Applying Ho Chi Minh’s thought on revolutionary bases to the construction of defense areas in Phu Tho province today
Bùi Văn Minh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Xây dựng căn cứ địa cách mạng vững mạnh là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Bài viết làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng; đồng thời, đánh giá thực trạng việc xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được và một số hạn chế. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng trong xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; căn cứ địa cách mạng; khu vực phòng thủ; tỉnh Phú Thọ; bảo vệ Tổ quốc.
Abstract: Building strong revolutionary bases has always been one of the decisive factors for the victory of armed uprisings and revolutionary wars. This article clarifies the fundamental contents of Ho Chi Minh’s thought on revolutionary bases. At the same time, it assesses the current situation of building defense areas in Phu Tho Province, highlighting the achieved results as well as the existing limitations. On this basis, the article proposes solutions to effectively apply Ho Chi Minh’s thought on revolutionary bases in the construction of defense areas in Phu Tho Province today, thereby meeting the requirements of national construction and defense in the new context.
Keywords: Ho Chi Minh thought; revolutionary bases; defense areas; Phu Tho Province; defending the fatherland.
1. Đặt vấn đề
Tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người về quân sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn tranh được độc lập thì phải tiến hành một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương”1. Nếu căn cứ địa cách mạng là mô hình tổ chức trong điều kiện chiến tranh cách mạng, trực tiếp phục vụ khởi nghĩa và kháng chiến thì khu vực phòng thủ là sự phát triển mới về hình thức tổ chức không gian chiến lược của căn cứ địa cách mạng trong điều kiện hòa bình, nhằm chuẩn bị thế và lực cho bảo vệ Tổ quốc khi có tình huống. Trong bối cảnh hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao. Việc xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc là một nội dung chiến lược quan trọng, là chủ trương đúng đắn của Đảng nhằm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc nước chưa nguy. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Đầu tư xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc trên từng địa bàn và phạm vi cả nước”2 nhằm chủ động xử lý hiệu quả các tình huống quốc phòng – an ninh ngay từ cơ sở.
Tỉnh Phú Thọ với vị trí trung du miền núi phía Bắc, giữ vai trò kết nối chiến lược giữa các vùng, miền được xác định là địa bàn trọng yếu trong thế trận quốc phòng của Quân khu 2, Thủ đô Hà Nội và cả nước. Hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng trong xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững mạnh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng
Thứ nhất, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tiêu chí lựa chọn căn cứ địa cách mạng.
(1) Phải coi trọng yếu tố địa lý – địa hình, địa lợi. Yếu tố địa lý – địa hình, địa lợi luôn được coi là điều kiện quan trọng hàng đầu trong việc lựa chọn xây dựng căn cứ địa cách mạng. Địa hình hiểm trở, phức tạp thường gây bất lợi cho sự kiểm soát và đàn áp của kẻ thù nhưng lại tạo ra môi trường thuận lợi cho cách mạng tồn tại, phát triển. Nhờ đó, căn cứ địa cách mạng có thể bảo toàn lực lượng khi gặp khó khăn, vừa có thể trở thành bàn đạp tiến công giành thắng lợi khi thời cơ đến. Việc lựa chọn đúng địa bàn xây dựng căn cứ địa cách mạng sẽ mở ra triển vọng lớn, tạo điều kiện để cách mạng đi “từ không thành có, mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn”. Nhận thức rõ điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định những nơi được chọn để xây dựng căn cứ địa cách mạng là “nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở”3, tức là phải có ưu thế về “địa – quân sự” để “tiến có thể công, thoái có thể thủ”.
Bên cạnh yếu tố địa hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của địa lợi, tức là vị trí địa lý chiến lược thuận tiện cho việc liên lạc, liên kết, vận chuyển, mở rộng phong trào và quan hệ quốc tế. Người từng chỉ rõ, muốn kháng chiến được lâu dài, phải chọn nơi núi rừng hiểm trở, gần nhân dân, gần biên giới để dễ liên lạc và tiếp tế. Việc chọn tỉnh Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên là do vừa có núi rừng che chở, vừa có đường biên giới thông sang Trung Quốc, thuận lợi cho việc liên hệ với quốc tế cộng sản và phong trào cách mạng thế giới.
