Solutions for developing academic staff to meet Development objectives of the Academy of Security engineering and Technology in the future
ThS. Nguyễn Văn Trung
Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh, Bộ Công an
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh xác định hướng phát triển thành cơ sở giáo dục đại học tiên tiến, trung tâm nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo chuyên sâu về kỹ thuật và công nghệ then chốt. Yêu cầu đặt ra cần phải phát triển đội ngũ giảng viên đủ năng lực, trình độ và khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ trở thành nhiệm vụ chiến lược. Bài viết phân tích bối cảnh tác động, làm rõ các yêu cầu đặt ra và đề xuất hệ thống biện pháp khả thi nhằm phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện trong thời gian tới.
Từ khóa: Đội ngũ giảng viên; chiến lược phát triển; Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh.
Abstract: In the context of ongoing transformation of higher education and the accelerating pace of scientific and technological advancement, Academy of Security Engineering and Technology has articulated its strategic vision to evolve into an advanced higher education institution and a specialized hub for research and innovation in key engineering and technological domains. Within this context, the development of a highly qualified, competent, and adaptable academic staff has become a critical strategic priority. This paper analyzes the contextual factors shaping academic staff development, identifies the emerging competency requirements, and proposes a coherent framework of feasible and evidence-informed measures to enhance the quality of academic staff at the Academy in the forthcoming period. The findings are expected to contribute to institutional policy-making and the sustainable development of academic staff in specialized technical higher education institutions.
Keywords: Academic staff; development strategies; Academy of Security Engineering and Technology.
1. Đặt vấn đề
Trong mọi thời kỳ của cách mạng, Đảng luôn xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng”1. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”2. Những luận điểm có tính nguyên tắc này càng khẳng định con người giữ vai trò trung tâm trong mọi hoạt động phát triển và nhấn mạnh rằng đầu tư cho đội ngũ cán bộ chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững. Trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt bảo đảm chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức, vì vậy, phát triển nguồn nhân lực giảng dạy chất lượng cao luôn được coi là ưu tiên chiến lược.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt của phát triển trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh: phát triển đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học đủ năng lực, trình độ đáp ứng việc giảng dạy lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chip bán dẫn, vi mạch, kỹ thuật và công nghệ then chốt; đẩy mạnh hợp tác với các đại học uy tín của nước ngoài; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, hiện đại hóa phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI). Đối với lực lượng Công an nhân dân, yêu cầu đặt ra đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ giảng viên có nền tảng tri thức vững chắc, năng lực nghiên cứu và tư duy sáng tạo, có khả năng thích ứng linh hoạt với môi trường giáo dục số và thực tiễn nghiệp vụ. Đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu hiện đại hóa lực lượng Công an nhân dân.
Ngày 18/5/2023, Bộ Công an phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân đến năm 2030 đáp ứng mục tiêu xây dựng lực lượng Công an nhân dân thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đồng thời, xác định rõ mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có trình độ cao, năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo cụ thể: “Đến năm 2030, phấn đấu 50% giảng viên các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, 40% giảng viên các cơ sở giáo dục đại học khác có trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ quản lý và giảng viên, giáo viên được bồi dưỡng nâng cao năng lực, trong đó chú trọng các năng lực của giảng viên, giáo viên về phát triển chương trình đào tạo, giảng dạy theo phương pháp hiện đại, nghiên cứu khoa học, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và năng lực, kinh nghiệm thực tiễn công tác chiến đấu”3.
