Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại

TS. Lê Cẩm Hà
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Kỷ nguyên phát triển mới của đất nước đặt ra yêu cầu cải cách hành chính không thể tiếp tục theo lối mòn cũ, không dừng ở mức “cải cách thủ tục hành chính”, “sắp xếp tổ chức bộ máy” hay “tinh giản biên chế” mà cần được định vị lại như một trụ cột trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển chính phủ số và hướng tới quản trị số của nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả là yêu cầu đòi hỏi tất yếu. Cải cách hành chính nhà nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phục vụ Nhân dân. Trong tiến trình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước.

Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; cải cách hành chính; xây dựng nền hành chính phục vụ; liêm chính, hiện đại.

1. Đặt vấn đề

Cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính ở Việt Nam trong suốt 40 năm qua đã có nhiều thành tựu quan trọng, đó là nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại, và xuyên suốt nền tảng tư tưởng của Đảng là nền hành chính “vì dân”. Trong tiến trình đổi mới, tư tưởng của Hồ Chí Minh về “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” chính là nền tảng lý luận và kim chỉ nam cho việc xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính và hiện đại trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tư tưởng xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam: “Dân là gốc”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Khi thống nhất cao về tư tưởng, quyết liệt trong hành động, nghiêm minh trong kỷ luật, nhân dân thật sự là trung tâm, nhất định chúng ta sẽ biến khát vọng thành hiện thực; đưa đất nước tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp.

Bước vào Kỷ nguyên mới, càng phải chăm lo xây dựng thế trận lòng dân. Thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; thế trận lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng. Thế trận lòng dân vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hoá giải, đúng như Bác Hồ đã dạy “Dễ trăm lần không dân cũng chịu – Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

2. Nền tảng tư tưởng của Đảng trong cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới, đã tạo cơ sở lý luận vững chắc và định hướng chiến lược cho quá trình cải cách hành chính nhà nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ, cải cách hành chính không chỉ dừng lại ở việc thay đổi thủ tục mà còn hướng tới đổi mới phương thức quản trị quốc gia, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, liêm chính; đồng thời, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững định hướng phục vụ Nhân dân, ngăn chặn nguy cơ “hành chính hóa quyền lực” và xa rời quần chúng, qua đó bảo đảm công cuộc cải cách hành chính luôn đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn hiện nay, quá trình cải cách hành chính đang đối mặt với nhiều thách thức phức tạp cả về kinh tế – xã hội và công nghệ. Trước hết, tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng đã làm xuất hiện những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, có nguy cơ lấn át đạo đức công vụ nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Trong môi trường cạnh tranh và lợi ích đan xen, nguy cơ tham nhũng, lợi ích nhóm, cơ chế “xin – cho” vẫn còn tiềm ẩn, làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước và ảnh hưởng đến uy tín của bộ máy hành chính.

Bên cạnh đó, không gian mạng phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện lan truyền nhanh chóng các thông tin sai lệch, tin giả và những luận điệu xuyên tạc về cải cách hành chính; các thế lực thù địch có thể lợi dụng những hạn chế, sai sót của bộ máy để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, một bộ phận cán bộ, công chức còn biểu hiện suy thoái về tư tưởng, thiếu tinh thần phục vụ Nhân dân, vẫn tồn tại tư duy quyền lực thay vì tư duy phục vụ, làm giảm chất lượng cung ứng dịch vụ công. Trong khi đó, yêu cầu xây dựng chính phủ số và chuyển đổi số quốc gia đặt ra áp lực đổi mới rất nhanh, đòi hỏi bộ máy hành chính phải thích ứng kịp thời nhưng vẫn phải giữ vững định hướng chính trị, bảo đảm ổn định và phát triển bền vững.

Nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ mang tính lý luận mà đã được cụ thể hóa trực tiếp trong mục tiêu, phương hướng và giải pháp cải cách hành chính hiện nay, cụ thể như sau:

Thứ nhất, xuyên suốt trong quan điểm của Đảng về cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính đó là lấy người dân làm trung tâm.

Bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; bộ máy hành chính chỉ là công cụ thực hiện quyền lực đó. Vì vậy, mọi hoạt động hành chính phải hướng tới phục vụ Nhân dân, không thể đứng trên Nhân dân hay tách rời Nhân dân.

Xây dựng nền hành chính phục vụ là nội dung trọng tâm và xuyên suốt của cải cách hành chính nhà nước hiện nay. Cải cách hành chính hướng tới phục vụ người dân và doanh nghiệp, coi sự hài lòng của người dân là thước đo chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước và ứng dụng công nghệ thông tin là bước tiến quan trọng trong xây dựng nền hành chính phục vụ.

Thứ hai, cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là yêu cầu xuyên suốt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội, cải cách hành chính tập trung trước hết vào hoàn thiện thể chế, pháp luật đồng bộ, minh bạch và khả thi. Hệ thống pháp luật được rà soát, sửa đổi và bổ sung theo hướng thống nhất, dễ hiểu, dễ thực hiện, bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan nhà nước đều có căn cứ pháp lý rõ ràng, hạn chế khoảng trống và chồng chéo trong quy định. Việc công khai quy trình, tiêu chuẩn và điều kiện thực hiện thủ tục hành chính giúp người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận, qua đó, nâng cao tính minh bạch và giảm rủi ro phát sinh tiêu cực.

Cải cách hành chính hướng mạnh tới quản lý xã hội bằng pháp luật, hạn chế cơ chế “xin – cho” vốn dễ dẫn đến lạm quyền và nhũng nhiễu. Các thủ tục được chuẩn hóa theo quy trình rõ ràng, áp dụng dịch vụ công trực tuyến và số hóa hồ sơ nhằm giảm tiếp xúc trực tiếp giữa người dân với cán bộ thực thi. Điều này góp phần chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng pháp luật, tạo môi trường công bằng, bình đẳng cho mọi tổ chức và cá nhân. Qua đó, nền hành chính ngày càng vận hành theo nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.

Thứ ba, quan điểm của Đảng là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức “vừa hồng, vừa chuyên” là trụ cột trong xây dựng nền hành chính phục vụ.

Xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại phải lấy người dân làm trung tâm, chuyển từ “hành chính hóa phục vụ” sang “dịch vụ hóa quản trị”. Trong mô hình này, cán bộ, công chức không còn ở vị trí “thẩm quyền hành chính” mà là “người đồng hành” cùng công dân và doanh nghiệp trong quá trình tương tác với Nhà nước. Đội ngũ cán bộ, công chức vừa có trí tuệ, vừa có đạo đức, bảo đảm tính chuyên nghiệp sẽ là một trụ cột trong nền hành chính. Thước đo đánh giá cán bộ, công chức không còn là số lượng công việc hoàn thành hay quy trình đúng quy định, mà là mức độ hài lòng của người dân, hiệu quả đầu ra của chính sách và giá trị công tạo ra cho cộng đồng.

Thứ tư, cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính gắn với đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại được đưa ra trong Nghị quyết đại hội Đảng.

Đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện trước hết ở việc chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang quản trị công hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nhà nước không chỉ ban hành và kiểm soát chính sách mà còn đóng vai trò kiến tạo phát triển, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể xã hội phát huy năng lực và tham gia vào quá trình quản trị.

Một nội dung quan trọng là chuyển từ quản lý dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương giúp quá trình ra quyết định dựa trên bằng chứng, nâng cao tính chính xác và kịp thời của chính sách. Đồng thời, việc phát triển Chính phủ điện tử tiến tới Chính phủ số giúp số hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm chi phí xã hội và tăng tính minh bạch trong hoạt động của bộ máy hành chính. Bên cạnh đó, phương thức quản trị hiện đại còn thể hiện ở đổi mới cơ chế điều hành và phối hợp liên ngành. Thay vì quản lý theo tư duy cục bộ, khép kín, các cơ quan nhà nước tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin và làm việc theo mô hình liên thông, đa ngành. Điều này giúp giải quyết các vấn đề phức tạp của xã hội một cách tổng thể, giảm tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm.

