Cơ hội và thách thức trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn mới

Opportunities and challenges in the Strategy for National Construction and defense in the current period

ThS. Phạm Anh Vĩnh
Lâm Dũng Chinh
Trường Đại học Sài Gòn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích cơ hội và thách thức trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay, dựa trên sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1975 đến Đại hội XIV (năm 2026). Dưới góc độ khoa học chính trị, nghiên cứu làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa nhiệm vụ chiến lược, sự chuyển biến tư duy sang hướng “tự chủ chiến lược” và an ninh toàn diện. Bài viết chỉ ra, thời cơ lịch sử để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, đan xen với thách thức gay gắt về nguy cơ tụt hậu, điểm nghẽn thể chế và an ninh phi truyền thống. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chiến lược phát huy thế trận lòng dân, đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Từ khóa: Bảo vệ Tổ quốc; cơ hội và thách thức; nhiệm vụ chiến lược; thế trận lòng dân; xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Abstract: The article analyzes the opportunities and challenges in the strategy for building and safeguarding the Socialist Republic of Viet Nam in the current period, grounded in the evolution of the theoretical awareness of the Communist Party of Viet Nam from 1975 to the 14th National Congress (2026). From a political science perspective, the study elucidates the dialectical relationship between the two strategic tasks, while highlighting a shift in strategic thinking toward “strategic autonomy” and comprehensive security. The findings indicate that the country is facing a historic window of opportunity to enter a new era of development, intertwined with significant challenges, including the risk of falling behind, institutional bottlenecks, and emerging non-traditional security threats. On that basis, the article proposes several strategic solutions to strengthen the people-based defense posture, accelerate digital transformation, and proactively safeguard the nation at an early stage and from afar.

Keywords: National safeguarding, opportunities and challenges, Communist Party of Viet Nam, people-based defense posture, socialist construction.

1. Đặt vấn đề

Trong hệ thống lý luận chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Nhận thức này là sự kế thừa, nâng tầm quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” của lịch sử dân tộc lên một tầm cao mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ khi đất nước thống nhất năm 1975, Đảng đã không ngừng bổ sung và hoàn thiện tư duy lý luận về hai nhiệm vụ chiến lược này để dẫn dắt cách mạng Việt Nam vượt qua những thử thách của lịch sử.

Hiện nay, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới rất cao. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xu thế toàn cầu hóa cùng với những diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị, các vấn đề an ninh phi truyền thống đang tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, phân tích làm rõ sự vận động trong tư duy của Đảng, từ đó nhận diện đúng các cơ hội và thách thức trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay không chỉ có ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn mang tính thực tiễn cấp bách. Bài viết dưới góc độ khoa học chính trị sẽ xâu chuỗi hệ thống quan điểm của Đảng qua các kỳ Đại hội, chỉ ra những cơ hội, thách thức và đề xuất định hướng nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

2. Sự vận động và phát triển trong tư duy chiến lược của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1975 đến nay

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Việt Nam bước vào một bước ngoặt vĩ đại, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước và đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh lịch sử đó, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã trải qua một quá trình vận động, phát triển liên tục, biện chứng, thể hiện sự nhạy bén chính trị và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Quá trình này có thể được chia thành các giai đoạn mang tính bước ngoặt như sau.

Giai đoạn năm 1975 – 1986: Khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược trong bối cảnh khôi phục đất nước và chiến tranh biên giới. Ngay sau khi đất nước thống nhất, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976), Đảng ta đã nhận định dù đất nước đã hòa bình nhưng nhiệm vụ bảo vệ độc lập, tự do vẫn vô cùng quan trọng, đồng thời xác định đường lối chung là “xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa”1. Tư duy của Đảng lúc này gắn liền việc bảo vệ Tổ quốc với bảo vệ thành quả cách mạng với yêu cầu “không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội”2. Năm 1980, trước những thử thách nghiệt ngã của hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc cùng với sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tư duy chiến lược của Đảng đã có sự phát triển quan trọng. Đại hội V của Đảng (năm 1982) chính thức khái quát và nâng lên tầm cao mới khi khẳng định cách mạng Việt Nam phải thực hiện đồng thời “hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”3. Đảng nhấn mạnh nguyên tắc kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xác định quân đội không chỉ là lực lượng chiến đấu mà còn là lực lượng sản xuất quan trọng.

