Xây dựng văn hóa liêm chính trong kiểm soát quyền lực ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Building a culture of integrity in the control of power in Vietnam today based on Ho Chi Minh Thought

TS. Lê Thị Tâm 
Email: tamlt@vlute.edu.vn
ThS. Nguyễn Thị Ràng
Email: rangnt@vlute.edu.vn
Trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật Vĩnh Long

(Quanlynhanuoc.vn) – Kiểm soát quyền lực là yêu cầu cốt lõi nhằm bảo đảm quyền lực công được thực thi đúng mục đích, đúng thẩm quyền và vì lợi ích của Nhân dân. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và trách nhiệm của cán bộ, bài viết làm rõ vai trò của văn hóa liêm chính như nền tảng nội sinh của kiểm soát quyền lực; đồng thời, đề xuất các giải pháp góp phần xây dựng nền công vụ minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Văn hóa liêm chính; tư tưởng Hồ Chí Minh; kiểm soát quyền lực; quản trị số; đạo đức công vụ.

Abstract: Power control is a core requirement for ensuring that public power is exercised for the right purposes, within the proper authority, and in the interests of the People. Drawing on Ho Chi Minh Thought on revolutionary ethics and the responsibilities of cadres, this article clarifies the role of a culture of integrity as an endogenous foundation of power control and proposes solutions to contribute to building a transparent, accountable, and effective public service in the current context.

Keywords: Integrity culture; Ho Chi Minh Thought; power control; digital governance; public service ethics.

1. Đặt vấn đề

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, không bị tha hóa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 99). Định hướng này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cả cơ chế kiểm soát quyền lực và nền tảng giá trị định hướng hành vi của chủ thể thực thi quyền lực trong điều kiện mới. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề liêm chính có vị trí đặc biệt trong xây dựng đội ngũ cán bộ và thực thi quyền lực. Các quan điểm về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, chống chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí, quan liêu và đề cao trách nhiệm của cán bộ trước Nhân dân cho thấy liêm chính không chỉ là phẩm chất đạo đức cá nhân mà còn là yêu cầu đối với việc sử dụng quyền lực công. Khi liêm chính được nội hóa thành ý thức và chuẩn mực hành động sẽ góp phần phòng ngừa sự lạm dụng, tha hóa quyền lực. Vì vậy, việc xây dựng văn hóa liêm chính phải được xem là điều kiện nội sinh, mang tính nền tảng để bảo đảm cho các cơ chế kiểm soát quyền lực vận hành có hiệu lực, hiệu quả và bền vững trong thực tiễn.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về liêm chính – nền tảng đạo đức của quyền lực công

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cán bộ là “công bộc của dân” và “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 65). Quan niệm này xác lập một nguyên tắc căn bản đối với việc thực thi quyền lực công: quyền lực là do Nhân dân ủy quyền, chứ không phải là đặc quyền của người được giao quyền và phải được sử dụng nhằm phục vụ lợi ích của Nhân dân. Liêm chính đòi hỏi cán bộ phải đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi và phải chịu trách nhiệm về quyết định, hành động của mình.

Bên cạnh đó, Người còn đặc biệt nhấn mạnh mối nguy hại của “chủ nghĩa cá nhân” đối với đội ngũ cán bộ. Chủ nghĩa cá nhân có thể làm nảy sinh tham ô, lãng phí, quan liêu, đặc quyền, đặc lợi và từng bước dẫn tới sự tha hóa quyền lực. Người coi đây là “thứ vi trùng rất độc”, có thể làm hư hỏng đội ngũ cán bộ từ bên trong. Khi khẳng định “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 402), Người nhấn mạnh rằng đạo đức không phải là yêu cầu mang tính hình thức mà là nền tảng để bảo đảm quyền lực được thực hiện đúng mục đích và vì lợi ích của Nhân dân.