Ngoài ra, quản trị quốc gia hiện đại còn gắn với tăng cường công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân. Các kênh phản hồi, góp ý chính sách được mở rộng; hoạt động của cơ quan nhà nước ngày càng công khai trên môi trường số. Qua đó, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia giám sát và đồng hành cùng Nhà nước trong quá trình phát triển.

Thứ năm, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nền hành chính không chỉ phải đáp ứng các chuẩn mực quản trị hiện đại của thế giới mà còn phải giữ vững mục tiêu phát triển vì con người, vì công bằng và tiến bộ xã hội. Điều này thể hiện trước hết ở việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về quản trị công, cải cách thể chế, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công, đồng thời, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn và định hướng phát triển của đất nước.

Cải cách hành chính trong hội nhập phải gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững, không chạy theo tăng trưởng kinh tế thuần túy mà bỏ qua tiến bộ và công bằng xã hội. Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều tiết và bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giúp tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia và chủ quyền kinh tế trong quá trình hội nhập. Ngoài ra, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa còn thể hiện ở việc giữ vững độc lập, tự chủ trong hoạch định và thực thi chính sách, không để các yếu tố bên ngoài chi phối mục tiêu phát triển lâu dài của đất nước. Cải cách hành chính vì vậy vừa phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, vừa phải phục vụ mục tiêu nâng cao đời sống Nhân dân, củng cố ổn định chính trị – xã hội và phát triển đất nước bền vững.

3. Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp mang tính hệ thống, lâu dài và gắn với thực tiễn quản trị quốc gia trong bối cảnh mới.

Một là, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng và đạo đức công vụ

Giải pháp đầu tiên và mang tính nền tảng là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cải cách hành chính chỉ có thể thành công khi đội ngũ thực thi có nhận thức đúng đắn về vai trò phục vụ Nhân dân và ý nghĩa chính trị của công vụ.

Để nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng và đạo đức công vụ cần:

Đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo hướng gắn lý luận chính trị với kỹ năng hành chính hiện đại. Theo đó mô hình bồi dưỡng có thể thay đổi từ “Học để biết” sang “Học để làm – để giải quyết vấn đề thực tế”, đưa những vấn đề thực tế của ngành, địa phương vào nội dung đào tạo, bồi dưỡng để cán bộ, công chức giải quyết. Bên cạnh đó, bổ sung thêm các kỹ năng mới cho cán bộ, công chức trong thời đại số. Hình thành văn hóa học tập suốt đời trong khu vực công, gắn với lộ trình chức nghiệp của cán bộ, công chức.

Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh trở thành chuẩn mực trong văn hóa công vụ. Hình thành “văn hóa phục vụ” thay cho tư duy quản lý hành chính truyềnthống.Cán bộ, công chức phải nhận thức rõ, phục vụ Nhân dân chính là biểu hiện cụ thể nhất của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thực tiễn.

Hai là, hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng hiệu quả

Thể chế minh bạch và khoa học là công cụ quan trọng để phòng ngừa sai phạm, tham nhũng và suy thoái. Vì vậy cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng: đơn giản hóa, chuẩn hóa và số hóa thủ tục hành chính, loại bỏ cơ chế “xin – cho”, giảm tối đa sự can thiệp chủ quan của cán bộ và xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả trong toàn bộ quy trình công vụ.

Vai trò của Chính phủ là thúc đẩy mô hình “Chính phủ kiến tạo phát triển”, chuyển mạnh từ quản lý sang phục vụ, từ mệnh lệnh hành chính sang tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp phát triển. Một hệ thống thể chế minh bạch sẽ tạo “hàng rào phòng vệ” vững chắc trước các biểu hiện suy thoái, tham nhũng và xuyên tạc.

Kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng là nội dung trọng tâm thể hiện rõ yêu cầu xây dựng nền hành chính liêm chính theo định hướng của Đảng. Trước hết, việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính được đẩy mạnh thông qua chuẩn hóa quy trình, niêm yết công khai thời hạn, chi phí và kết quả giải quyết hồ sơ, qua đó hạn chế cơ chế “xin – cho”, giảm cơ hội phát sinh tiêu cực. Song song với đó, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước ngày càng được tăng cường, yêu cầu các cơ quan, cán bộ, công chức phải giải thích rõ ràng căn cứ pháp lý, quy trình xử lý công việc và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước Nhân dân và pháp luật. Đây là cơ chế quan trọng để kiểm soát quyền lực trong thực thi công vụ. Đồng thời, việc xây dựng nền hành chính liêm chính được thúc đẩy thông qua hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính và đẩy mạnh hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Những giải pháp này góp phần phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời hành vi tham nhũng, củng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy nhà nước, bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật và vì lợi ích chung của xã hội.

Các nhiệm vụ trọng tâm để kiểm soát quyền lực, gồm: tăng cường công khai, minh bạch, công khai quy trình giải quyết thủ tục hành chính, minh bạch chi phí, thời gian, trách nhiệm. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu, gắn kết quả cải cách với đánh giá cán bộ lãnh đạo, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực. Phát huy giám sát xã hội thông qua cơ chế khuyến khích phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp, tăng vai trò của báo chí và các tổ chức xã hội

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số.

Chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu phát triển mà còn là giải pháp quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng thông qua minh bạch hóa hoạt động công vụ.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc và phương thức vận hành của Nhà nước hiện đại. Các công nghệ số, như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT), Blockchain… không chỉ tái cấu trúc lại lĩnh vực sản xuất và dịch vụ mà còn làm thay đổi tận gốc cách thức quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Theo đó, việc tăng cường áp dụng công nghệ số trong khu vực công không còn là một lựa chọn mang tính chiến lược, mà trở thành một đòi hỏi mang tính sống còn đối với nền hành chính phục vụ nếu không muốn bị tụt hậu trước xu thế quản trị hiện đại.

Bản chất của nền công vụ số không chỉ là sử dụng công nghệ để xử lý văn bản, cập nhật phần mềm hay vận hành cổng dịch vụ công mà là tái cấu trúc lại toàn bộ hệ thống vận hành công vụ dựa trên dữ liệu và công nghệ. Trong mô hình này, vị trí việc làm được quản lý bằng dữ liệu động, công chức được đánh giá trên cơ sở kết quả đầu ra đo lường được, việc phân công công tác được điều chỉnh tự động theo khối lượng công việc thực tế. Người dân có thể phản hồi về chất lượng phục vụ qua các nền tảng số theo thời gian thực. Có những nội dung công việc, công nghệ không thay thế con người nhưng công nghệ giúp tổ chức lại con người theo hướng minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm hơn.

Việc tăng cường áp dụng công nghệ số trong nền công vụ phải bắt đầu từ việc chuyển đổi tư duy quản lý nhân sự, tổ chức công việc. Thay vì quản lý theo hồ sơ giấy, lý lịch và văn bản hành chính, hệ thống công vụ cần được quản lý theo dữ liệu số hóa, có thể phân tích, tổng hợp và dự báo. Hồ sơ công chức không chỉ bao gồm lý lịch trích ngang mà còn phải tích hợp thông tin về quá trình thực hiện nhiệm vụ, hiệu suất làm việc, kết quả khảo sát hài lòng của người dân, năng lực chuyên môn, kỹ năng số và khả năng tương tác đa ngành. Đây là cơ sở để đánh giá năng lực thực tế của công chức, làm căn cứ cho bổ nhiệm, khen thưởng, đào tạo hoặc sàng lọc.

Đồng thời, cần nhanh chóng hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về vị trí việc làm, làm nền tảng cho việc phân tích cơ cấu tổ chức, phân bổ nhân sự, điều chỉnh chức năng nhiệm vụ giữa các đơn vị hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Việc sử dụng AI để phân tích khối lượng công việc, xác định những vị trí dư thừa, những mắt xích kém hiệu quả hay những khu vực thiếu nhân sự có thể giúp Nhà nước ra quyết định kịp thời, tiết kiệm chi phí và tăng chất lượng phục vụ.