(2) Có sự đồng tình ủng hộ của Nhân dân. V.I.Lênin khẳng định: “Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được”4.
Trên cơ sở tiếp thu lý luận Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, lựa chọn căn cứ địa cách mạng phải đặt trên nền tảng nhân dân, nơi đó phải có “quần chúng cảm tình ủng hộ”5, tức là phải có yếu tố nhân hòa “địa – chính trị”, vì lực lượng cách mạng muốn phát triển thì “chỗ đứng chân phải chắc. Vững chắc nhất là lòng dân”6. Nhất là trong hoàn cảnh tương quan lực lượng vũ trang giữa ta và địch hết sức chênh lệch thì phải dùng tinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém vật chất.
Điểm đặc sắc nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng là xây dựng “căn cứ địa cách mạng lòng dân” – đây là yếu tố quan trọng nhất, là linh hồn của căn cứ địa cách mạng. Người nói: “Có núi thì dựa vào núi, có sông thì dựa vào sông, không có núi, có sông thì dựa vào người làm sông núi”7. Nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công trong xây dựng căn cứ địa cách mạng. Người còn căn dặn: “Các cô, các chú không có rừng cây, nhưng có rừng dân, dựa vào dân mà kháng chiến, căn cứ xây dựng trong lòng dân là căn cứ vững chắc nhất”8. Vì vậy, căn cứ địa vững chắc nhất của cách mạng chính là lòng dân, là sức mạnh đoàn kết chiến đấu của toàn dân. Bởi vì, “cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”9. Khi khởi nghĩa vũ trang nổ ra, cần có lực lượng quần chúng đông đảo, rộng khắp, tạo thế áp đảo kẻ thù khi thời cơ chín muồi. Nếu không xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc, khởi nghĩa vũ trang nổ ra sẽ thiếu điểm tựa, dễ bị kẻ thù đàn áp, tiêu diệt.
(3) Khả năng tự lực, tự cường và bảo đảm hậu cần. Trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, nhất là khi bị địch bao vây, phong tỏa, cắt đứt các tuyến tiếp tế bên ngoài, vấn đề lương thực, thực phẩm trở thành nhân tố quyết định sự tồn tại của căn cứ địa cách mạng. Vì vậy, tự bảo đảm lương thực không chỉ là yêu cầu kinh tế, mà trước hết là yêu cầu chính trị, quân sự, tạo ra cơ sở vật chất ổn định để nuôi quân và bảo đảm đời sống nhân dân trong căn cứ địa cách mạng. Đây là điều kiện trực tiếp duy trì thể lực bộ đội, ổn định tâm lý xã hội, củng cố niềm tin của quần chúng đối với cách mạng.
(4) Có sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và cơ sở chính trị vững chắc. Cơ sở chính trị của căn cứ địa cách mạng được hình thành từ hệ thống các tổ chức quần chúng cách mạng, chính quyền cách mạng ở cơ sở và sự giác ngộ, ủng hộ của đông đảo Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Một cơ sở chính trị vững chắc phải bảo đảm ba yếu tố cơ bản: tổ chức chính trị – xã hội được xây dựng rộng khắp; Nhân dân tin tưởng và tích cực tham gia các hoạt động của cách mạng; các thiết chế quản lý xã hội vận hành ổn định, tạo nên môi trường chính trị – xã hội thuận lợi cho sự phát triển của căn cứ địa cách mạng. Khi cơ sở chính trị được củng cố vững chắc, căn cứ địa cách mạng không chỉ có chỗ dựa vật chất mà còn có chỗ dựa tinh thần và sức mạnh đoàn kết của toàn thể nhân dân.
Thứ hai, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Về chính trị – tư tưởng: đây là nhiệm vụ trọng yếu, bởi đó là nơi kết tinh ý chí, niềm tin và tinh thần đoàn kết dân tộc. Người nhấn mạnh: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”10. Xây dựng căn cứ địa cách mạng về chính trị – tư tưởng phải gắn với công tác tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ quần chúng, củng cố lòng yêu nước, ý chí chiến đấu và niềm tin vào thắng lợi của cách mạng. Trọng tâm là xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, vì “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”11; đồng thời, củng cố chính quyền cách mạng của dân, do dân và vì dân, bởi “Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được”12 và kiên quyết trấn áp mọi phần tử phản cách mạng.