2. Bối cảnh tác động và tình hình thực tiễn phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Kỹ thuật và Công an ninh
Một là, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Bộ Công an.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ mục tiêu phát triển 2026 – 2030 và tầm nhìn 2045, trong đó về phát triển giáo dục và đào tạo, Đảng ta nhấn mạnh việc nâng tầm chất lượng các cơ sở giáo dục đại học, hình thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo đạt chuẩn khu vực và quốc tế, góp phần củng cố nền tảng tri thức, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Đầu tư vào giáo dục đại học và đào tạo nhân lực chất lượng cao không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế mà còn là chìa khóa để nâng cao năng lực nội sinh, bảo đảm tự chủ quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng. Đặc biệt, định hướng phát triển công nghiệp an ninh theo hướng tự chủ, hiện đại, Nghị quyết 57-NQ/TW lần đầu tiên nhấn mạnh phải phát triển công nghiệp quốc phòng và an ninh với tầm nhìn tự chủ, hiện đại và mạnh mẽ, phù hợp với bối cảnh cạnh tranh an ninh công nghệ cao và chiến tranh phi truyền thống.
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đã xác định mục tiêu: (1) Xây dựng một số trường, trung tâm đào tạo tiên tiến chuyên sâu về AI; có cơ chế đặc thù về hợp tác công tư trong đào tạo nhân lực công nghệ số; xây dựng nền tảng giáo dục, đào tạo trực tuyến, mô hình giáo dục đại học số, nâng cao năng lực số trong xã hội. (2) Phát triển đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học đủ năng lực, trình độ đáp ứng việc giảng dạy lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chip bán dẫn, vi mạch, kỹ thuật và công nghệ then chốt; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, hiện đại hóa phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là AI.
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa hệ thống cơ sở giáo dục đại học, tăng cường đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ nhà giáo có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, cụ thể, đến năm 2030: mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp phù hợp và đầu tư nâng cấp; phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia, 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á4.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2025 – 2030 đề ra một số chỉ tiêu quan trọng liên quan đến xây dựng công nghiệp an ninh, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển lực lượng Công an nhân dân. Trong đó xác định: Phát triển công nghiệp an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân và góp phần phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời, yêu cầu nâng cao tiền lực, trình độ khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực mà lực lượng Công an nhân dân có thế mạnh (công nghiệp an ninh mạng, dữ liệu,…), phấn đấu từng bước đưa một số lĩnh vực, sản phẩm đạt trình độ quốc tế. Đề ra các chỉ tiêu cụ thể, như; số lượng nhân sự, chuyên gia an toàn, an ninh mạng phát triển trung bình trên 25%/năm; số lượng công bố công trình khoa học quốc tế, đăng ký sáng chế trên lĩnh vực an toàn, an ninh mạng, dữ liệu lớn tăng trung bình 15%/năm; đầu tư, phát triển Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh trong nhóm 05 trường hàng đầu về giảng dạy công nghệ tại Việt Nam5, qua đó, tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới. Trên đây là những định hướng cốt lõi, nền tảng tạo hành lang chính trị và pháp lý quan trọng cho quá trình phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện trong bối cảnh mới.
Hai là, tình hình thực tiễn đặt ra.
Hiện nay, về địa chính trị trên thế giới và khu vực tiếp tục có những biến động nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh nước lớn, chạy đua vũ trang, công nghệ, thương mại diễn ra gay gắt; các vấn đề an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp tác động sâu sắc, nhiều mặt đến lợi ích, an ninh quốc gia Việt Nam. Trong bối cảnh đó, tình hình tội phạm sử dụng môi trường mạng, công nghệ cao diễn biến hết sức phức tạp, nguy hiểm cả về phương thức, thủ đoạn, phạm vi hoạt động xuyên quốc gia; tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội, đặc biệt là đối với an ninh, quốc phòng. Từ năm 2018 – 2024, các đối tượng thù địch đã thiết lập hơn 500 trang web, blog; gần 15.000 tài khoản, fanpage; hơn 1000 kênh youtube; tán phát trên 60.000 bản tin, bài viết/năm để tuyên truyền, xuyên tạc, gây nhiễu loạn thông tin, kích động và thực hiện các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Hoạt động tấn công mạng có xu hướng gia tăng, có khoảng trên 63.297 vụ tấn công mạng nhằm vào các trang mạng có tên miền “.vn”, trong đó có nhiều trang có tên miền “.gov.vn” của các cơ quan nhà nước, xuất hiện nguy cơ tấn công mạng trên diện rộng, với cường độ lớn, gây tê liệt, phá hủy hệ thống thông tin quan trọng quốc gia Việt Nam6.
