt trên địa bàn chiến lược.

Công tác dân vận của các Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 có tính tổng hợp cao, vừa có những điểm chung của công tác dân vận của Đảng, Quân đội, vừa có những nét riêng của địa bàn Quân khu 1. Công tác dân vận của các Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1  mang tính tổng hợp cao xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức của công tác dân vận vốn rất toàn diện; xuất phát từ sự đa dạng của đối tượng công tác dân vận trên địa bàn Quân khu 1  phong phú không thua kém ở bất cứ địa phương nào; xuất phát từ sự đặc biệt khó khăn về điều kiện địa lý, kinh tế xã hội riêng có của các tỉnh trên địa bàn Quân khu 1; từ đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu chiến lược, nhiều đường mòn, lối mở và mối quan hệ dân sinh hàng nghìn năm giữa nhân dân hai nước dọc biên giới… đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp, gắn kết chặt chẽ các nội dung, hình thức, phương pháp, bao gồm cả truyền thống và hiện đại, cả gián tiếp và trực tiếp, cả lời nói và việc làm đề cao tính chủ động, sáng tạo của tất cả các chủ thể, tổ chức, lực lượng mới đem lại kết quả cao.

Nét riêng biệt trong công tác dân vận của các Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 là tiến hành trên một địa bàn chiến lược, giàu truyền thống cách mạng, từng là cái nôi của cách mạng, thủ đô kháng chiến. Đối tượng dân vận có nhiều điểm khác biệt so với các vùng miền khác: trên 90% diện tích là trung du, miền núi; gần 34% dân số của Quân khu 1 là dân tộc thiểu số, với 25 dân tộc; phong phú về tôn giáo; có GDP thấp nhất cả nước; các thế lực thù địch thường xuyên hoạt động phá hoại.

Vận dụng các nội dung, hình thức dân vận vừa có tính chất phổ biến vừa có tính chất cá biệt, gắn với lịch sử, truyền thống văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số. Đồng thời, công tác dân vận các của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 còn vận động, tập hợp, xây dựng lực lượng và “thế trận lòng dân” và phát huy vai trò sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đáp ứng mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trên một hướng chiến lược của đất nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Hai là, công tác dân vận của các bộ chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 có sự tham gia phối hợp của nhiều tổ chức, lực lượng.

Công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 còn có sự tham gia của các đơn vị thuộc các bộ, ban, ngành Trung ương, các lực lượng trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đứng chân trên địa bàn, như: các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, cơ quan thông tấn báo chí, các tổ chức nhân đạo – xã hội… Đồng thời, có sự tham gia của các cơ quan, ban, ngành ở địa phương, các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn. Điều này vừa tạo ra sự đa dạng của các lực lượng, thành phần tham gia công tác dân vận, vừa tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần đa dạng hóa các hình thức, biện pháp công tác dân vận trong thực tiễn.

Trong đó, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 là một trong những lực lượng nòng cốt tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương; tổ chức, hiệp đồng công tác dân vận trên địa bàn tỉnh theo một chương trình, mục tiêu, nội dung, hình thức có sự thống nhất, tránh chồng chéo, bỏ sót, thiếu hiệu quả, nhất là trong thực hiện xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân”vững chắc. Đồng thời, với tính chất là lực lượng tại chỗ, làm công tác dân vận tại chỗ, thực hiện “4 cùng” một cách thực sự: bám bản, bám làng, bám biên giới, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh.

Ba là, địa bàn tiến hành công tác dân vận có nhiều khó khăn, với sự đa dạng về điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội, trình độ dân trí.

Nghiên cứu và làm rõ những đặc điểm của các tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 cho thấy, công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh được tiến hành trên địa bàn rất đa dạng, phong phú về thành phần dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là phong tục tập quán và có sự khác biệt rất lớn về trình độ dân trí và mức sống cùng với sự quan tâm, mức độ hiểu biết về quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trật tự an toàn xã hội. Các tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 là nơi có 34% là dân tộc thiểu số, gồm 25 dân tộc, như: Kinh, Nùng, Tày, Hoa, Mông, Dao, Cao Lan, Lô Lô, Sán Chay, Sán Dìu2… cùng nhau chung sống đan xen với nhau, ít riêng biệt.

