Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương và tự học trong nâng cao năng lực số của giảng viên lý luận chính trị

Utilizing Ho Chi Minh’s ideology on leading by example and self-study in enhancing the digital competence of political theory lecturers

NCS. Nguyễn Ngọc Diệp
Trường Đại học Thành Đông

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích việc nâng cao năng lực số cho giảng viên lý luận chính trị thông qua vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học và nêu gương. Trên cơ sở xác lập khung tiêu chí năng lực số đặc thù và đánh giá thực trạng đội ngũ, bài viết cũng chỉ ra những điểm nghẽn về tư duy và kỹ năng hiện nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp đột phá nhằm xây dựng chân dung “người thầy số”. Điều này không chỉ giúp đổi mới giáo dục lý tưởng cách mạng mà còn phát huy vai trò nêu gương của giảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Từ khóa: Năng lực số; giảng viên lý luận chính trị; tư tưởng Hồ Chí Minh; tự học và nêu gương; chuyển đổi số giáo dục.

Abstract: This article analyzes the enhancement of digital competence for political theory lecturers by applying Ho Chi Minh’s ideology on self-study and leading by example. Based on the establishment of a specific digital competence framework and the assessment of the current state of the lecturer workforce, the article also identifies current bottlenecks in both mindset and skills. The article consequently proposes breakthrough solutions to build the model of a “digital teacher.” This not only helps innovate revolutionary ideal education but also promotes the exemplary role of lecturers in protecting the Party’s ideological foundation in cyberspace.

Keywords: Digital competence; political theory lecturers; Ho Chi Minh’s ideology; self-study and leading by example; digital transformation in education.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số giáo dục đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm theo tinh thần Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị. Đối với giảng viên lý luận chính trị – những “kiến trúc sư” định hướng lý tưởng cho thế hệ trẻ – năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ mà đã trở thành tiêu chí cốt lõi để duy trì sức hấp dẫn của môn học. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, việc nâng cao năng lực số chính là sự cụ thể hóa tinh thần tự học suốt đời. Người từng căn dặn: “Thế giới ngày nay đổi mới… ai không học là lùi”1.

Để không xa rời thực tiễn sinh động của thế hệ công dân số, người giảng viên phải chủ động tự đào tạo để hiện đại hóa phương thức truyền tải lý luận. Đồng thời, làm chủ công nghệ còn là biểu hiện của trách nhiệm nêu gương, tạo ra vũ khí sắc bén để nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng. Xuất phát từ đòi hỏi đó, việc nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương và tự học trong nâng cao năng lực số của giảng viên lý luận chính trị hiện nay mang ý nghĩa chiến lược nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên vừa hồng, vừa chuyên trong kỷ nguyên số.

2. Các tiêu chí năng lực số của giảng viên lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh

2.1. Quan niệm về năng lực số của giảng viên lý luận chính trị

Trong kỷ nguyên số, năng lực số không còn đơn thuần là một kỹ năng bổ trợ mà đã trở thành thành tố quan trọng trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của người giảng viên. Nhiều nghiên cứu quốc tế đã khẳng định vai trò của năng lực số đối với giáo viên trong bối cảnh giáo dục số. Theo UNESCO (2018)2, năng lực số của giáo viên được hiểu là khả năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ hoạt động dạy học, quản lý lớp học và phát triển năng lực của người học. Tương tự, khung năng lực DigCompEdu của Liên minh châu Âu (EU)3 nhấn mạnh việc tích hợp công nghệ vào hoạt động nghề nghiệp của giáo viên, bao gồm: quản lý học liệu số, tổ chức dạy học trực tuyến và hỗ trợ phát triển năng lực số cho sinh viên. Tuy nhiên, đối với đặc thù của lĩnh vực giảng dạy lý luận chính trị, năng lực số không chỉ dừng lại ở các thao tác kỹ thuật mà còn là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học và nêu gương trong môi trường số.