Về quân sự: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”13. Do đó, “nếu không có lực lượng vũ trang thì không thể đánh thắng được bọn áp bức”14, cách mạng muốn thắng lợi phải có lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh. Người xác định lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đây là tư tưởng chỉ đạo nền tảng của chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu địch mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao yếu tố con người, coi “người trước, súng sau”, bởi “Nếu anh em tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khoẻ mạnh thì nhất định thắng. Trái lại, nếu anh em chính trị khá, nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được”15. Vì vậy, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ ra sức phấn đấu để có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng. Đề cao vai trò con người nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nâng cao trình độ, vũ khí, trang bị.
Về kinh tế: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ lực lượng vũ trang: “Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thể tách rời được với chính trị và kinh tế. Nếu chỉ biết đánh mà không nghĩ đến kinh tế thì khi hết gạo sẽ không đánh được”16. Người cũng xác định biện pháp phát triển kinh tế là đẩy mạnh tăng gia sản xuất và tăng cường tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cùng với đó, đấu tranh kinh tế với địch là hoạt động kinh tế trọng tâm tại căn cứ địa cách mạng. Địch phá ta về kinh tế, ta lấy sản xuất chống lại chúng. Không ngừng phát triển các cơ sở sản xuất (nhất là cơ sở sản xuất kinh tế – quốc phòng, lương thực – thực phẩm) nhằm bảo đảm tối đa nhu cầu đấu tranh vũ trang ở căn cứ địa cách mạng, làm cho kinh tế của kẻ thù ngày càng suy yếu.
Về văn hóa – xã hội: là một “trụ cột” của đời sống xã hội, lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”17. Căn cứ địa cách mạng không chỉ là nơi tổ chức kháng chiến mà còn là nơi xây dựng nếp sống mới, Người chỉ đạo: “Xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc”18. Khi văn hóa phát triển thì “Người nào cũng biết chữ, Người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước”19, mọi cuộc chiến tranh tâm lý mà kẻ thù thực hiện trong hai cuộc kháng chiến đều thất bại. Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, tàn dư phong kiến và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới. Xây dựng nền văn hóa cách mạng theo phương châm “dân tộc, khoa học và đại chúng”. Nhờ đó, căn cứ địa cách mạng không chỉ là hậu phương chiến lược mà còn là “cái nôi” hình thành những giá trị nhân văn, tiến bộ của xã hội mới.
Về mặt xã hội, phải chăm lo cho đời sống của Nhân dân theo tinh thần: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”20. Đặc biệt, phải thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, tức là chăm lo cho những người đã từng tham gia kháng chiến cũng như những gia đình có liệt sĩ và đang có người chiến đấu ngoài mặt trận theo tinh thần “đền ơn, đáp nghĩa”.
Thứ ba, về xây dựng gắn liền với bảo vệ và mở rộng căn cứ địa cách mạng.
Quán triệt sâu sắc luận điểm của V.I.Lênin: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”21, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, việc xây dựng gắn liền với bảo vệ căn cứ địa cách mạng là hai mặt thống nhất, gắn bó hữu cơ trong quá trình phát triển của cách mạng. Có xây dựng tốt thì mới có khả năng bảo vệ vững chắc; ngược lại bảo vệ tốt mới có điều kiện để tiếp tục xây dựng và phát triển căn cứ địa cách mạng, bởi kẻ thù luôn tìm cách phá hoại căn cứ địa cách mạng của ta. Người chỉ rõ: nhiệm vụ bảo vệ là cực kỳ quan trọng, song quyết định nhất trong các nhiệm vụ là bảo đảm cho căn cứ địa cách mạng ổn định và vững mạnh là nhiệm vụ xây dựng.