Ở các xã miền núi, vùng cao, vùng biên giới, có từ 7 – 15 dân tộc; một bản có từ 2 – 3 dân tộc. Các tỉnh Lạng Sơn các dân tộc thiểu số chiếm 82,97%, trong đó, Cao Bằng 95%. Trên toàn địa bàn Quân khu có đủ 6 tôn giáo lớn ở Việt Nam, trong đó có 3 tôn giáo chính là: đạo Phật, đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành, với số lượng tín đồ tương đối lớn. Một bộ phận người dân bị các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để kích động, lôi kéo, mua chuộc; sự phát triển các tôn giáo trái pháp luật, như: Tâm linh Hồ Chí Minh, Đức Chúa trời mẹ… lén lút hoạt động trên 3 tỉnh chủ yếu là Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên3, là những nhân tố gây mất ổn định về chính trị – xã hội, tạo ra những khó khăn trong công tác dân vận.

Bốn là, các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt.

Công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn, vận động Nhân dân đấu tranh với âm mưu, hoạt động lợi dụng các vấn đề “tự do”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Các đối tượng trong và ngoài nước thường xuyên lợi dụng, như: tập hợp người H’mông lưu vong hình thành tổ chức, hội nhóm liên kết người H’mông xây dựng mô hình xã hội người H’mông hiện đại; triệt để lợi dụng các yếu tố phức tạp, bất cập, mâu thuẫn trong nội bộ Nhân dân để đẩy mạnh hoạt động kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tác động ly khai, lôi kéo quần chúng tập hợp lực lượng thành lập “Nhà nước H’mông”; lôi kéo người có uy tín trong các dân tộc để qua đó tác động vào địa bàn vùng núi phia Bắc, tiến hành thúc đẩy “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Nhân dân.

Hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo Tin lành và một số đạo lạ trái pháp luật; tình trạng di cư tự do (di dịch cư nội tỉnh, đến các tỉnh khác và qua biên giới) vẫn có những diễn biến phức tạp; vấn đề tranh chấp, khiếu kiện phức tạp kéo dài và tình hình tội phạm về trật tự xã hội. Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội, hủ tục mê tín, dị đoan và các thách thức về an ninh phi truyền thống khác. Đặc điểm này tác động không nhỏ đến chất lượng công tác dân vận của các Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1.

Năm là, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí, phương tiện, cơ sở vật chất thiếu thốn, còn nhiều khó khăn.

Đất nước bước vào kỷ nguyên mới, thực hiện Kết luận 127-KL/TW, ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, việc “sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã”4; thành lập ban chỉ huy quân sự xã, phường… dẫn đến chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp tiến hành công tác dân vận của hệ thống chính trị ở các tỉnh và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh sẽ có nhiều thay đổi, do vậy sẽ có những bước đầu bỡ ngỡ, nhất là đối với cán bộ chuyên trách công tác dân vận được phụ trách địa bàn mới, đối tượng mới, phạm vi mới và có sự thay đổi rộng hơn, xa hơn nên sẽ gặp rất nhiều khó khăn ban đầu, không thể khắc phục trong thời gian ngắn. Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị đang vận hành hiện nay cũng vì thế mà phải điểu chỉnh, bổ sung để bảo đảm tính hiệu quả, đồng bộ giữa các tổ chức các lực lượng, đặc biệt là việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận giữa Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và các ban đảng, cơ quan, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và chính quyền xã, phường.

Nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, trong đó hệ thống tổ chức quân sự địa phương được điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, số lượng, nhiệm vụ, cùng với những giới hạn về điều kiện địa lý, tự nhiên – xã hội như đã nói ở trên vốn đã khó khăn nay càng trở lên khó khăn hơn; trong khi đó, kinh phí nghiệp vụ hạn hẹp, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật và cơ sở vật chất phục vụ công tác dân vận còn hạn chế tác động không nhỏ đến chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh.