Cùng với đó là nguy cơ mất kiểm soát an ninh, an toàn trên không gian mạng do lệ thuộc vào công nghệ nước ngoài; nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân; xảy ra chiến tranh thông tin, chiến tranh trên không gian mạng. Tại Hội thảo và triển lãm quốc tế Vietnam Security Summit 2025 (tháng 5/2025 tại TP Hồ Chí Minh), Hiệp hội An ninh mạng quốc gia xác định: về tổng thể, tiềm lực và khả năng bảo đảm an ninh mạng của Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhất là sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn lực. Trong 3 năm tới, Việt Nam sẽ thiếu hụt 700.000 nhân sự an ninh mạng và khoảng 56% cơ quan, doanh nghiệp không có đủ nhân lực an toàn thông tin7.
Nhận thức tầm quan trọng về đào tạo nhân lực chuyên ngành kỹ thuật và công nghệ, ngày 17/10/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2288/QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân thành Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh; đồng thời, xác định một số nhiệm vụ trọng tâm đối với Học viện như sau: (1) Thực hiện Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 26/8/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 158-KL/TW ngày 26/5/2025 của Bộ Chính trị về xây dựng công nghiệp an ninh trong kỷ nguyên phát triển, vươn mình của dân tộc, Bộ Công an xác định phát triển Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh thành trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghiệp an ninh ngang tầm khu vực trước năm 2030; (2) Thực hiện Quyết định số 1018/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050, trên cơ sở đề nghị của Bộ Công an và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý bổ sung Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh vào danh mục các cơ sở giáo dục đại học công lập được ưu tiên xem xét đầu tư phòng thí nghiệm bán dẫn phục vụ đào tạo nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn và giao nhiệm vụ phát triển Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh thành cơ sở đào tạo tiên tiến, chuyên sâu về lĩnh vực công nghệ vi mạch bán dẫn, kỹ thuật và công nghệ then chốt, công nghệ tiên tiến, nhất là AI; theo đó, nhiệm vụ trọng tâm là phát triển đội ngũ giảng viên có đủ năng lực, trình độ đáp ứng việc giảng dạy về lĩnh vực công nghệ vi mạch bán dẫn, kỹ thuật và công nghệ then chốt, công nghệ tiên tiến, nhất là AI.
Hiện nay, cơ cấu đội ngũ giảng viên Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh cơ bản đều có trình độ thạc sĩ trở lên. Trong đó, về cơ cấu có 42,8% tiến sĩ về khoa học, kỹ thuật, công nghệ; 33,3% tiến sĩ về an ninh và trật tự xã hội; 23,9% tiến sĩ về khoa học xã hội và lĩnh vực khác. Tính đến nay, Học viện có 30 giảng viên được công nhận danh hiệu dạy giỏi cấp Bộ, 106 giảng viên được công nhận danh hiệu dạy giỏi cấp Trường cùng hàng trăm lượt có bài dạy giỏi và giờ dạy giỏi8. Đội ngũ giảng viên của Học viện hiện nay cơ bản đã đảm bảo về số lượng, có cơ cấu hợp lý và từng bước được nâng cao về chất lượng đáp ứng yêu cầu đào tạo các ngành kỹ thuật, nghiệp vụ phục vụ cho ngành Công an trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để thực hiện được các mục tiêu, yêu cầu chiến lược đã nêu trên, đội ngũ giảng viên của Học viện cần phải được xây dựng, phát triển một cách đồng bộ, toàn diện, hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong từng lĩnh vực công nghệ an ninh.
3. Yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh
Thứ nhất, về số lượng giảng viên, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm tỷ lệ giảng viên trên người học theo quy định mà còn phải hướng tới xây dựng lực lượng giảng viên ổn định, có khả năng chủ động đáp ứng nhu cầu đào tạo trong dài hạn. Thực tiễn cho thấy, một số cơ sở giáo dục đại học còn phụ thuộc khá nhiều vào đội ngũ giảng viên thỉnh giảng, dẫn đến tình trạng bị động, thiếu tính liên tục và khó kiểm soát chất lượng. Tuy nhiên, nếu Nhà trường chỉ chú trọng tăng số lượng mà không gắn với quy hoạch phát triển ngành nghề đào tạo thì có thể dẫn đến dư thừa cục bộ và lãng phí nguồn lực. Vì vậy, việc phát triển số lượng giảng viên cần được thực hiện trên cơ sở dự báo khoa học về quy mô đào tạo, định hướng ngành nghề và nhu cầu nhân lực của lực lượng Công an nhân dân, từ đó tránh tình trạng thiếu hụt hoặc dư thừa cục bộ, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Thứ hai, về chất lượng đội ngũ giảng viên, đây là yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng và hiệu quả đào tạo. Trong thời gian qua, mặc dù trình độ đội ngũ giảng viên của Học viện đã từng bước được nâng lên song thực tiễn cho thấy, vẫn còn hiện tượng chuẩn hóa trình độ mang tính hình thức, trong khi năng lực nghiên cứu và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn chưa đồng đều, dẫn đến nội dung giảng dạy còn nặng lý thuyết, thiếu sức thuyết phục và chưa sát thực tiễn công tác, chiến đấu của lực lượng Công an. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh từ tư duy chỉ coi trọng bằng cấp sang phát triển năng lực toàn diện, trong đó nhấn mạnh năng lực nghiên cứu độc lập, tư duy phản biện khoa học và khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn. Giảng viên đại học cần được phát triển theo hướng vừa là nhà giáo, vừa là nhà khoa học, có khả năng tạo ra tri thức mới phục vụ thực tiễn.
Bên cạnh đó, năng lực sư phạm và phương pháp giảng dạy cần được đổi mới mạnh mẽ. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, mô hình dạy học truyền thống không còn phù hợp, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cần được triển khai hiêu quả hơn. Người học ngày nay cần được phát triển năng lực tư duy, kỹ năng tự học và khả năng thích ứng với thị trường lao động. Điều này đòi hỏi giảng viên phải chuyển từ “dạy cái mình có” sang “tổ chức cho người học tự chiếm lĩnh tri thức”; thông qua các phương pháp dạy học tích cực như học theo dự án, học qua tình huống, hay kết hợp trực tiếp và trực tuyến. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều giảng viên vẫn còn hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ và đổi mới phương pháp, do đó việc đào tạo, bồi dưỡng lại đội ngũ giảng viên là yêu cầu cấp thiết.
Thứ ba, yêu cầu quan trọng khác là xây dựng cơ cấu đội ngũ giảng viên hợp lý và linh hoạt. Cần xây dựng cơ cấu hợp lý theo ngành, chuyên ngành và theo độ tuổi nhằm bảo đảm tính kế thừa và phát triển bền vững. Thực tế hiện nay đang xuất hiện tình trạng thiếu hụt giảng viên ở các ngành mới, công nghệ cao (công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, …), trong khi lại thừa ở một số ngành truyền thống. Đồng thời, nguy cơ “khoảng trống thế hệ” cũng là vấn đề đáng lo ngại nếu không có chiến lược tạo nguồn đội ngũ kế cận. Do đó, phát triển đội ngũ giảng viên cần được thực hiện theo hướng “cân bằng động”, có khả năng điều chỉnh linh hoạt trước những biến động của môi trường giáo dục và thị trường lao động.
Thứ tư, yêu cầu về khả năng nghiên cứu khoa học, cần xác định nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ trung tâm, là động lực cót lõi của giảng viên đại học. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đôi khi nghiên cứu vẫn mang tính hình thức, chưa tạo ra giá trị thực tiễn. Do đó, hoạt động nghiên cứu phải gắn chặt với yêu cầu thực tiễn của ngành, hướng tới tạo ra sản phẩm khoa học có giá trị ứng dụng cao. Việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, thúc đẩy hợp tác liên ngành. tăng cường chuyển giao công nghệ và cơ chế hỗ trợ công bố khoa học là những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng nghiên cứu, cũng như chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của cơ sở giáo dục.