Giai đoạn năm 1986 – 2011: Đổi mới tư duy, gắn bảo vệ Tổ quốc với phát triển kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế. Đại hội VI (năm 1986) đánh dấu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Tư duy về bảo vệ Tổ quốc có bước đột phá khi Đảng đặt nhiệm vụ phát triển kinh tế vào vị trí trung tâm, coi đó là nền tảng vật chất vững chắc nhất để củng cố quốc phòng. Đặc biệt, Đại hội VI đã đúc kết bài học “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, giữ vững hòa bình để phát triển kinh tế”4. Đến Đại hội VII (năm 1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định tính quy luật: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam”5.

Khái niệm bảo vệ Tổ quốc được mở rộng về nội hàm, không chỉ là bảo vệ lãnh thổ mà cốt lõi là bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đứng trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, Đảng ta đã nhạy bén nhận diện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, từ đó, xác định phương châm bảo vệ an ninh chính trị nội bộ là then chốt, kết hợp sức mạnh quân sự với sức mạnh chính trị của quần chúng. Bước sang thế kỷ XXI, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (năm 2003) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới tạo ra bước chuyển biến biện chứng trong tư duy về “đối tác” và “đối tượng”6. Đảng xác định phương thức bảo vệ Tổ quốc là bằng “sức mạnh tổng hợp”, nhấn mạnh việc xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc làm nền tảng cho thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân7.

Giai đoạn năm 2011 – 2020: Bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” và lấy an ninh con người làm trung tâm. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Đại hội XI, XII đã làm sâu sắc hơn mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, gắn kết chặt chẽ giữa việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Phương châm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” trở thành quan điểm chỉ đạo chiến lược8. Đảng yêu cầu phải chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là nguy cơ gây đột biến. Sự chuyển dịch từ tư duy “an ninh quốc gia” truyền thống sang “an ninh tổng hợp” là một dấu ấn đậm nét, trong đó Đảng ngày càng quan tâm đến các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh mạng, dịch bệnh9. Đồng thời, quá trình hội nhập quốc tế được đẩy mạnh toàn diện, sâu rộng, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược với các nước lớn, sử dụng ngoại giao như một tuyến phòng thủ phi vũ trang sắc bén để bảo vệ Tổ quốc.

Từ năm 2021 đến nay (Đại hội XIII và Đại hội XIV): Tự chủ chiến lược, tiến mạnh trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng nhấn mạnh việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất10. Khái niệm “an ninh con người” được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Đảng đề ra định hướng xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phấn đấu đến năm 2030 tiến lên hiện đại. Phương châm chiến lược được khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”11.

Tiếp nối và phát triển lên một tầm cao mới mang tính bước ngoặt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới có những thay đổi mang tính thời đại, đất nước ta sau 40 năm đổi mới đã tích lũy được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế vô cùng to lớn. Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức xác định đất nước bước vào “kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa12.

Trong hệ tư duy chiến lược tại Đại hội XIV của Đảng, quan điểm về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được hoàn thiện với tư tưởng “tự chủ chiến lược”. Đảng nhấn mạnh nguyên tắc lấy phát triển để ổn định và lấy ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững; đặt đột phá về thể chế, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính13. Về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nội hàm của an ninh quốc gia được mở rộng toàn diện, bao trùm. Bên cạnh các yếu tố truyền thống, Đảng đặc biệt nhấn mạnh đến việc bảo vệ an ninh chế độ, an ninh kinh tế – tài chính, an ninh mạng – dữ liệu, an ninh lương thực và nguồn nước. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” được nâng lên thành kế sách chiến lược, đòi hỏi năng lực dự báo chính xác, triệt tiêu từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong, tuyệt đối không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nước14.