Khi văn hóa liêm chính suy yếu, toàn bộ bộ máy quyền lực rất dễ mất đi nền tảng chính đáng trước Nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu xây dựng các cơ chế kiểm soát quyền lực công khai, minh bạch và ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực ngày càng trở nên cấp thiết, cùng với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, yêu cầu đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi văn hóa liêm chính không dừng lại ở những lời kêu gọi mà phải được chuyển hóa thành các cơ chế kiểm soát quyền lực đủ hiệu lực trong tổ chức và thực tiễn quản trị công.
3. Kiểm soát quyền lực – sự thể chế hóa văn hóa liêm chính hiện nay

Nếu liêm chính là nền tảng đạo đức của quyền lực công thì thì kiểm soát quyền lực là cơ chế bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích và trong giới hạn được pháp luật xác lập. Theo đó, kiểm soát quyền lực là phương thức bảo đảm quyền lực được thực thi đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm và hướng đến lợi ích công. Đây cũng chính là quá trình thể chế hóa văn hóa liêm chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Một nền văn hóa liêm chính chỉ có thể trở thành chuẩn mực ổn định nếu được thể chế hóa thành các quy tắc, quy trình và cơ chế kiểm soát cụ thể. Các quy định pháp luật, cơ chế giám sát, kiểm tra và chế tài tạo ra những giới hạn cần thiết đối với chủ thể thực thi quyền lực. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 xác lập các nguyên tắc trong thi hành công vụ và quy định những việc cán bộ, công chức không được làm; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 tiếp tục mở rộng cơ chế kiểm soát khi luật hóa khái niệm “xung đột lợi ích”, yêu cầu minh bạch tài sản, thu nhập và trách nhiệm giải trình có tính bắt buộc. Những quy định này góp phần chuyển hóa yêu cầu liêm chính từ chuẩn mực đạo đức thành nghĩa vụ pháp lý gắn với trách nhiệm của người thực thi công vụ.

Trong hệ thống chính trị Việt Nam, kiểm soát quyền lực được thực hiện thông qua nhiều cơ chế khác nhau, trong đó kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và sự giám sát của Nhân dân có mối quan hệ bổ sung cho nhau. Các quy định về trách nhiệm nêu gương, chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và những điều đảng viên không được làm góp phần hình thành khuôn khổ đạo đức chính trị đối với đội ngũ thực thi quyền lực. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là một hạt nhân lan tỏa văn hóa liêm chính, chuẩn mực trong ứng xử, nghiêm túc trong thực thi nhiệm vụ (Báo điện tử Chính phủ, 25/02/2026). Vì vậy, xây dựng văn hóa liêm chính phải bắt đầu từ chính chủ thể thực thi quyền lực, đặc biệt là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.

Tuy nhiên, cần thấy rằng, thể chế không tự thân tạo ra liêm chính. Các quy định pháp luật, cơ chế giám sát hay chế tài xử lý vi phạm có thể thiết lập những giới hạn đối với việc thực thi quyền lực nhưng việc các quy định đó được thực hiện như thế nào còn phụ thuộc vào nhận thức, động cơ và văn hóa công vụ của chủ thể thực thi. Nếu cán bộ chỉ tuân thủ vì sợ bị xử lý mà không hình thành ý thức tự giác phục vụ lợi ích công thì hiệu quả kiểm soát quyền lực khó đạt tính bền vững. Ngược lại, khi liêm chính trở thành chuẩn mực được nội hóa thì cán bộ không chỉ tuân thủ quy định mà còn chủ động lựa chọn hành vi phù hợp với lợi ích chung ngay cả trong những tình huống pháp luật chưa quy định đầy đủ.

Từ góc độ đó, xây dựng văn hóa liêm chính cần được đặt trong mối quan hệ giữa “không thể, không dám, không muốn, không cần” tham nhũng, tiêu cực (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.162). Trong đó, “không thể” được bảo đảm bằng thể chế và các ràng buộc pháp lý; “không dám” gắn với kỷ luật, thanh tra, kiểm tra và chế tài nghiêm minh; “không muốn” gắn với việc hình thành chuẩn mực đạo đức và sự tự giác liêm chính; “không cần” liên quan đến chính sách tiền lương, đãi ngộ và môi trường công vụ phù hợp. Bốn phương diện này chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được triển khai đồng bộ.