3. Một số vấn đề đặt ra

Trên cơ sở nghiên cứu đặc đặc điểm, thực tiễn công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự  tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 cho thấy, tiến trình nâng cao chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh còn nhiều điểm nghẽn, mâu thuẫn nội tại:

Thứ nhất, yêu cầu cao về nâng cao chất lượng công tác dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc với nhận thức, trách nhiệm, năng lực, vai trò, của các chủ thể, lực lượng công tác dân vận của bộ chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 có nội dung chưa đáp ứng.

Giữa chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy các cấp; quy chế, quy định, hướng dẫn kế hoạch của chủ huy và chính quyền địa phương với thực tiễn công tác dân vận là một khoảng cách rất xa, nên khả năng đưa nghị quyết vào cuộc sống, biến nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, kế hoạch công tác dân vận thành hiện thực, có kết quả, đem lại ý nghĩa thực tiễn trong phong trào cách mạng, trong xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở địa phương tỉ lệ thuận với nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1. Yêu cầu về chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh càng cao thì nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 càng phải ở mức tương ứng. Yêu cầu về chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh thường có tính vượt trước so với chất lượng, khả năng đáp ứng của các điều kiện hiện có, trong đó có cả điều kiện về nhận thức, trách nhiệm, năng lực.

Thực tiễn cho thấy, mặc dù cấp ủy, chỉ huy các cấp đã có nhiều chủ trương, biện pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân tỉnh trên địa bàn Quân khu 1, song nguyên nhân hàng đầu của những hạn chế khuyết điểm và mang tính chủ quan đó là nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng, đối tượng, đặc biệt là lực lượng chuyên trách đối với công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 còn có bộ phận chưa tốt. Đây là vấn đề cơ bản, giữ vai trò quan trọng hàng đầu nhưng lại là điểm nghẽn để nâng cao chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1.

Do đặc điểm mang tính tổng hợp cao, công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 đòi hỏi các chủ thể, lực lượng làm công tác dân vận phải có trình độ, năng lực tổng hợp, có cả kinh nghiệm và uy tín, đủ khả năng tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến tư duy, nhận thức, thái độ, tình cảm, lòng tin của các tầng lớp Nhân dân trên địa bàn, yếu tố cốt lõi nhất của “thế trận lòng dân”. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng nguồn nhân lực đảm nhiệm công tác dân vận là người địa phương, người cùng dân tộc, tôn giáo, chung đường biên thì sẽ khó bảo đảm có trình độ, năng lực tổng hợp; nếu đưa cán bộ được đào tạo cơ bản ở nơi khác đến thì khó bảo đảm là người cùng dân tộc, tôn giáo, chung đường biên. Đây là những mâu thuẫn trong thực tiễn chưa thể dễ dàng tháo gỡ trong ngắn hạn. Do đó, muốn nâng cao chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 trước hết phải tháo gỡ, giải quyết được những điểm nghẽn về tư duy, nhận thức, vai trò, trách nhiệm và trình độ, năng lực của các chủ thể, tổ chức, lực lượng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1.

Thứ hai, sự dập khuôn, máy móc trong lựa chọn nội dung, phương pháp công tác dân vận.

Từ những nghị quyết của Đảng, cơ chế, chính sách của Nhà nước về công tác dân vận được nghiên cứu, vận dụng thành nội dung, phương pháp công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phù hợp với đặc điểm, đối tượng công tác dân vận trên địa bàn bảo đảm tính hiệu quả cao là vấn đề rất khó, luôn là vấn đề đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phải trăn trở, tháo gỡ.