Thứ năm, yêu cầu hội nhập quốc tế đặt ra ngày càng cao đối với đội ngũ giảng viên, Thực tiễn hiên nay, hạn chế về ngoại ngữ và tâm lý e ngại hội nhập vẫn là rào cản lớn đối với nhiều giảng viên. Do đó, đội ngũ giảng viên cần được trang bị năng lực ngoại ngữ và kỹ năng học thuật quốc tế, đủ khả năng tham gia các chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Việc hội nhập không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn mà còn góp phần tiếp cận các mô hình đào tạo tiên tiến, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện. Đây là vẫn đề thực tiễn đang đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ để khắc phục.
4. Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh
Trong bối cảnh giáo dục đại học trong nước đang chuyển mạnh sang tự chủ, cạnh tranh và hội nhập quốc tế; trước những yêu cầu mang tính lịch sử và thời đại đặt ra. Việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cần được triển khai theo hướng đồng bộ, có lộ trình rõ ràng và gắn chặt với chiến lược phát triển tổng thể của Học viện Ký thuật và Công nghệ an ninh trong thời gian tới. Để đáp ứng các yêu cầu đặt ra, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên các phương diện từ tuyển dụng, đào tạo, sử dụng đến chính sách đãi ngộ và môi trường làm việc.
Một là, cần quan tâm bổ sung đội ngũ giảng viên có chất lượng cao theo định hướng chiến lược.
(1) Xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài theo hướng có tính cạnh tranh và phù hợp với đặc thù của lực lượng Công an nhân dân. Việc vận dụng các chính sách đãi ngộ đặc thù cần được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kỹ các quy định hiện hành, bảo đảm tính khả thi và đồng bộ, đồng thời tạo động lực thu hút đội ngũ giảng viên, nhà khoa học có trình độ cao tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại Học viện. Triển khai Nghị định số 363/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và thực hiện một số chính sách, chế độ đãi ngộ tương tự như quy định của Bộ Quốc phòng đối với đội ngũ giảng viên, nhà khoa học của các học viện, nhà trường (như: cơ chế quản lý đặc thù, cấp bậc hàm cao nhất và chế độ phụ cấp, …). Ngoài ra, có thể nghiên cứu vận dụng các chính sách khác phù hợp với quy định của pháp luật và quy định của Bộ Công an, như: chính sách hỗ trợ một lần để thu hút đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ thực hiện mở ngành đào tạo, tổ chức đào tạo một số ngành mũi nhọn, chiến lược, tham gia nghiên cứu, thực hiện các dự án, nhiệm vụ trọng điểm; chính sách hỗ trợ nhà ở, được ưu tiên mua nhà ở dành cho lực lượng vũ trang theo quy định;…
(2) Chủ động xây dựng cơ chế phát hiện, tuyển chọn nguồn nhân lực chất lượng cao (giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ có năng lực nghiên cứu quốc tế) từ các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trong và ngoài ngành có trình độ chuyên môn phù hợp. Việc tuyển chọn cần dựa trên hệ thống tiêu chí cụ thể về năng lực chuyên môn, năng lực nghiên cứu và phẩm chất nghề nghiệp, đồng thời, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh. Cách tiếp cận chủ động trong tạo nguồn sẽ giúp Học viện từng bước hình thành đội ngũ giảng viên có chất lượng ổn định và lâu dài
(3) Thường xuyên rà soát nhu cầu của Học viện, xác định rõ những vị trí việc làm đòi hỏi vần phải tuyển chọn từ ngoài Ngành, đồng thới chú trọng tiếp nhận học viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở các trường Công an nhân dân, cũng như tiếp nhận cán bộ từ Công an các đơn vị, địa phương có trình độ, chuyên môn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Đổi mới cách thức tuyển chọn, theo hướng chủ động, khoa học và có kế hoạch dài hạn; không thụ động chờ nguồn tuyển mà cần chủ động phối hợp, đặt hàng đào tạo đối với các cơ sở đào tạo trong Công an nhân dân, Công an các đơn vị, địa phương và các cơ sở đào tạo ngoài Ngành nhằm bảo đảm bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng, phù hợp với định hướng phát triển của Học viện.