Ngoài ra, kiểm soát quyền lực cũng cần được đặt trong mối quan hệ với yêu cầu khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Liêm chính không đồng nghĩa với thụ động, né tránh hoặc chỉ lựa chọn phương án an toàn cho cá nhân. Một nền công vụ liêm chính phải bảo đảm cán bộ không lợi dụng quyền lực vì lợi ích riêng nhưng đồng thời phải chủ động sử dụng thẩm quyền được giao để giải quyết công việc vì lợi ích công và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Vì vậy, kiểm soát quyền lực cần đi cùng với cơ chế xác định rõ trách nhiệm, bảo vệ người thực hiện đúng chức trách và phân biệt giữa sai phạm do vụ lợi với sai sót trong quá trình đổi mới, thử nghiệm vì lợi ích chung.

Nhìn chung, thể chế hóa văn hóa liêm chính không phải là biến đạo đức thành những quy định cứng nhắc mà là tạo ra môi trường, trong đó giá trị liêm chính được chuyển hóa thành chuẩn mực, chuẩn mực được thể chế hóa thành quy tắc và quy tắc được bảo đảm bằng kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
4. Kỷ nguyên số và những thách thức mới đối với văn hóa liêm chính

Chuyển đổi tạo ra những điều kiện mới để nâng cao tính minh bạch, hiệu quả kiểm soát trong quản trị công. Việc số hóa quy trình hành chính, quản lý dữ liệu và cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã góp phần hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp trong quá trình giải quyết công việc, tăng khả năng lưu trữ thông tin và tạo dấu vết điện tử đối với quá trình xử lý công việc. Khi các thao tác trên hệ thống được ghi nhận và có thể truy xuất, việc xác định trách nhiệm của từng chủ thể và phát hiện những bất thường trong quá trình thực thi công vụ trở nên thuận lợi hơn.

Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác lập nguyên tắc “bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình các quyết định dựa trên công nghệ số, nâng cao niềm tin của người sử dụng”; đồng thời, yêu cầu “hệ thống số phải ghi nhận, lưu trữ và bảo vệ nhật ký hoạt động; bảo đảm khả năng kiểm tra, giám sát và truy vết phục vụ thanh tra, kiểm tra”. Đây là một bước chuyển quan trọng: minh bạch không còn chỉ là yêu cầu về đạo đức và trách nhiệm công vụ mà còn từng bước được tích hợp vào quy trình và cơ chế vận hành của hệ thống quản trị công.

Sự thay đổi này cho thấy một xu hướng đáng chú ý trong quản trị công hiện đại: nhiều yêu cầu vốn trước đây chủ yếu được bảo đảm bằng chuẩn mực đạo đức nay đang từng bước được hỗ trợ bởi các công cụ công nghệ và quy định pháp lý. Luật Chuyển đổi số năm 2025 không chỉ đặt ra yêu cầu về số hóa quy trình hành chính mà còn nhấn mạnh các nguyên tắc minh bạch dữ liệu, khả năng truy vết điện tử và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ vòng đời của hoạt động quản trị số. Nhờ tính năng lưu vết mọi thao tác từ xử lý hồ sơ, khai thác dữ liệu đến ra quyết định, môi trường số giúp nâng cao đáng kể khả năng phát hiện sai phạm và xác định trách nhiệm cá nhân. Qua đó, công nghệ đã góp phần kiến tạo một thể chế minh bạch, hỗ trợ đắc lực cho việc kiểm soát quyền lực trong thực thi công vụ.

Tuy nhiên, hiệu quả của các công cụ kỹ thuật này vẫn phụ thuộc vào chủ thể vận hành. Hệ thống có thể ghi nhận dữ liệu nhưng không thể tự quyết định mục đích sử dụng dữ liệu; có thể truy vết quy trình nhưng không thể thay thế ý thức trách nhiệm của người thực thi công vụ. Nếu không có nền tảng văn hóa liêm chính, ngay cả những công nghệ được xây dựng nhằm tăng cường tính minh bạch cũng có thể bị lạm dụng hoặc chỉ được triển khai một cách hình thức. Vì vậy, chuyển đổi số không thay thế đạo đức công vụ mà tạo ra các công cụ và điều kiện thuận lợi để củng cố, thúc đẩy và hiện thực hóa các giá trị liêm chính trong quản trị nhà nước