Về xây dựng lực lượng, định hướng phát triển Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiện đại, bảo đảm sức mạnh chiến đấu cao. Một điểm nhấn đột phá trong giai đoạn này là chủ trương tập trung phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại, coi đây là yếu tố nền tảng để gia tăng năng lực phòng thủ quốc gia. Đồng thời, “thế trận lòng dân” tiếp tục được khẳng định là gốc rễ, gắn kết chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, đặc biệt chú trọng trên không gian mạng và các địa bàn chiến lược.

3. Cơ hội và một số thách thức trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay

Công cuộc đổi mới trải qua 40 năm đã tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần vô cùng to lớn, mở ra những cơ hội mang tính bước ngoặt cho chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ nhất, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước chưa bao giờ có được như ngày nay. Đây là nhận định mang tính đúc kết lịch sử của Đại hội XIII. Từ một quốc gia lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, quy mô và sức cạnh tranh được nâng lên đáng kể. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện, các nguồn lực được khơi thông. Sự gia tăng về tiềm lực kinh tế đã tạo ra nền tảng vật chất vững chắc để Đảng và Nhà nước đầu tư, củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Đây là cơ hội căn bản để nước ta thực hiện nguyên lý “xây dựng là gốc của bảo vệ”.

Thứ hai, xu thế toàn cầu hóa và chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng tạo ra “thế trận quốc tế” vững chắc. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới, xây dựng quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với các cường quốc. Đảng ta đã nhạy bén chuyển từ tư duy “muốn là bạn” sang “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế15. Mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng mở tạo ra sự đan xen lợi ích chiến lược, khiến cho bất kỳ sự xâm phạm nào đến lợi ích của Việt Nam cũng sẽ vấp phải sự phản ứng từ cộng đồng quốc tế. Đây chính là việc hiện thực hóa nghệ thuật bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình, sử dụng ngoại giao như một tuyến phòng thủ phi vũ trang sắc bén.

Thứ ba, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân ngày càng được củng cố. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đã quy tụ được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chủ trương phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã thổi bùng lên ngọn lửa tự hào dân tộc và ý chí tự cường. Đảng luôn quán triệt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, lấy sự hài lòng, hạnh phúc của nhân dân làm thước đo. Khi “thế trận lòng dân” vững chắc, đây sẽ là bức thành đồng kiên cố nhất đập tan mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ từ bên ngoài và ngăn chặn suy thoái từ bên trong16.

Thứ tư, cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và đột phá thể chế mở ra thời cơ lịch sử cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Từ những năm đầu đổi mới, Đảng đã xác định khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu, bước vào giai đoạn hiện nay, đặc biệt, tại Đại hội XIV của Đảng, tư duy này đã được nâng tầm chiến lược. Đảng xác định rõ việc lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính để xác lập mô hình tăng trưởng mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là cơ hội vàng để Việt Nam “đi tắt, đón đầu”, ưu tiên tiếp thu, chuyển giao và làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, năng lượng mới10.

Cùng với đó, cơ hội còn đến từ lợi thế cơ cấu dân số “vàng”, sự gia tăng của tầng lớp trung lưu và đặc biệt là những quyết sách mang tính cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, đổi mới công tác lập pháp. Việc làm chủ công nghệ không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững mà còn là nền tảng vật chất, kỹ thuật tiên tiến để xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại. Thông qua đó, đất nước có đủ năng lực tự chủ chiến lược để bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh mạng, giữ vững chủ quyền quốc gia trên không gian số và triệt tiêu các yếu tố gây mất ổn định từ sớm, từ xa.

Bên cạnh những cơ hội lịch sử, bối cảnh thế giới biến động khôn lường và những mâu thuẫn nội tại của quá trình phát triển đang đặt ra những thách thức gay gắt, đe dọa trực tiếp đến hai nhiệm vụ chiến lược.