Trước khi trở về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta trở về Tổ quốc, việc trước tiên là phải có chỗ đứng chân. Lúc đầu là một điểm nhỏ, sau mở rộng thành một điểm to, rồi thành căn cứ”22. Điều đó cho thấy, cùng với sự lớn mạnh của cách mạng, căn cứ địa ngày càng lớn rộng cả về quy mô và phạm vi ảnh hưởng. Với tư tưởng chủ động tiến công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng không chỉ cần bảo vệ vững chắc mà còn phải dần dần mở rộng căn cứ địa cách mạng. Người nói: “Chiến trường sau lưng địch phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch; để khuấy rối phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những căn cứ kháng chiến sau lưng địch”23.
3. Thực trạng và một số giải pháp xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ
Những năm qua, tỉnh Phú Thọ đã triển khai thực hiện toàn diện nội dung xây dựng khu vực phòng thủ theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, Kết luận số 64-KL/TW ngày 30/10/2019 về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW, Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22/02/2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ đã đạt được nhiều kết quả nổi bật là: công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ được coi trọng và có nhiều đổi mới. Nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng tham gia xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ ngày càng được nâng lên. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và khu vực phòng thủ vững chắc. “Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội với đảm bảo quốc phòng – an ninh và đối ngoại. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác huấn luyện, diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập phòng thủ dân sự; công tác quản lý đất quốc phòng; công tác xây dựng các công trình phòng thủ, công trình chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần – kỹ thuật, doanh trại, trụ sở làm việc của ban chỉ huy quân sự cấp xã; các chính sách đối với lực lượng vũ trang và hậu phương quân đội”24. Cơ quan quân sự, công an địa phương đã phát huy vai trò nòng cốt, chủ trì phối hợp, tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng đi vào chiều sâu. Tiềm lực, thế trận, sức mạnh của khu vực phòng thủ, đặc biệt là tiềm lực chính trị – tinh thần, kinh tế…, “thế trận lòng dân” vững chắc. Lực lượng vũ trang được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân hằng năm.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình xây dựng và tổ chức hoạt động khu vực phòng thủ còn bộc lộ một số hạn chế, như: một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận thức chưa thật đầy đủ, sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ, còn có biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác. “Bảo đảm quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kinh tế – xã hội trên một số lĩnh vực, địa bàn chưa được chú trọng đúng mức”25. Nguồn lực đầu tư cho xây dựng khu vực phòng thủ của một số địa phương còn thấp. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành,… trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh chưa thống nhất, đồng bộ. Năng lực tham mưu, phối hợp xử lý tình huống về quốc phòng – an ninh của các lực lượng ở một số địa phương còn hạn chế.
Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng trong xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ hiện nay cần được tiến hành đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm sự thống nhất giữa lực lượng và thế trận, giữa xây dựng và bảo vệ, giữa phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng – an ninh. Trên cơ sở đó, tỉnh Phú Thọ cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền và chất lượng tham mưu của các cơ quan quân sự và công an.
Đây là giải pháp then chốt, có ý nghĩa quyết định trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng trong xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ hiện nay được đúng hướng, đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Theo đó, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt nhiệm vụ quốc phòng – an ninh và xây dựng khu vực phòng thủ. Thực tiễn cho thấy, nơi nào cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo sâu sát, thống nhất thì nơi đó việc xây dựng khu vực phòng thủ được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm; ngược lại, nếu lãnh đạo thiếu thường xuyên, thiếu cụ thể sẽ dẫn đến tình trạng triển khai dàn trải, hiệu quả không cao.
Chính quyền các cấp giữ vai trò trung tâm trong quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ. Do đó, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế, mối quan hệ công tác giữa các cấp chính quyền và cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền địa phương theo phương châm “Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân.
Cần nâng cao năng lực tham mưu, nghiên cứu, dự báo, đánh giá tình hình của cơ quan quân sự và công an. Trên cơ sở nắm chắc đặc điểm địa bàn, tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, các cơ quan này phải chủ động phân tích, dự báo những yếu tố tác động đến xây dựng khu vực phòng thủ; kịp thời phát hiện nguy cơ, thách thức, những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các chủ trương, biện pháp phù hợp, không để bị động, bất ngờ; hoàn thiện cơ chế phối hợp và xác định rõ trách nhiệm của các lực lượng trong xây dựng khu vực phòng thủ.