Bên cạnh đó, môi trường số cũng làm xuất hiện những nguy cơ mới đối với liêm chính công vụ, như: quyền lực có thể được thể hiện thông qua khả năng kiểm soát dữ liệu, thao túng quy trình điện tử hoặc che giấu trách nhiệm dưới vỏ bọc kỹ thuật. Do đó, vấn đề đặt ra trong quản trị số không phải là lựa chọn giữa công nghệ và đạo đức mà là kết hợp công nghệ với đạo đức và thể chế. Công nghệ có thể tăng khả năng phát hiện và truy vết; trong khi đó, pháp luật xác lập giới hạn và trách nhiệm; còn văn hóa liêm chính định hướng chủ thể sử dụng quyền lực và công nghệ đúng mục đích. Nếu thiếu liêm chính, công nghệ có nguy cơ bị sử dụng sai mục đích; nếu thiếu pháp luật, dữ liệu và công nghệ sẽ thiếu giới hạn rõ ràng; nếu thiếu công nghệ, nhiều cơ chế kiểm soát có thể vẫn phụ thuộc quá nhiều vào giám sát thủ công.

Từ góc độ này, có thể xem văn hóa liêm chính như một “hệ miễn dịch” của nền quản trị số. Nếu pháp luật tạo ra hàng rào kiểm soát bên ngoài và công nghệ cung cấp công cụ phát hiện, truy vết thì liêm chính tạo ra khả năng tự giới hạn quyền lực từ bên trong. Vì vậy, càng mở rộng số hóa hoạt động quản trị, càng cần xây dựng chuẩn mực liêm chính tương ứng đối với những người có quyền quyết định, quản trị và khai thác dữ liệu.

Từ góc độ đó, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên càng cho thấy ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi nhấn mạnh yêu cầu “không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để bị tác động, lôi kéo, cám dỗ tiêu cực”. Trong kỷ nguyên số, “cám dỗ” không chỉ biểu hiện dưới dạng lợi ích vật chất hữu hình mà còn có thể biểu hiện dưới dạng quyền lực kiểm soát dữ liệu, khả năng chi phối nền tảng số hoặc quyền quyết định ai được tiếp cận hệ thống. Nếu thiếu nền tảng liêm chính, công nghệ không những không làm cho quyền lực minh bạch hơn mà còn có thể tạo ra những hình thức tha hóa tinh vi, khó phát hiện và nguy hiểm hơn đối với nền quản trị quốc gia hiện nay.

5. Một số giải pháp xây dựng văn hóa liêm chính hiện nay

Xây dựng văn hóa liêm chính trong điều kiện chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ trên ba phương diện: đạo đức, thể chế và công nghệ. Ba phương diện này không tồn tại độc lập mà tạo thành một cơ chế bổ trợ lẫn nhau, trong đó đạo đức tạo động lực tự giác, thể chế tạo giới hạn bắt buộc và công nghệ nâng cao khả năng minh bạch, giám sát và truy vết.

Một là, cụ thể hóa và nội hóa chuẩn mực liêm chính gắn với từng vị trí, chức trách và quyền hạn. Liêm chính cần được chuyển từ yêu cầu chung thành những chuẩn mực cụ thể đối với từng vị trí việc làm, nhất là những vị trí có quyền quyết định hoặc tác động trực tiếp đến ngân sách, tài sản công, đầu tư, đất đai, tuyển dụng, đấu thầu và giải quyết thủ tục hành chính. Cùng với giáo dục đạo đức cách mạng và đạo đức công vụ, cần tăng cường đào tạo kỹ năng nhận diện, phòng ngừa xung đột lợi ích, trách nhiệm giải trình và sử dụng dữ liệu đúng mục đích. Đặc biệt, người đứng đầu phải thực sự nêu gương trong thực hành liêm chính, công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, cần đổi mới đánh giá cán bộ theo hướng không chỉ xem xét kết quả công việc mà còn đánh giá cách thức đạt được kết quả, mức độ tuân thủ, tinh thần trách nhiệm, khả năng giải trình và thái độ phục vụ Nhân dân.

