Applying Ho Chi Minh’s ideology to improve the quality of the current local government cadre
ThS. Vi Thị Tới
Phân hiệu Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung phân tích và làm rõ những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, từ đó vận dụng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích – tổng hợp và quan sát thực tiễn, bài viết chỉ ra vai trò quyết định của cán bộ đối với hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Đồng thời, bài viết đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu, như: nâng cao nhận thức, hoàn thiện tiêu chuẩn, đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và tăng cường kiểm soát quyền lực. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; cán bộ; chính quyền địa phương hai cấp.
Abstract: The article analyzes and clarifies the core content of Ho Chi Minh’s thought on cadres and cadre work, and applies it to improve cadre quality within Vietnam’s two-level local government model today. Based on analysis, synthesis, and practical observation, the article highlights the decisive role of cadres in the effectiveness and efficiency of government apparatus operations. At the same time, the article assesses the current situation of the staff, highlighting the achieved results and remaining limitations. From there, several main solutions are proposed, such as raising awareness, improving standards, innovating in recruitment, training, use, and strengthening power control. The research results provide a theoretical and practical basis for building a cadre contingent to meet development requirements in the new period.
Keywords: Ho Chi Minh thought; officials; two-tier local government.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đội ngũ cán bộ luôn giữ vai trò then chốt, quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác cán bộ và khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Tư tưởng của Người về cán bộ không chỉ dừng lại ở việc xác định vị trí, vai trò mà còn bao hàm hệ thống quan điểm toàn diện về tiêu chuẩn, phương pháp tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và kiểm tra, giám sát cán bộ. Đây là nền tảng lý luận quan trọng để Đảng và Nhà nước ta vận dụng trong từng giai đoạn cách mạng. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trong đó, nổi bật là việc nghiên cứu và từng bước triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đang đặt ra những đòi hỏi mới đối với đội ngũ cán bộ.
Việc giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền làm cho phạm vi, tính chất và mức độ trách nhiệm của cán bộ ngày càng lớn, đòi hỏi họ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn cao và khả năng thích ứng nhanh với bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển mới. Do đó, việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ nhằm xác định rõ những yêu cầu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết hiện nay.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng Đảng và Nhà nước ta. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ, coi đây là nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc. Những nội dung cốt lõi trong tư tưởng của Người về cán bộ và công tác cán bộ có thể được khái quát thành các phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt1, “cán bộ là cái gốc của mọi việc”2, “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”3, đồng thời chỉ rõ rằng mọi đường lối, chủ trương của Đảng có được thực hiện tốt hay không đều phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ. Theo Người, cán bộ chính là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, là lực lượng trực tiếp tổ chức, vận động và dẫn dắt quần chúng thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Do đó, nếu cán bộ tốt, có năng lực và phẩm chất thì công việc sẽ thành công; ngược lại, nếu cán bộ yếu kém thì sẽ dẫn đến thất bại, thậm chí làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Quan điểm này không chỉ khẳng định vai trò trung tâm của cán bộ mà còn đặt ra yêu cầu phải đặc biệt coi trọng công tác cán bộ trong mọi giai đoạn phát triển.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh tiêu chuẩn toàn diện của người cán bộ, trong đó đạo đức cách mạng giữ vai trò nền tảng. Người cho rằng cán bộ phải hội đủ cả “đức” và “tài”, nhưng “đức là gốc”. Đức ở đây được thể hiện ở lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phục vụ Nhân dân; ở lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; ở tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật và sự gương mẫu trong công việc cũng như trong đời sống. Người nói: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”4. Bên cạnh đó, cán bộ còn phải có “tài”, tức là năng lực chuyên môn, trình độ hiểu biết, khả năng tổ chức thực tiễn và phương pháp làm việc khoa học.
Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán gay gắt những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, coi đó là những “căn bệnh” nguy hiểm làm tha hóa đội ngũ cán bộ. Người căn dặn: “Mình là người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con, bầu bạn mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Phải trung thành với chính phủ, với đồng bào, chớ lên mặt quan cách mệnh”5. Do vậy, việc rèn luyện đạo đức cách mạng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, gắn với thực tiễn công tác và đời sống.
Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao công tác tuyển chọn, đánh giá và sử dụng cán bộ một cách đúng đắn, khoa học. Theo Người, “ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu”6, ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu của họ để giúp cho công việc chung của tập thể đi lên, phải lựa chọn “những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh; Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ. Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnh đạo. Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc, không sợ khó khăn.Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật. Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ, chúng ta phải theo cho đúng”7. Do đó, việc lựa chọn cán bộ phải căn cứ vào phẩm chất và năng lực thực sự, tránh tình trạng cục bộ, thân quen, “dùng người theo cảm tính”. Người nhấn mạnh phải “biết người, dùng người”, tức là đánh giá đúng cán bộ để bố trí vào vị trí phù hợp, phát huy được sở trường và hạn chế nhược điểm. Do đó, “lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ”8.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, trong đánh giá cán bộ cần toàn diện, khách quan, tránh nhìn nhận phiến diện, một chiều; phải đặt cán bộ trong môi trường thực tiễn, trong mối quan hệ với quần chúng để xem xét. Bên cạnh đó, Người đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng cán bộ, coi đây là khâu then chốt để phát huy hiệu quả của công tác cán bộ. Người chỉ rõ: “Cất nhắc cán bộ là một công tác cần kíp. Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng đáng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc”9. Sử dụng đúng người, đúng việc không chỉ giúp nâng cao hiệu quả công việc mà còn tạo động lực để cán bộ phấn đấu, cống hiến.