Trên cơ sở tham chiếu các khung lý thuyết quốc tế và xét đến đặc thù môn học, năng lực số của giảng viên lý luận chính trị là hệ thống tổng hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho phép họ khai thác hiệu quả công nghệ trong giảng dạy, nghiên cứu và định hướng thông tin. Quan niệm này được cụ thể hóa qua hai khía cạnh đạo đức nghề nghiệp cốt lõi: về khía cạnh “tự học”: Đây là quá trình tự đào tạo liên tục để chuyển hóa các nội dung lý luận mang tính trừu tượng thành những học liệu số trực quan, sinh động. Điều này thể hiện tinh thần“học không bao giờ cùng”của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp giảng viên không bị tụt hậu trước sự phát triển của công nghệ và đáp ứng đặc điểm tiếp nhận của thế hệ công dân số. Về khía cạnh “nêu gương”: giảng viên cần có tư duy phản biện để thẩm định độ tin cậy của thông tin; đồng thời, hướng dẫn sinh viên tiếp cận không gian mạng một cách khoa học và trách nhiệm. Làm chủ năng lực số chính là cách người thầy nêu gương về bản lĩnh chính trị, sử dụng công nghệ như một vũ khí sắc bén để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Như vậy, năng lực số của giảng viên lý luận chính trị chính là sự tích hợp giữa năng lực công nghệ, năng lực sư phạm và năng lực phân tích thông tin. Đây là biểu hiện sinh động của việc học tập và làm theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: tự học để làm chủ tri thức và nêu gương để dẫn dắt, định hướng nhận thức cho sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay.

2.2. Các tiêu chí cốt lõi đánh giá năng lực số gắn với tinh thần tự học và nêu gương

Việc xác định các tiêu chí đánh giá năng lực số của giảng viên cần dựa trên các khung năng lực giáo viên số đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới, tiêu biểu, như: ICT Competency Framework for Teachers của UNESCO (2018)4DigCompEdu của EU (2017)5. Các khung năng lực này nhấn mạnh vai trò của giáo viên trong việc khai thác học liệu số, tổ chức hoạt động dạy học trên nền tảng công nghệ và hỗ trợ người học phát triển năng lực xử lý thông tin. Tuy nhiên, đối với giảng viên lý luận chính trị, năng lực số không chỉ gắn với hoạt động dạy học thuần túy mà còn liên quan mật thiết đến nhiệm vụ định hướng nhận thức và bản lĩnh chính trị trên không gian mạng.

Vì vậy, các tiêu chí đánh giá cần được xác lập trên cơ sở kết hợp giữa yêu cầu của giáo dục số và đặc thù của công tác tư tưởng, trọng tâm là vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học và nêu gương. Trên cơ sở đó, năng lực số của giảng viên lý luận chính trị được cấu trúc thành ba nhóm tiêu chí cơ bản: (1) Quản trị học liệu và tự học số; (2) Sư phạm số và tương tác nêu gương; (3) Phân tích và định hướng tư tưởng trên môi trường mạng.

Khung năng lực này phản ánh sự kết hợp chặt chẽ giữa năng lực công nghệ, năng lực sư phạm và bản lĩnh chính trị, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả giáo dục lý tưởng cách mạng trong bối cảnh chuyển đổi số, được cụ thể hóa trong Bảng 1 sau:

Bảng 1. Khung năng lực số của giảng viên lý luận chính trị

Nhóm năng lựcTiêu chí vận dụng tư tưởng Hồ Chí MinhBiểu hiện cụ thể (tiêu chí đánh giá)
Quản trị học liệu và tự học sốPhát huy tinh thần tự học– Chủ động tìm kiếm, khai thác học liệu chính thống từ hệ thống văn kiện của Đảng và Nhà nước.
– Tự đào tạo kỹ năng thẩm định độ tin cậy, phân biệt nguồn tin khoa học với thông tin sai lệch.
Sư phạm số và tương tác nêu gươngThể hiện trách nhiệm nêu gương– Nêu gương trong đổi mới phương pháp qua việc thiết kế bài giảng đa phương tiện (video, đồ họa) sinh động.
– Thiết lập môi trường tương tác dân chủ, dẫn dắt sinh viên thảo luận và phản biện khoa học trên nền tảng số.
Phân tích và định hướng tư tưởngKhẳng định bản lĩnh Chiến sĩ số– Chủ động nhận diện và hướng dẫn sinh viên phản bác các quan điểm xuyên tạc trên mạng xã hội.
– Nêu gương trong việc xây dựng lối sống số chuẩn mực, trách nhiệm và có tính chiến đấu cao.
Tác giả tổng hợp thực hiện, 2025.