Hai là, có giải pháp nâng cao năng lực và phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học tại chỗ một cách bền vững.
(1) Áp dụng mô hình phát triển đội ngũ giảng viên theo hai hướng (chuyên sâu về giảng dạy và chuyên sâu về nghiên cứu); ban hành bộ tiêu chí đánh giá và cơ chế đãi ngộ phù hợp với từng đối tượng, từng vị trí việc làm. Trên cơ sở đó, tập trung xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học nòng cốt làm lực lượng hạt nhân trong việc hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu, cũng như triển khai các chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo tài năng và chương trình đào tạo tiên tiến, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu khoa học của Học viện.
(2) Xây dựng và triển khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên một cách bài bản, có tầm nhìn dài hạn, gắn kết chặt chẽ với quy hoạch, bố trí sử dụng. Trên cơ sở đánh giá tiềm năng phát triển , có thể lựa chọn và cử đội ngũ giảng viên trẻ có năng lực và triển vọng đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại các cơ sở đào tạo có uy tín trong và ngoài nước, đồng thời tạo điều kiện cho giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng hoàn thiện các chứng chỉ (chuyên môn, ngoại ngữ và phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của các bảng xếp hạng đại học quốc tế như QS, THE); tăng cường cử giảng viên giảng dạy về lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ đi thực tế, luân chuyển tại đơn vị nghiệp vụ, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, công nghệ có uy tín trong và ngoài nước nhằm nâng nâng cao năng lực thực tiễn; phát triển chuyên sâu giảng viên theo hai hướng: chuyên sâu giảng dạy và chuyên sâu nghiên cứu, định kỳ sàng lọc, sắp xếp đội ngũ giảng viên (giảng dạy/ thực hành) để đáp ứng yêu cầu gắn kết giữa lý luận và thực hành; áp dụng chương trình thực tập sau tiến sĩ, tu nghiệp tại các doanh nghiệp hàng đầu về công nghệ trong và ngoài nước cho giảng viên, nghiên cứu viên; gắn đào tạo, bồi dưỡng với yêu cầu xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và chuyển giao kết quả nghiên cứu và thực tiễn.
Ba là, phát triển môi trường học thuật và thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong Học viện.
(1) Cần nhận thức một cách đầy đủ rằng, môi trường học thuật không chỉ bao gồm các điều kiện vật chất như thư viện, phòng thí nghiệm hay trang thiết bị nghiên cứu, mà còn là tổng thể các yếu tố vô hình như văn hóa học thuật, cơ chế quản lý, mức độ tự do học thuật và tinh thần hợp tác trong nghiên cứu. Việc phát triển môi trường học thuật lành mạnh góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn của giảng viên. Trong môi trường có văn hóa học thuật lành mạnh, đề cao tính trung thực, sáng tạo và phản biện khoa học, giảng viên buộc phải thường xuyên cập nhật tri thức, nâng cao trình độ và năng lực nghiên cứu. Các hoạt động như hội thảo, seminar, trao đổi học thuật định kỳ cần được tổ chức một cách hệ thống sẽ tạo điều kiện để giảng viên tiếp cận tri thức mới, hoàn thiện tư duy khoa học và nâng cao chất lượng giảng dạy. Như vậy, môi trường học thuật chính là “chất xúc tác” giúp chuyển hóa yêu cầu về trình độ thành năng lực thực chất của giảng viên.