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện cán bộ. Người cho rằng cán bộ không phải tự nhiên mà có, mà phải được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện trong thực tiễn cách mạng. Do vậy, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”10, “Các cơ quan cần rất chú ý tới việc huấn luyện cán bộ”11. Mục đích của công tác huấn luyện là tạo ra đội ngũ cán bộ “có gan phụ trách, có gan làm việc”12. Trong “đào tạo cán bộ không được làm qua loa, đại khái” mà “phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý”13.
Việc đào tạo cán bộ cần được tiến hành một cách có kế hoạch, toàn diện cả về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của việc “học đi đôi với hành”, lý luận gắn với thực tiễn, coi đây là nguyên tắc cơ bản trong đào tạo cán bộ. Đồng thời, Người cũng đề cao tinh thần tự học, tự rèn luyện của mỗi cán bộ, bởi theo Người, “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Việc luân chuyển, thử thách cán bộ trong các môi trường khác nhau cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem là phương thức quan trọng để nâng cao năng lực và bản lĩnh của cán bộ.
Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đối với cán bộ, bởi có kiểm tra, giám sát thì “mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”14. Người cho rằng, nếu không có kiểm tra, giám sát thì dễ dẫn đến tình trạng cán bộ làm việc tùy tiện, thiếu trách nhiệm, thậm chí vi phạm kỷ luật. Kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện sai phạm mà còn để kịp thời uốn nắn, giúp cán bộ sửa chữa khuyết điểm và tiến bộ. Người khẳng định: “Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của Nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của mỗi cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”15.
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, khách quan, công tâm, tránh hình thức, chiếu lệ, bởi “phải kiểm tra công tác của cán bộ, nếu chỉ nghe báo cáo, có khi cán bộ báo cáo không đúng thì lãnh đạo sẽ sai lệch”16. Bên cạnh đó, Người cũng nhấn mạnh vai trò của kỷ luật trong việc giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của đội ngũ cán bộ. Những cán bộ vi phạm phải bị xử lý nghiêm minh, không có ngoại lệ, nhằm bảo đảm tính răn đe và giữ vững niềm tin của Nhân dân.
Thứ sáu, tư tưởng Hồ Chí Minh đề cao mối quan hệ mật thiết giữa cán bộ với Nhân dân, coi đây là nguyên tắc sống còn trong công tác cán bộ. Theo Người, cán bộ phải “gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, phải thực sự là “công bộc” của Nhân dân. “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”17. Mọi hoạt động của cán bộ phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công việc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán những biểu hiện xa dân, quan liêu, hách dịch, coi đó là nguyên nhân làm suy giảm uy tín của Đảng và Nhà nước. Người chỉ rõ: “Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra nghiên cứu đến nơi, đến chốn công việc phải làm, việc gì cũng không nắm vững, chỉ đạo một cách chung chung”18. Người cũng nhấn mạnh vai trò của Nhân dân trong việc tham gia giám sát, đánh giá cán bộ, bởi Nhân dân là người hiểu rõ nhất phẩm chất, năng lực của cán bộ trong thực tiễn. Do đó, phát huy dân chủ, tăng cường sự giám sát của Nhân dân là một nội dung quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là một hệ thống quan điểm toàn diện, khoa học và sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có giá trị định hướng sâu sắc đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tư tưởng của Người cung cấp hệ tiêu chuẩn toàn diện về phẩm chất và năng lực cán bộ, nhấn mạnh “đức là gốc”, qua đó góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới. Đồng thời, những quan điểm về tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, kiểm tra, giám sát cán bộ giúp hoàn thiện cơ chế quản lý cán bộ theo hướng khoa học, minh bạch và hiệu quả.
Đặc biệt, tư tưởng gần dân, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ thực sự phục vụ Nhân dân, phù hợp với yêu cầu tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Những quan điểm này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang ý nghĩa thời sự trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” ngày càng trở nên cấp thiết. Việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
3. Một số giải pháp
Những năm gần đây, công tác cán bộ của Đảng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của hệ thống chính trị. Đại hội XIV (2026) của Đảng chỉ rõ: “Các chủ trương, giải pháp về công tác cán bộ được kịp thời thể chế, cụ thể hóa; việc sửa đổi, ban hành hệ thống các quy định về công tác cán bộ được triển khai toàn diện, đồng bộ với nhiều nội dung mới, đột phá, lần đầu được áp dụng, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, chặt chẽ.