Hai là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm giải trình và kiểm soát xung đột lợi ích. Cần rà soát, hoàn thiện các quy định theo hướng xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và giới hạn của từng chủ thể, nhất là đối với những lĩnh vực dễ phát sinh lợi ích nhóm và lạm dụng quyền lực; đồng thời, cần được thực hiện thực chất, tránh hình thức. Bên cạnh đó, cần phân định rõ giữa cố ý vi phạm vì lợi ích cá nhân với sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích chung. Đây là điều kiện quan trọng để vừa ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, vừa khắc phục tâm lý sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong thực thi công vụ.

Ba là, các hệ thống quản trị số cần được thiết kế theo hướng phân quyền rõ ràng, kiểm soát quyền truy cập, ghi nhận nhật ký hoạt động, lưu vết quá trình xử lý, truy xuất lịch sử quyết định và cảnh báo những giao dịch hoặc thao tác bất thường. Đối với các lĩnh vực có nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích hoặc tác động lớn đến quyền và lợi ích của người dân, cần thiết lập các lớp kiểm soát phù hợp, hạn chế khả năng một cá nhân có thể tự mình thực hiện toàn bộ quy trình mà không có cơ chế kiểm tra. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của cá nhân trong từng khâu xử lý, tránh tình trạng khi xảy ra sai sót có thể quy trách nhiệm chung chung cho “lỗi hệ thống”.

Bốn là, cần hoàn thiện cơ chế đánh giá và quy trách nhiệm dựa trên thẩm quyền, căn cứ, quy trình, mục đích và hậu quả của quyết định, đồng thời có cơ chế bảo vệ cán bộ thực hiện đúng chức trách, vì lợi ích chung. Việc xử lý trách nhiệm cũng cần bảo đảm phân biệt giữa hành vi vụ lợi, cố ý làm trái với những sai sót phát sinh trong quá trình đổi mới, thử nghiệm hoặc giải quyết công việc vì lợi ích công. Khi cán bộ nhận thức rằng liêm chính không chỉ là “không làm sai” mà còn là “chủ động làm đúng, làm vì lợi ích chung và chịu trách nhiệm về quyết định của mình”, văn hóa liêm chính mới thực sự trở thành động lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước.
6. Kết luận

Xây dựng văn hóa liêm chính trong kiểm soát quyền lực là yêu cầu có ý nghĩa nền tảng đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm chính không chỉ được xác định là phẩm chất của người cán bộ mà còn là chuẩn mực định hướng việc sử dụng quyền lực vì lợi ích của Nhân dân. Khi được thấm sâu vào nhận thức, hành vi và môi trường công vụ, liêm chính tạo nên nền tảng tự kiểm soát, góp phần hạn chế nguy cơ lạm dụng, tha hóa quyền lực và củng cố tính chính đáng của quyền lực công.

Trong điều kiện mới, công tác kiểm soát quyền lực chịu tác động đan xen của ba yếu tố: thể chế, phương thức quản trị và công nghệ. Mặc dù các công cụ quản trị hiện đại có ưu thế vượt trội trong việc nâng cao tính minh bạch, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn được quyết định bởi yếu tố con người. Vì vậy, văn hóa liêm chính cần được tích hợp đồng bộ với kỷ cương pháp luật và nền tảng công nghệ. Sự thống nhất này sẽ kiến tạo một cơ chế kiểm soát quyền lực toàn diện: vừa ràng buộc nghiêm ngặt từ bên ngoài, vừa tự giác điều chỉnh từ bên trong.

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về liêm chính vẫn giữ nguyên ý nghĩa định hướng trong hoàn thiện phương thức kiểm soát quyền lực hiện nay. Xây dựng văn hóa liêm chính không chỉ nhằm phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực mà sâu xa hơn là hình thành cách thức thực thi quyền lực đúng đắn, có trách nhiệm và hướng đến lợi ích chung. Đây là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin của Nhân dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước và góp phần xây dựng nền công vụ trong sạch, vững mạnh, hiện đại, phục vụ Nhân dân.

Tài liệu tham khảo:
Báo điện tử Chính phủ (25/2/2026).Tổng Bí thư Tô Lâm: Tăng cường “nội lực vật chất” và củng cố “nội lực tinh thần”. https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lam-tang-cuong-noi-luc-vat-chat-va-cung-co-noi-luc-tinh-than-102260225133455068.htm
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.99
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.