(1) Thách thức về kinh tế, nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song “bốn nguy cơ” được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức chỉ ra tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) (năm 1994), bao gồm: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tình trạng tham nhũng, quan liêu và âm mưu “diễn biến hòa bình” vẫn tiếp tục tồn tại, thậm chí trên một số phương diện còn diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy duy trì ở mức khá nhưng chất lượng và tính bền vững chưa cao, chưa đủ để rút ngắn nhanh khoảng cách phát triển so với các quốc gia tiên tiến.

(2) Thách thức trong bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và sự gia tăng khốc liệt của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là trên Biển Đông, tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xung đột, đe dọa trực tiếp đến môi trường hòa bình và lợi ích quốc gia – dân tộc18. Cùng với đó, các vấn đề an ninh phi truyền thống, như: an ninh mạng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh nguồn nước nổi lên trở thành những thách thức hiện hữu, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống19. Không gian mạng đã trở thành một “mặt trận” mới không tiếng súng, nơi diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo vệ chủ quyền số quốc gia.

(3) Thách thức từ âm mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Các thế lực thù địch không từ bỏ mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân20. Đáng lo ngại hơn, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi triệt để. Đây là những “khuyết tật” nội sinh vô cùng nguy hiểm, trực tiếp làm xói mòn lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, phá vỡ “thế trận lòng dân” từ bên trong.

(4) Thách thức trong quản lý phát triển xã hội, bảo vệ an ninh con người và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập.

Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng đi kèm với mặt trái của kinh tế thị trường. Bất bình đẳng về thu nhập có xu hướng tăng nhanh, phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét, đặt ra áp lực lớn đối với hệ thống an sinh xã hội. Sự thâm nhập của các luồng văn hóa ngoại lai, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền đang tác động tiêu cực đến đạo đức xã hội và các giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi của dân tộc21. Việc quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững, gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, bảo đảm an toàn, an ninh con người đang đặt ra những yêu cầu rất cao, đòi hỏi sự thích ứng linh hoạt và năng lực quản trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

4. Quan điểm, định hướng và giải pháp chiến lược tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Để tận dụng cơ hội, hóa giải thách thức, đưa đất nước vững bước tiến lên trong kỷ nguyên mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra hệ thống các quan điểm, định hướng chiến lược toàn diện, đồng bộ.

Thứ nhất, kiên định nền tảng tư tưởng, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng.

Đây là nguyên tắc có ý nghĩa then chốt được khẳng định xuyên suốt tiến trình cách mạng. Cần tiếp tục kiên định, đồng thời, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng cần không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu.

Tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Việc củng cố, giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng sẽ góp phần tăng cường niềm tin của Nhân dân, qua đó, tạo nền tảng quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, xử lý hài hòa mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó phát triển kinh tế giữ vai trò trung tâm.

Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa “xây dựng” và “bảo vệ” trong tiến trình phát triển đất nước. Phát triển kinh tế cần đi đôi với bảo đảm ổn định; đồng thời, ổn định là điều kiện để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.

Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Đồng thời, trong các quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ với củng cố quốc phòng, an ninh, nhất là tại các khu vực biên giới, biển, đảo và các vùng kinh tế trọng điểm. Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển nền công nghiệp quốc gia theo hướng hiện đại, gắn với công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng.

Thứ ba, xây dựng và củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Quan điểm “lấy dân làm gốc”, cần được quán triệt nhất quán trong quá trình hoạch định và thực thi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội, không chỉ của lực lượng vũ trang. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Các chính sách phát triển cần hướng tới nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và hài hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội. Đồng thời, chú trọng phát huy các giá trị văn hóa, khơi dậy tinh thần đoàn kết và tiềm năng của con người Việt Nam, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý hiệu quả các nguy cơ, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại. Đồng thời, triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo thế và lực mới cho việc bảo vệ Tổ quốc. Kiên định bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc cao nhất trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt trong sách lược, nhằm tạo thế đan xen lợi ích, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, từ đó, phòng ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa.