Hai là, nâng cao nhận thức, phát huy trách nhiệm của các chủ thể và lực lượng.
Đây là giải pháp quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động của các chủ thể và lực lượng trong xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ hiện nay. Bởi vì, nhận thức là cơ sở của hành động, có vai trò quan trọng trong chỉ đạo, định hướng hoạt động thực tiễn của con người. Nhận thức đúng thì hành động mới đúng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dạy: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được”26. Nhận thức của chủ thể và lực lượng càng đầy đủ, sâu sắc thì xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ càng bảo đảm chất lượng và hiệu quả.
Để nâng cao nhận thức, phát huy trách nhiệm của các chủ thể và lực lượng trong xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ, cần thực hiện tốt tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về sự cần thiết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng trong xây dựng khu vực phòng thủ; về vị trí, vai trò, tầm quan trọng, nội dung xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và Nhân dân về xây dựng khu vực phòng thủ. Để đạt được hiệu quả, cần vận dụng linh hoạt, đa dạng các hình thức, như: thông qua các hình thức sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và Nhân dân; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng của trung ương, địa phương và mạng xã hội; thông qua công tác vận động quần chúng, công tác giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng – an ninh cho các đối tượng, học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức và Nhân dân. Đồng thời, vạch trần, đấu tranh có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về vấn đề này.
Ba là, thường xuyên xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
Xây dựng “thế trận lòng dân” là giải pháp trọng yếu nhằm tạo nền tảng chính trị – tinh thần vững chắc, lâu dài cho khu vực phòng thủ. Đây là trạng thái bền chặt của niềm tin chính trị, sự đồng thuận xã hội và ý thức, trách nhiệm của Nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trọng tâm của xây dựng thế trận lòng dân là củng cố niềm tin, nâng cao nhận thức, phát huy lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, phát huy vai trò các đoàn thể trong quy tụ Nhân dân. Đồng thời, khai thác, phát huy “lòng dân”, sức dân, nhất là ở địa bàn trọng yếu về quốc phòng – an ninh, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo còn khó khăn.
Để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ, cần không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trong cơ quan nhà nước và trong xã hội.
Bốn là, đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa -, xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, trong đó phát triển kinh tế là nền tảng, củng cố quốc phòng – an ninh là điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững, lâu dài. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững mạnh về quốc phòng – an ninh là điều kiện căn bản nhằm phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội; ngược lại, phát triển bền vững kinh tế, văn hóa – xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng – an ninh khu vực phòng thủ. Mối liên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố đó đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp của tỉnh. Vì vậy, chủ thể hoạt động cần nhận thức đầy đủ và xử lý đúng đắn mối quan hệ chặt chẽ giữa kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh trong xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ hiện nay.
Cấp ủy, chính quyền các cấp ở tỉnh Phú Thọ cần quán triệt sâu sắc và đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội gắn với tăng cường quốc phòng – an ninh. Đặc biệt, cần thực hiện nghiêm Luật Quốc phòng năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Nghị định số 164/2018/NĐ-CP ngày 21/12/2018 của Chính phủ về kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng. Quán triệt chủ trương mỗi bước phát triển kinh tế – xã hội là một bước tăng cường quốc phòng – an ninh. Tỉnh cần cụ thể hóa thành nghị quyết chuyên đề, chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo hằng năm phù hợp với đặc điểm địa bàn chiến lược của tỉnh Phú Thọ trong thế trận phòng thủ chung của Quân khu 2 và cả nước. Việc cụ thể hóa phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất từ cấp tỉnh đến cơ sở, tránh tình trạng mỗi ngành, mỗi địa phương triển khai theo cách riêng, thiếu sự gắn kết tổng thể.