Thứ nhất, tiêu chí về năng lực quản trị học liệu và tự học số: đây là tiêu chí nền tảng, phản ánh trực tiếp tinh thần tự học suốt đời của giảng viên theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh tri thức được số hóa, giảng viên phải chủ động tự đào tạo để khai thác hiệu quả các nguồn dữ liệu chính thống từ hệ thống văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các cơ sở dữ liệu học thuật uy tín. Năng lực này còn thể hiện ở việc tự rèn luyện tư duy phản biện để thẩm định, phân biệt rõ nguồn dữ liệu khoa học với các thông tin chưa kiểm chứng hoặc định hướng sai lệch. Việc làm chủ năng lực quản trị học liệu số giúp giảng viên xây dựng hệ thống tư liệu phong phú, chính xác, tạo nền tảng tri thức vững chắc cho các bài giảng lý luận.

Thứ hai, tiêu chí về năng lực sư phạm số và tương tác nêu gương: năng lực này thể hiện trách nhiệm nêu gương của người thầy trong việc đổi mới phương thức truyền tải lý tưởng cách mạng. Việc tích hợp công nghệ không chỉ nhằm thay thế phương tiện truyền thống mà còn kiến tạo môi trường học tập linh hoạt, tăng cường sự tham gia của người học. Đối với giảng viên lý luận chính trị, tiêu chí này đòi hỏi sự sáng tạo trong sử dụng công cụ thiết kế đồ họa, video để chuyển hóa các nội dung trừu tượng thành học liệu trực quan, dễ tiếp cận. Bằng việc tiên phong ứng dụng các mô hình dạy học trực tuyến và tương tác thời gian thực, giảng viên thực hiện vai trò nêu gương về sự thích ứng, dẫn dắt sinh viên phát triển tư duy độc lập và niềm tin vào lý tưởng số.

Thứ ba, tiêu chí về năng lực phân tích và định hướng tư tưởng (chiến sĩ số): đây là tiêu chí đặc thù, khẳng định bản lĩnh của giảng viên trên mặt trận tư tưởng không gian mạng. Giảng viên phải có khả năng phân tích, đánh giá khoa học các luồng thông tin trên mạng xã hội để kịp thời định hướng cho người học. Năng lực này thể hiện ở việc nhận diện các nguồn tin xuyên tạc và nêu gương trong việc hướng dẫn sinh viên tiếp cận thông tin có chọn lọc, trách nhiệm. Thông qua sự tương tác số, giảng viên hỗ trợ sinh viên hình thành màng lọc tư duy phản biện và kỹ năng xử lý thông tin chuẩn mực trong môi trường truyền thông đa chiều.

Nhìn tổng thể, ba nhóm tiêu chí trên có mối quan hệ bổ trợ mật thiết: (1) Tự học cung cấp nền tảng tri thức chính xác; (2) Năng lực sư phạm số giúp chuyển hóa tri thức thành hành động học tập hiệu quả; (3) Năng lực định hướng đảm bảo quá trình tiếp nhận thông tin của sinh viên diễn ra khoa học, bản lĩnh.

2.3. Mô hình năng lực số của giảng viên lý luận chính trị gắn với tinh thần tự học và nêu gương

Trên cơ sở khung tiêu chí đã xác lập, cấu trúc năng lực số của giảng viên lý luận chính trị được khái quát thành một mô hình tích hợp gồm ba thành tố tương hỗ: (1) Năng lực quản trị học liệu và tự học số; (2) Năng lực sư phạm số và tương tác nêu gương; (3) Năng lực phân tích và định hướng tư tưởng trên môi trường mạng. Ba thành tố này vận động không ngừng nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng chân dung người thầy lý luận chính trị vừa hồng, vừa chuyên trong kỷ nguyên số.

Trong Hình 1 cho thấy, năng lực quản trị học liệu và tự học số đóng vai trò nền tảng. Vận dụng tư tưởng “học không bao giờ cùng”, khả năng tự đào tạo để khai thác và hệ thống hóa học liệu giúp giảng viên tiếp cận nguồn thông tin chính thống, phong phú của Đảng và Nhà nước. Đây là cơ sở để xây dựng hệ thống tư liệu khoa học, đảm bảo tính đúng đắn và sức thuyết phục cho các bài giảng lý luận.