Do đặc điểm công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn quân khu 1 vốn đã mang tính tổng hợp rất cao; ngoài việc mang tính đặc thù và còn có sức ỳ trong phát triển, những năm qua đã được tiếp cận với những thành tựu kinh tế, xã hội của cả trong nước và thế giới: khoa học công nghệ hiện đại, các mạng truyền thông xã hội, internet, giao thông, vận tải, du lịch, sự giao thoa văn hóa… dẫn đến nhu cầu phát triển và hưởng thụ của người dân đã thay đổi tăng lên rất nhiều và có sự phân hóa rất phức tạp, nên những nội dung, phương pháp công tác dân vận cũ mang tính máy móc, dập khuôn sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu truyền tải và kết nối giữa ý Đảng lòng dân trong điều kiện phát triển nhanh như hiện nay. Đặc biệt, hiện nay, do yêu cầu nhiệm vụ phát triển trong kỷ nguyên mới của dân tộc, càng có nhiều thay đổi lớn, đòi hỏi nội dung, phương pháp công tác dân vận không thể dập khuôn, máy móc.

Quân khu 1 sau sáp nhập, điều chỉnh địa giới hành chính từ 6 tỉnh trở thành 4 tỉnh là: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng. Diện tích tự nhiên 28.115,33km2. Đơn vị hành chính cấp xã gồm: 312 đơn vị, trong đó 257 xã, 55 phường. Tổng dân số 6.305.078người, với có 25 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam cùng sinh sống; dân tộc kinh chiếm 66,06%, các dân tộc thiểu số khác chiếm 33,94%5. Đồng bào các dân tộc thiểu số sống tập trung tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn.

Do đặc điểm về địa lý tự nhiên và lịch sử kinh tế, văn hoá – xã hội, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển còn chậm, “trình độ dân trí hạn chế”6; các hủ tục lạc hậu, tình trạng du canh, du cư, theo các tà đạo hoạt động trái phép vẫn diễn ra ở một số địa phương. Điều kiện giao thông rất khó khăn, khi điều kiện thời tiết khắc nghiệt thì càng khó tiếp cận với người dân để tuyên truyền, vận động. Ở những khu vực vùng sâu không có sóng điện thoại để hẹn trước, cán bộ dân vận đến nhà gặp được người dân không chỉ một lần là gặp được ngay, và không chỉ gặp một lần được tiếp đón ngay. Điều đó cho thấy ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thuộc Quân khu 1, công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 cần khắc phục tình trạng dập khuôn, máy móc, chậm đổi mới nội dung, phương pháp. Tình hình trên đã đặt ra những vấn đề không nhỏ đối với việc lựa chọn nội dung, phương pháp công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1.

Thứ ba, những bất cập trong tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, ưu đãi cán bộ, người làm công tác dân vận của các Bộ Chỉ huy quân sự trên địa bàn Quân khu 1.

Cán bộ là nhân tố giữ vai trò “then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng, trong công tác dân vận, cán bộ cũng giữ vai trò then chốt. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 chịu sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Đảng ủy Quân khu 1 theo cơ chế lãnh đạo công tác quốc phòng, quân sự địa phương (song trùng lãnh đạo), trong đó có cả công tác xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận nói riêng. Đặc điểm đó vốn đã tạo ra nhiều khó khăn, nay tiếp tục thực hiện điều chỉnh tổ chức biên chế, đưa sĩ quan chính quy về xã, phường thành lập ban chỉ huy quân sự xã, phường; đặc biệt thực hiện sáp nhập Bộ đội Biên phòng tỉnh thanh Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng trực thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, ngoài việc phải có cơ chế để lãnh đạo chỉ đạo nội dung, phương pháp công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự nói chung, nghiệp vụ công tác dân vận của Bộ đội Biên phòng tỉnh nói riêng thì công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận cũng cần phải được phối hợp chặt chẽ giữa tỉnh ủy, Đảng ủy Quân khu 1 và Đảng ủy Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, nếu không tháo gỡ kịp thời, sẽ có khoảng trống, trở thành điểm nghẽn tác động đến đến chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh.