Trong quá trình xây dựng và triển khai các kế hoạch, chương trình, dự án phát triển, tỉnh cần ưu tiên xây dựng các công trình mang tính lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa – xã hội của Nhân dân, vừa đáp ứng yêu cầu sẵn sàng huy động cho nhiệm vụ quốc phòng – an ninh khi cần thiết. Các lĩnh vực như: giao thông, đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục, văn hóa cần được quy hoạch, đầu tư theo hướng linh hoạt, có khả năng chuyển đổi công năng, qua đó, góp phần củng cố tiềm lực quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ngay trong thời bình.
Năm là, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang địa phương.
Lực lượng vũ trang địa phương vừa là chủ thể tiến hành, vừa là một thành tố quan trọng góp phần quyết định đến tăng cường sức mạnh trong xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ. Bởi vậy, cần chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, đủ khả năng làm lực lượng nòng cốt trong xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ. Trong đó, lực lượng vũ trang cần phải nâng cao chất lượng chính trị, tư tưởng; nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên vững mạnh, rộng khắp; thực hiện tốt công tác chính sách đối với lực lượng vũ trang. Đồng thời, chú trọng tham mưu cho địa phương tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng; đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ, cốt lõi là xây dựng “thế trận lòng dân”, quy hoạch, đầu tư xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc. Thường xuyên nêu cao cảnh giác cách mạng, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chủ động nắm, dự báo chính xác tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp có đối sách xử lý phù hợp, không để bị động, bất ngờ, trong mọi tình huống.
Sáu là, thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực tiễn.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”27 và “ Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có “ngọn đèn pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”28. Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết là khâu quan trọng nhằm bảo đảm các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch về xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ được tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ và hiệu quả. Thông qua kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết kịp thời phát hiện những hạn chế, sai lệch trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Từ đó, có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục, bảo đảm xây dựng khu vực phòng thủ đúng định hướng, yêu cầu đề ra.
4. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng là một hệ thống quan điểm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước trong thời kỳ hòa bình, hội nhập và phát triển, những nội dung cốt lõi của tư tưởng đó tiếp tục được kế thừa, phát triển và thể hiện tập trung trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Khu vực phòng thủ là sự phát triển mới của căn cứ địa cách mạng trong thời bình, giữ vai trò chuẩn bị và sẵn sàng chuyển hóa sang thời chiến khi cần thiết. Thực tiễn xây dựng khu vực phòng thủ ở tỉnh Phú Thọ đã đạt nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn hạn chế cần khắc phục. Trên cơ sở đó, việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Chú thích:
1. Đại tướng Văn Tiến Dũng (1990). Đi theo con đường của Bác. H.NXB Sự thật, tr. 173.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 279.
3, 5, 12. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 536, 536, 536.
4. V. I. Lênin toàn tập (2005). Tập 39. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 251.
6, 22. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1995). Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 255, 255.
7. Vũ Anh (1960). Hồi ký Bác Hồ. H. NXB Văn học, tr. 27.
8. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hải Hưng (1988). Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn tỉnh Hải Hưng (1945 – 1954). H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 166.
9, 11. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 283, 289.
10, 15, 16, 17, 18. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 164, 219, 446, 246, 40.
13. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.114.
14, 26. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 331, 360.
19, 27, 28. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 81, 327, 637.
20. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 518.
21. V.I.Lê-nin toàn tập (1977). Tập 37. NXB Tiến Bộ, Mát-xcơ-va, tr. 145.
23. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 28.
24, 25. Tỉnh ủy Phú Thọ (2025). Báo cáo Chính trị số 45-BC/TU ngày 31/10/2025 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, tr. 10, 12.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2008). Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 về tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới.
2. Bộ Chính trị (2019). Kết luận số 64-KL/TW ngày 30/10/2019 về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới.
3. Chính phủ (2018). Nghị định số 164/2018/NĐ-CP ngày 21/12/2018 về kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng.
4. Chính phủ (2019). Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22/02/2019 về khu vực phòng thủ.
5. Quốc hội (2018, 2025). Luật Quốc phòng năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng – giá trị lý luận và thực tiễn. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/29/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-can-cu-dia-cach-mang-gia-tri-ly-luan-va-thuc-tien/