Thành tố năng lực sư phạm số và tương tác nêu gương giữ vai trò trung tâm, thực hiện nhiệm vụ chuyển hóa tri thức thành niềm tin. Giảng viên thể hiện trách nhiệm nêu gương qua việc làm chủ công cụ công nghệ để thiết kế bài giảng đa phương tiện, thúc đẩy sự tham gia chủ động của sinh viên. Việc vận dụng các phương pháp tương tác trực tuyến không chỉ mở rộng không gian học tập mà còn là cách thức thực tiễn để người thầy dẫn dắt sinh viên rèn luyện tư duy phản biện và lý tưởng cách mạng.

Thành tố thứ ba là năng lực phân tích và định hướng tư tưởng (chiến sĩ số), thể hiện khả năng tác chiến trên không gian mạng. Trong môi trường thông tin đa chiều, giảng viên phải nêu gương về bản lĩnh nhận diện các luồng quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua hoạt động giảng dạy, giảng viên trực tiếp hỗ trợ sinh viên hình thành màng lọc tư duy khoa học, giúp các em tiếp cận thông tin trên internet một cách có chọn lọc và trách nhiệm.

Mô hình năng lực số tích hợp này chính là khung tham chiếu quan trọng để đánh giá và phát triển đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tại Việt Nam hiện nay, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số giáo dục gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng.

3. Thực trạng năng lực số của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị hiện nay

Đánh giá thực trạng năng lực số của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đòi hỏi cái nhìn khách quan, đặt trong sự vận động mạnh mẽ của hệ sinh thái giáo dục số và tinh thần tự học, nêu gương theo Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua khảo sát thực tế và quan sát tham dự tại một số cơ sở đào tạo lý luận chính trị cho thấy, sự chuyển biến rõ nét nhưng cũng bộc lộ những rào cản mang tính hệ thống.

Về mặt tích cực: có thể thấy, một làn sóng nhận thức mới đã hình thành, xóa bỏ định kiến cho rằng lý luận chính trị chỉ gắn liền với bục giảng và giáo án giấy truyền thống. Việc chuyển đổi từ phương thức dạy học trực tiếp sang các nền tảng số đã trở thành yêu cầu tự thân của đội ngũ giảng viên. Đáng chú ý, tinh thần tự học trong khai thác học liệu số đã có bước tiến dài. Giảng viên đã chủ động tận dụng các kho dữ liệu số của Đảng, các tư liệu lịch sử quý giá trên mạng để minh chứng cho các luận điểm, giúp bài giảng bớt khô khan và tăng tính thuyết phục thực tiễn. Nhiều giảng viên đã bước đầu ý thức được việc nêu gương số thông qua việc xây dựng hình ảnh người thầy hiện đại, am hiểu công nghệ trên các diễn đàn học thuật trực tuyến.

Về mặt hạn chế và những “điểm nghẽn”: đối chiếu với yêu cầu tự học và nêu gương theo tư tưởng Hồ Chí Minh, năng lực số của đội ngũ vẫn tồn tại những rào cản sâu sắc.

Một là, mâu thuẫn giữa công cụ hiện đại và tư duy ngại thay đổi: thực trạng phổ biến là tình trạng “bình mới rượu cũ”, giảng viên sử dụng phương tiện số nhưng vẫn vận hành theo lối thuyết giảng một chiều. Công nghệ chỉ đóng vai trò trình chiếu thay vì là môi trường tương tác, khơi gợi tư duy phản biện cho sinh viên. Điều này cho thấy, tinh thần tự học chưa đi vào chiều sâu, chưa thực sự thay đổi từ tư duy sư phạm cũ sang tư duy sư phạm số hiện đại.