Một trụ cột quan trọng khác của nền công vụ số là xây dựng hệ thống giám sát công vụ và đánh giá công chức theo thời gian thực. Các cơ quan nhà nước cần thiết lập nền tảng quản lý công việc trực tuyến, trong đó từng công chức được phân nhiệm vụ cụ thể, có thời hạn hoàn thành, có phản hồi của cấp trên và người dân. Các nền tảng này không chỉ giúp lãnh đạo theo dõi tiến độ công việc mà còn tạo ra cơ chế trách nhiệm rõ ràng, công khai và chống hình thức hóa trong thi đua, khen thưởng. Đây chính là công cụ quản trị theo kết quả, một nguyên lý nền tảng trong mô hình công vụ hiện đại.

Tuy nhiên, để thực hiện được chuyển đổi số trong công vụ, điều kiện tiên quyết là phải nâng cao năng lực số cho đội ngũ công chức. Không thể có nền công vụ số nếu công chức thiếu kỹ năng vận hành hệ thống số. Đào tạo kỹ năng số phải trở thành yêu cầu bắt buộc, được tích hợp vào các chương trình bồi dưỡng, đào tạo lại, và đánh giá định kỳ. Từng vị trí công vụ phải có bộ kỹ năng số tối thiểu, từ sử dụng phần mềm văn phòng, làm việc trên nền tảng số, quản lý cơ sở dữ liệu đến bảo mật thông tin và tương tác trực tuyến với người dân. Đặc biệt, người đứng đầu các cơ quan hành chính cần được đào tạo về tư duy quản trị số, hiểu rõ vai trò của công nghệ trong điều hành công vực.

Song song với đào tạo, bồi dưỡng, Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho hạ tầng số trong khu vực công. Tại nhiều địa phương, đặc biệt là cấp xã, thiếu máy tính, đường truyền internet yếu, phần mềm không tương thích, hệ thống không kết nối. Đây là những rào cản thực tế khiến chuyển đổi số không thể lan tỏa xuống tận cấp cơ sở. Cần có một chương trình đầu tư hạ tầng số cho nền công vụ, gắn với mục tiêu xây dựng chính quyền số đồng bộ từ trung ương đến cơ sở, ưu tiên cho các khu vực khó khăn, bảo đảm không có “vùng trắng công nghệ” trong hệ thống công vụ.

Tăng cường áp dụng công nghệ số trong nền công vụ cũng đồng nghĩa với việc phải hoàn thiện hệ thống thể chế, hành lang pháp lý liên quan. Luật Cán bộ, công chức và các văn bản dưới luật cần được sửa đổi theo hướng tạo điều kiện cho việc lưu trữ, xử lý, chia sẻ và khai thác dữ liệu công vụ; bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ quyền riêng tư cá nhân và tránh lạm dụng giám sát. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế giám sát độc lập và đánh giá mức độ trưởng thành số của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, để bảo đảm việc chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay báo cáo thành tích.

Công nghệ số không chỉ là phương tiện hỗ trợ, mà là một thành tố cấu thành mới của nền công vụ hiện đại. Nếu được thực hiện đồng bộ, gắn với cải cách thể chế, đổi mới tư duy lãnh đạo, phát triển năng lực con người và đầu tư hạ tầng hợp lý, công nghệ số sẽ trở thành cú hích chiến lược, đưa nền công vụ Việt Nam vượt qua điểm nghẽn truyền thống, tiệm cận với chuẩn mực công vụ của các nước tiên tiến trên thế giới.

Bốn là, chủ động truyền thông và đấu tranh trên không gian mạng

Không gian mạng ngày nay đã trở thành một “mặt trận mới” trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi sự chủ động và quyết liệt trong truyền thông và đấu tranh. Trước hết, các cơ quan chức năng cần chủ động cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ và kịp thời về quá trình cải cách hành chính, giúp người dân tiếp cận nguồn tin chính xác, minh bạch. Đồng thời, việc nâng cao năng lực truyền thông số cho đội ngũ cán bộ, cơ quan nhà nước là yêu cầu cấp thiết nhằm thích ứng với môi trường truyền thông hiện đại, đa nền tảng. Bên cạnh đó, cần phát hiện và phản bác nhanh chóng, có căn cứ những thông tin sai lệch, xuyên tạc để hạn chế tác động tiêu cực đến nhận thức xã hội. Truyền thông tích cực, công khai và minh bạch không chỉ giúp người dân hiểu rõ những nỗ lực cải cách mà còn góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận và ủng hộ trong toàn xã hội.