(2) Thúc đẩy nghiên cứu khoa học là con đường trực tiếp để nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của đội ngũ giảng viên. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đối với giảng viên đại học không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ giảng dạy mà còn bao gồm trách nhiệm nghiên cứu, tạo ra tri thức mới và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Khi được tham gia các đề tài nghiên cứu, đặc biệt trong các nhóm nghiên cứu mạnh, giảng viên sẽ hình thành năng lực nghiên cứu độc lập, kỹ năng công bố khoa học và khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn. Điều này góp phần khắc phục tình trạng “chuẩn hóa hình thức” về bằng cấp nhưng thiếu năng lực thực chất, qua đó đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong giai đoan mới.
(3) Việc phát triển môi trường học thuật đồng bộ sẽ góp phần hoàn thiện cơ cấu đội ngũ giảng viên theo hướng hợp lý và bền vững. Thông qua việc xây dựng các nhóm nghiên cứu, Học viện có thể phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả đội ngũ giảng viên trẻ có tiềm năng, từ đó hình thành đội ngũ kế cận. Đồng thời, môi trường nghiên cứu năng động sẽ thu hút các nhà khoa học có trình độ cao, góp phần điều chỉnh cơ cấu đội ngũ giảng viên theo hướng tăng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, chuyên gia đầu ngành. Như vậy, phát triển môi trường học thuật không chỉ là giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ mà còn là công cụ quan trọng trong tái cấu trúc nguồn nhân lực khoa học của Học viện.
(4) Phát triển môi trường học thuật và nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao khả năng hội nhập quốc tế của đội ngũ giảng viên. Trong môi trường nghiên cứu hiện đại, giảng viên có cơ hội tham gia các mạng lưới nghiên cứu quốc tế, công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học uy tín và hợp tác với các đối tác nước ngoài. Quá trình này đòi hỏi và đồng thời tạo điều kiện để đội ngũ giảng viên nâng cao năng lực ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa. Qua đó đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế – một trong những tiêu chí quan trọng trong phát triển đội ngũ giảng viên hiện nay.
(5) Việc xây dựng môi trường học thuật mạnh còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo động lực phát triển và giữ chân giảng viên, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển về số lượng và sự ổn định của đội ngũ. Thực tế cho thấy, đội ngũ giảng viên có trình độ cao thường có xu hướng tìm đến làm việc tại những cơ sở giáo dục có môi trường nghiên cứu tốt, có điều kiện phát triển học thuật và cơ hội khẳng định bản thân. Do đó, nếu Học viện xây dựng được một hệ sinh thái học thuật năng động, có cơ chế hỗ trợ nghiên cứu hiệu quả sẽ tạo sức hút đối với nhân tài chất lượng cao, đồng thời hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”.
5. Kết luận
Với cách tiếp cận đồng bộ, có tầm nhìn chiến lược và gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với xây dựng môi trường học thuật, công tác phát triển đội ngũ giảng viên sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng hệ thống giáo dục đại học trong Công an nhân dân nói chung và Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh nói riêng đạt chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 175 – 179.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 269.
3. Bộ Công an (2023). Quyết định số 3122/QĐ-BCA ngày 18/5/2023 về phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân đến năm 2030 đáp ứng mục tiêu xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.
4. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
5. Đảng bộ Công an Trung ương (2025). Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp và các đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ 2025 – 2030, Nghị quyết Đại hội đại biểu Công an Trung ương lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
6. Cục An ninh mạng (2025). Báo cáo về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao các năm từ 2018 – 2024.
7. Vietnam Security Summit 2025: bảo đảm an ninh mạng và tạo lập niềm tin trong kỷ nguyên mới. https://antoanthongtin.vn, ngày 23/5/2025.
8. Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân (nay là Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh, 2025). Báo cáo tổng kết năm học từ năm 2010 – 2011 đến nay.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 158-KL/TW ngày 26/5/2025 về xây dựng công nghiệp an ninh trong kỷ nguyên phát triển, vươn mình của dân tộc.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT ngày 05/2/2024 ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên góp phần xây dựng các trường chính trị tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt chuẩn. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/12/31/giai-phap-nang-cao-chat-luong-doi-ngu-giang-vien-gop-phan-xay-dung-cac-truong-chinh-tri-tinh-o-dong-bang-song-cuu-long-dat-chuan/