Công tác xử lý cán bộ vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật Nhà nước, nhất là đối với một số cán bộ lãnh đạo cấp cao, kể cả lãnh đạo chủ chốt đã được chỉ đạo chặt chẽ, nghiêm minh, kịp thời, đồng thời nhanh chóng kiện toàn nhân sự thay thế đã khẳng định bản lĩnh chính trị, sức mạnh đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng, cùng ý chí quyết tâm xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh”19. Đồng thời, Đại hội XIV cũng chỉ ra những hạn chế là “công tác cán bộ còn một số bất cập, nhất là đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ có mặt còn hạn chế. Một số tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp xã sau sắp xếp, hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền mới trong thời gian đầu còn gặp khó khăn, lúng túng, nhất là cơ quan hành chính và các đoàn thể”20. Trên cơ sở những kết quả và hạn chế đã được chỉ ra, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Một là, nâng cao nhận thức và quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ. Đây là giải pháp mang tính nền tảng, nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giúp cán bộ hiểu rõ vai trò “cán bộ là gốc của mọi công việc”, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ Nhân dân. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần được triển khai thực chất, gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng vị trí công tác, tránh hình thức, chiếu lệ.
Hai là, hoàn thiện tiêu chuẩn và đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, toàn diện. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, cần xác định rõ tiêu chuẩn cán bộ dựa trên cả “đức” và “tài”, trong đó đạo đức cách mạng là nền tảng. Việc đánh giá cán bộ phải dựa trên kết quả, hiệu quả công việc, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và sự tín nhiệm của Nhân dân, thay vì chỉ dựa vào bằng cấp hay hình thức. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phù hợp với đặc thù của mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm khách quan, công tâm và minh bạch, khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, nể nang.
Ba là, đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ theo nguyên tắc “đúng người, đúng việc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải biết “dùng người như dùng gỗ”, tức là phát huy tối đa sở trường của mỗi người. Do đó, cần thực hiện tuyển dụng công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, lựa chọn người có năng lực thực chất. Công tác quy hoạch cán bộ phải gắn với yêu cầu phát triển lâu dài, bảo đảm tính kế thừa và phát triển. Việc bố trí, sử dụng cán bộ cần linh hoạt, phù hợp với năng lực, sở trường và yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt trong bối cảnh giảm tầng nấc trung gian của mô hình hai cấp, đòi hỏi cán bộ phải đảm nhiệm nhiều chức năng, nhiệm vụ hơn.
Bốn là, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng toàn diện, gắn lý luận với thực tiễn. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ phải không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ. Do đó, cần xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chú trọng nâng cao năng lực quản lý tổng hợp, kỹ năng điều hành, khả năng thích ứng với chuyển đổi số và cải cách hành chính. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo thông qua thực tiễn, luân chuyển cán bộ giữa các vị trí, địa bàn để rèn luyện bản lĩnh, tích lũy kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc.
Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của kiểm tra, coi đây là “khâu quan trọng” để bảo đảm công việc được thực hiện đúng đắn. Trong bối cảnh hiện nay, cần xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, phòng ngừa và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm. Công tác kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên, nghiêm minh, công khai, kết hợp giữa kiểm tra nội bộ và giám sát của Nhân dân, của các tổ chức xã hội. Đồng thời, cần xử lý nghiêm các vi phạm, tạo tính răn đe và củng cố niềm tin của Nhân dân.
Sáu là, xây dựng môi trường làm việc dân chủ, minh bạch và phát huy mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ với Nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của Nhân dân và yêu cầu cán bộ phải “gần dân, hiểu dân, học dân”. Do đó, cần tạo điều kiện để Nhân dân tham gia giám sát, đánh giá cán bộ; lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của chính quyền. Đồng thời, cần xây dựng môi trường làm việc khuyến khích đổi mới, sáng tạo, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Việc cải thiện chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc cũng là yếu tố quan trọng để thu hút và giữ chân người có năng lực, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.
4. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là nền tảng lý luận quan trọng, có giá trị bền vững đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền ở nước ta. Trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc vận dụng sáng tạo và linh hoạt những quan điểm của Người về cán bộ càng trở nên cấp thiết. Thông qua việc quán triệt tiêu chuẩn “đức” và “tài”, đổi mới công tác tuyển dụng, đánh giá, đào tạo, sử dụng và kiểm soát quyền lực, có thể từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, việc phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, xây dựng môi trường làm việc dân chủ, minh bạch sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của cán bộ. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, góp phần nâng cao chất lượng quản trị địa phương và thúc đẩy phát triển bền vững đất nước.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 17. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 309, 309, 280, 122, 123, 279, 315, 320, 314, 273, 309, 320, 313, 636, 636, 286.
16. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.309.
18. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 486.
19, 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự Thật, tr. 57-58, 68.