Năm là, xây dựng nền hành chính liêm chính, chuyên nghiệp, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo

Liêm chính là trụ cột của nền hành chính phục vụ. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này, niềm tin của nhân dân sẽ bị suy giảm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến nền tảng tư tưởng của Đảng. “Liêm chính” là phẩm chất cốt lõi, đồng thời cũng là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự trong sạch, hiệu lực và uy tín của nền hành chính. Theo đó, cần xây dựng văn hóa liêm chính bằng cả luật hóa và chuẩn mực đạo đức, từ giáo dục ban đầu đến quá trình đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá và xử lý vi phạm. Phải có cơ chế mạnh để bảo vệ người làm đúng, chống trả đũa, bao che và nhất là loại bỏ được tâm lý “sợ trách nhiệm”, “tránh va chạm”, vốn đang phổ biến trong không ít bộ phận cán bộ, công chức hiện nay.

Một nền hành chính chuyên nghiệp cũng là nơi mà người thực hiện nhiệm vụ có quyền chủ động trong khuôn khổ pháp luật, có đủ thẩm quyền và nguồn lực để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời bị ràng buộc bởi cơ chế kiểm soát minh bạch, trách nhiệm giải trình cá nhân và đánh giá định kỳ bằng kết quả đầu ra.

Từ chỗ quản lý theo tinh thần mệnh lệnh hành chính, cần thiết lập một tư duy mới, hành chính là một hệ thống phục vụ Nhân dân, thúc đẩy phát triển và đồng hành cùng tiến trình hội nhập. Điều này đòi hỏi nền hành chính không chỉ thay đổi về hình thức, quy trình, kỹ thuật, mà trước hết là thay đổi ở cấp độ nhận thức từ nhà quản lý đến người trực tiếp thực thi công vụ. Phục vụ phải được lượng hóa thành các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, các chỉ số đánh giá hài lòng, các cơ chế phản hồi và giám sát công khai. Cần hiểu rõ, nền hành chính vì người dân là nền công vụ biết lắng nghe, tương tác, giải trình và không ngừng cải tiến để phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn.

Mọi cải cách hành chính phải hướng tới mục tiêu cuối cùng là phục vụ Nhân dân tốt hơn. Do đó, cần xây dựng hệ thống đánh giá cán bộ, công chức phải được trên cơ sở kết quả đầu ra của từng vị trí việc làm, có tham chiếu chuẩn mực chất lượng dịch vụ công và kỳ vọng của người dân. Đánh giá cán bộ, công chức cần đa chiều, kết hợp tự đánh giá, đánh giá của cấp trên, đồng nghiệp và người dân sử dụng dịch vụ. Việc tích hợp các công cụ như chỉ số hiệu suất (KPI), bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard), đánh giá 360 độ sẽ tạo ra bức tranh khách quan và đầy đủ hơn về năng lực, hiệu quả và hành vi công vụ. Cần coi đánh giá là công cụ quản trị chứ không chỉ là thủ tục hành chính định kỳ, từ đó làm cơ sở cho bố trí, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật và sàng lọc đội ngũ cán bộ, công chức.

4. Kết luận

Cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Thành công của cải cách hành chính sẽ quyết định năng lực quản trị quốc gia, hiệu quả điều hành nhà nước và chất lượng phát triển dài hạn.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong cải cách hành chính không phải là nhiệm vụ riêng của lĩnh vực tư tưởng mà là nhiệm vụ tổng thể của toàn bộ hệ thống chính trị. Khi nền hành chính thực sự phục vụ Nhân dân, minh bạch, hiệu quả và hiện đại, niềm tin của Nhân dân sẽ được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần XIV. Tập I, II. H.NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030.
3. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 31/7/2023 về phê duyệt Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
5. Học viện Hành chính Quốc gia (2021). Quản lý công vụ, công chức. H. NXB Bách Khoa Hà Nội.
6. Nguyễn Bá Chiến, Lê Hải Bình (2024). “Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả – cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”. H.NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-vie