Thực tiễn điểm nghẽn về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận cũng đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp nhận thấy rõ, Đảng ủy Quân khu 1 đã chỉ ra tình trạng sắp xếp, bố trí cán bộ yếu về trình độ, năng lực… làm công tác dân vận ở mội số đơn vị vẫn còn; khả năng nghiên cứu, tham mưu, đề xuất của một số cơ quan, cán bộ dân vận còn hạn chế, thiếu chủ động sáng tạo. Công tác cán bộ còn bất cập, dẫn đến công tác xây dựng tổ chức, biên chế cơ quan và đội ngũ cán bộ dân vận so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay chưa phù hợp; biên chế cơ quan dân vận còn bất cập, quân số còn ít. Từ đó cho ta thấy cơ chế chính sách đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là các khâu tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, ưu đãi cán bộ, người làm công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 vốn dĩ là điểm nghẽn trong bảo đảm chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, trong điều kiện hiện nay, khi thực hiện điều chỉnh tổ chức biến chế, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại càng cần phải được tập trung tháo gỡ, khắc phục triệt để.

Thứ tư, tình hình tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên gây bức xúc trong Nhân dân trên địa bàn; sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng quyết liệt.

Cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên của Đảng diễn ra quyết liệt ở tất cả các cấp, các lĩnh vực và không có vùng cấm. Mặc dù đây là vấn đề chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội, song nó tác động rất lớn đến niềm tin của Nhân dân cả nước nói chung, Nhân dân ở các tỉnh trên địa bàn Quân khu 1  nói riêng, đặt ra nhiều vấn đề cho công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 phải quan tâm. Thông qua cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên của Đảng, đã bộc lộ nhiều cán bộ, đảng viên, “kể cả cán bộ cấp cao vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật”7, phải xử lý, để lại nhiều nhức nhối trong xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”8; “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”9. Cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên của Đảng một mặt khẳng định sự mạnh dạn, dũng cảm của Đảng trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, song cũng khiến cho nhiều người dân băn khoăn về chất lượng một bộ phận cán bộ trong hệ thống chính trị, tác động không nhỏ đến niềm tin của Nhân dân đối với sự trong sạch của một số cơ quan bộ máy nhà nước, khiến cho công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trở lên khó khăn hơn rất nhiều.

Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tinh giản biên chế bộ máy hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp bước đầu còn gặ rất nhiều khó khăn về cơ chế vận hành, thủ tục hành chính, chuyển đổi số chưa thực sự đồng bộ, trình độ năng lực, trách nhiệm của cán bộ phụ trách tiếp dân còn đặt ra nhiều vấn đề, gây mệt mỏi cho người dân trong thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp. “Quyền làm chủ của Nhân dân chưa được thể chế hóa đầy đủ, có lúc, có nơi còn bị vi phạm”10.

Cùng với khắc phục những khó khăn, bất cập do điều kiện địa lý tự nhiên và nhân tố chủ quan về mặt tổ chức quản lý xã hội, sự hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch cũng là vấn đề tác động không nhỏ đến chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn; đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn đã tác động trực tiếp đến công tác triển khai thực hiện nghị quyết.

Từ đặc điểm và những vấn đề đặt ra như trên đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các tổ chức, lực lượng thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phải luôn luôn xem xét và có giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 hiện nay.

4. Kết luận

Công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước, là trách nhiệm của tất cả cán bộ, đảng viên và các tổ chức trong hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhận thức sâu sắc những đặc điểm và những vấn đề đặt ra đối với nâng cao chất lượng công tác dân vận là cơ sở để xác định yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân vận của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1, góp phần tăng cường mối quan hệ máu thịt quân dân, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khóa XI). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 36.
2, 3, 5, 6. Cục Chính trị Quân khu 1 (2025). Báo cáo số 1623/BC-CCT ngày 27/6/2025 tổng kết quả 10 năm thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/2/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
7, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIV. Tập 1. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 68, 69.
8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 16.
9. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 284.