Thứ năm, mở rộng nội hàm an ninh quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, đặt “an ninh con người” làm trung tâm, gắn với việc tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà còn là bảo vệ an ninh chế độ, an ninh kinh tế – tài chính, an ninh mạng và dữ liệu, an ninh năng lượng và nguồn nước.

Tăng cường quản lý phát triển xã hội một cách hiệu quả, bảo đảm trật tự, an toàn, hướng tới mục tiêu ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, lấy an ninh con người làm thước đo quan trọng của ổn định chính trị. Đồng thời, chú trọng xây dựng thế trận an ninh trên không gian mạng, góp phần giữ vững chủ quyền số quốc gia. Để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trên, cần tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tăng cường kiểm soát quyền lực, chủ động phòng ngừa, hạn chế các yếu tố có thể gây mất ổn định từ bên trong.

Thực hiện việc quán triệt và triển khai đồng bộ các giải pháp trên có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố nền tảng chính trị – xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, từ đó, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.

5. Kết luận

Nhìn lại chặng đường từ sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đến nay, có thể khẳng định quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã được hình thành và phát triển nhất quán, liên tục, thể hiện rõ tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh chính trị vững vàng. Bám sát thực tiễn đất nước và sự biến động phức tạp của tình hình thế giới, Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ lý luận, làm sâu sắc nhận thức về mối quan hệ hữu cơ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tư duy bảo vệ Tổ quốc được mở rộng từ trọng tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ sang bảo vệ toàn diện lợi ích quốc gia – dân tộc, bao gồm bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh mạng và an ninh con người trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. Đồng thời, Đảng ta chuyển mạnh từ tư duy đối phó sang tư duy chủ động phòng ngừa và kiến tạo phát triển; xác lập tư duy “tự chủ chiến lược”, gắn kết chặt chẽ phát triển với bảo vệ, lấy phát triển làm nền tảng của ổn định và lấy ổn định làm điều kiện cho phát triển bền vững; kiên định phương châm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Bước vào “kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” theo tinh thần Đại hội XIV, đất nước ta có cơ hội lịch sử to lớn với cơ đồ, tiềm lực và vị thế quốc tế ngày càng vững chắc; song những khó khăn, thách thức đan xen đòi hỏi tuyệt đối không được chủ quan. Yêu cầu tiên quyết là kiên định nền tảng tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách phải lấy “thế trận lòng dân” làm nền tảng, lấy an ninh và hạnh phúc của con người làm trung tâm, gắn với đột phá về thể chế và khoa học – công nghệ. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Việt Nam có đủ bản lĩnh và trí tuệ để giữ vững tự chủ chiến lược, hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh, phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chú thích:
1, 2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1977). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. H. NXB Sự thật.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1982). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V. H. NXB Sự thật.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1987). Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. H. NXB Sự thật.
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1991). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. H. NXB Sự thật.
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2004). Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật.
7, 8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 187, 77, 12.
10, 11, 15, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 18, 18, 41, 12.
12, 13, 14, 17, 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Hà Nội, tr. 20, 22, 35, 40, 40.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 121.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 76.
21. Nguyễn Phú Trọng (2021). Đổi mới và phát triển ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Tài liệu tham khảo:
1. Xây dựng tiềm lực an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/05/15/xay-dung-tiem-luc-an-ninh-quoc-gia-o-viet-nam-hien-nay/
2. Một số khuyến nghị tăng cường thế trận bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/06/mot-so-khuyen-nghi-tang-cuong-the-tran-bao-ve-to-quoc-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi/
3. Sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/18/su-phat-trien-trong-tu-duy-ly-luan-cua-dang-ve-bao-ve-to-quoc-tu-som-tu-xa-tu-khi-nuoc-chua-nguy/