Hai là, sự yếu kém trong năng lực số hóa nội dung chuyên sâu: phần lớn giảng viên còn thiếu kỹ năng thiết kế nội dung số chuyên biệt (đồ họa chuyển động, kịch bản tương tác ảo) để diễn đạt các phạm trù triết học phức tạp. Khi nội dung số chưa đủ sức hấp dẫn, vai trò nêu gương về sự sáng tạo của người thầy bị giảm sút, khiến bài giảng khó cạnh tranh với các luồng thông tin giải trí lôi cuốn trên mạng xã hội. Cuối cùng là độ trễ trong năng lực tác chiến tư tưởng: trong khi các thế lực thù địch làm chủ các thuật toán để lan truyền tin xấu độc, một bộ phận giảng viên vẫn giữ lối phản bác hành chính, khuôn mẫu, thiếu kỹ năng sử dụng ngôn ngữ số hiện đại để bảo vệ trận địa tư tưởng. Điều này cho thấy, tính nêu gương chiến đấu trên không gian mạng của người thầy còn thụ động.

Những hạn chế này cốt yếu do chưa xây dựng được chuẩn năng lực số đặc thù gắn với nhiệm vụ chính trị. Các chương trình bồi dưỡng hiện nay đa phần tập trung vào kỹ năng tin học văn phòng chung chung, chưa chú trọng đúng mức đến việc trang bị “vũ khí số” cho giảng viên. Đồng thời, áp lực công việc khiến một bộ phận giảng viên chưa dành thời gian thỏa đáng cho việc tự đào tạo, tự đổi mới để trở thành những công dân số mẫu mực theo tinh thần tự học suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

4. Giải pháp nâng cao năng lực số cho giảng viên lý luận chính trị

Thứ nhất, xác lập khung định hướng năng lực số đặc thù gắn với tiêu chuẩn đạo đức vừa hồng vừa chuyên. Đây là giải pháp mang tính dẫn dắt, nhằm định hình lại chân dung người giảng viên lý luận trong kỷ nguyên số theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ cách mạng. Các cơ sở đào tạo cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực số không chỉ dựa trên các kỹ năng tin học phổ thông mà phải tích hợp chặt chẽ với đặc thù môn học và trách nhiệm nêu gương. Khung năng lực này phải bao hàm khả năng “chuyển ngữ” các khái niệm lý luận kinh điển sang ngôn ngữ số hiện đại, năng lực thẩm định tư tưởng trong môi trường dữ liệu lớn (Big Data) và bản lĩnh dẫn dắt dư luận trên không gian mạng. Việc xác lập một thước đo chuẩn xác sẽ tạo động lực để giảng viên thực hiện tinh thần tự học suốt đời, chủ động xác định lộ trình tự đào tạo nhằm chuyển từ tâm thế ứng phó sang tâm thế làm chủ công nghệ để truyền bá lý tưởng cách mạng một cách thuyết phục nhất. Điều này không chỉ giúp hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp mà còn khẳng định sự thống nhất giữa bản lĩnh chính trị và năng lực chuyên môn của người thầy số trong tình hình mới.

Thứ hai, đổi mới căn bản phương thức bồi dưỡng theo tinh thần “học không bao giờ cùng”. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần tự học: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời6 , cần đổi mới căn bản phương thức bồi dưỡng giảng viên theo hướng cá nhân hóa và học tập qua trải nghiệm số. Cần chấm dứt các khóa tập huấn đại trà, lý thuyết suông về công nghệ. Thay vào đó, cần tổ chức các “xưởng sáng tạo nội dung số” dành riêng cho giảng viên lý luận chính trị. Giảng viên không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn chủ động thực hành kỹ năng sử dụng AI để gợi mở ý tưởng bài giảng, sử dụng các công cụ đồ họa chuyên sâu (Infographic, Motion Graphics) để trực quan hóa các quy luật triết học vốn trừu tượng. Giải pháp này thúc đẩy ý thức tự đào tạo, giúp giảng viên tạo ra những sản phẩm tri thức có sức hút tự thân, đủ sức cạnh tranh với các luồng thông tin giải trí trên mạng xã hội. Qua đó, giảng viên thực hiện tốt vai trò nêu gương về sự sáng tạo và tinh thần cầu thị, giúp chiếm lĩnh tâm trí và tình cảm của sinh viên thế hệ Gen Z một cách tự nhiên và hiệu quả.

Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái trận địa tư tưởng số và phát huy vai trò nêu gương của “người chiến sĩ số”. Đây là giải pháp đột phá nhằm vận dụng quan điểm “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy7 của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào không gian mạng. Trong kỷ nguyên số, giảng viên lý luận chính trị phải nêu gương về bản lĩnh chính trị, chủ động thiết lập các mạng lưới kết nối trên mạng xã hội để tạo thành sức mạnh cộng hưởng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để thực hiện tốt vai trò này, giảng viên cần chủ động tự học để làm chủ “vũ khí số” bao gồm: kỹ thuật nhận diện thuật toán, kỹ năng viết bài định hướng theo phong cách hiện đại, ngắn gọn và giàu tính thuyết phục. Việc chuyển từ trạng thái phòng ngự sang chủ động tấn công, thông qua việc phủ xanh thông tin tích cực chính là sự nêu gương thiết thực nhất. Điều này không chỉ giúp giảng viên giữ vững vai trò dẫn dắt lý tưởng cho sinh viên mà còn trực tiếp đấu tranh có hiệu quả trước các luồng quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế, chính sách và hạ tầng kỹ thuật nhằm kiến tạo môi trường “nêu gương số” mẫu mực. Năng lực số và tinh thần tự học của giảng viên không thể phát huy tối đa nếu thiếu đi một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ. Các nhà trường cần đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hiện đại như thư viện số chuyên ngành lý luận chính trị và hệ thống quản lý học tập (LMS) thông minh. Những công cụ này không chỉ hỗ trợ giảng dạy mà còn cung cấp dữ liệu thực tế để giảng viên thực hiện tinh thần tự học, kịp thời điều chỉnh phương pháp sư phạm số cho phù hợp với người học.

Đặc biệt, vận dụng tư tưởng của Người: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền8, nhà trường cần có chính sách đãi ngộ và tôn vinh xứng đáng đối với những giảng viên số có đóng góp xuất sắc. Cơ chế thi đua, khen thưởng nên chuyển dịch theo hướng ưu tiên các sản phẩm khoa học có tính lan tỏa cao, có sức lôi cuốn đối với sinh viên trên không gian mạng. Việc xây dựng những “tấm gương số” điển hình sẽ tạo động lực mạnh mẽ để mỗi giảng viên tự giác tự thân vận động, không ngừng học tập và rèn luyện để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục lý tưởng cách mạng trong tình hình mới.

5. Kết luận

Nâng cao năng lực số cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, mà còn là một nhiệm vụ chính trị mang tính chiến lược, gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua quá trình phân tích, có thể khẳng định, năng lực số dựa trên tinh thần tự học và trách nhiệm nêu gương chính là chìa khóa để đổi mới phương pháp giảng dạy, chuyển từ truyền thụ tri thức đơn thuần sang định hướng, dẫn dắt và chiếm lĩnh tâm trí người học trên không gian mạng.

Để thực hiện thành công mục tiêu này, cần có sự vào cuộc đồng bộ từ khâu xác lập khung năng lực chuẩn gắn với tiêu chuẩn đạo đức vừa hồng, vừa chuyên, đổi mới phương thức đào tạo theo tinh thần“học không bao giờ cùng”, đến việc xây dựng cơ chế tác chiến tư tưởng hiệp đồng và hạ tầng kỹ thuật thông minh. Sự chuyển mình mạnh mẽ của mỗi giảng viên từ “người thầy truyền thống” sang “người thầy số” mẫu mực chính là nhân tố quyết định để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là hành động thiết thực nhất để giúp dòng chảy lý luận chính trị luôn tuôn trào sinh động, hấp dẫn và thuyết phục trong lòng thế hệ trẻ giữa kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 331.
2, 4. UNESCO (2018). ICT Competency Framework for Teachers (Khung năng lực công nghệ thông tin dành cho giáo viên – Phiên bản 3).
3, 5. European Commission (2017). Digital Competence Framework for Educators (DigCompEdu).
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 98.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 246.
8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 284.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
2. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
3. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030”.
5. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học. https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/05/13/chu-tich-ho-chi-minh-tam-guong-sang-ngoi-ve-tinh-than-tu-hoc/ 6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học – ý nghĩa đối với việc xây dựng xã hội học tập để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/04/01/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-tu-hoc-y-nghia-doi-voi-viec-xay-dung-xa-hoi-hoc-tap-de-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-