Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ đủ tâm, đủ tầm để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh

Promoting the Leadership Role of the Communist Party of Vietnam in building a contingent of cadres with sufficient virtue, competence, and vision to successfully achieve the goal of a prosperous people and a strong country

TS. Lê Hương Giang
Trường Đại học Lao động – Xã hội

(Quanlynhanuoc.vn) – Để xây dựng được đội ngũ cán bộ thật sự “đủ tâm, đủ tầm”, có khả năng dẫn dắt sự phát triển đất nước trong bối cảnh đầy biến động và cạnh tranh hiện nay, cần phải phát huy đầy đủ và hiệu quả vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác cán bộ. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – giai đoạn đất nước đang đứng trước những thời cơ rất lớn nhưng cũng có nhiều thách thức đan xen, việc đổi mới mạnh mẽ tư duy, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ cán bộ đang ngày càng trở nên cấp thiết để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Vai trò lãnh đạo của Đảng; xây dựng; đội ngũ cán bộ; đủ tâm, đủ tầm; dân giàu, nước mạnh.

Abstract: To build a contingent of cadres truly “possessing sufficient virtue, competence, and vision,” capable of leading the country’s development in the current volatile and competitive context, it is necessary to fully and effectively promote the comprehensive leadership role of the Communist Party of Vietnam in cadre work. In the era of the nation’s rising – a period when the country faces immense opportunities intertwined with numerous challenges – strongly innovating the mindset, content, and methods of the Party’s leadership regarding the contingent of cadres is becoming increasingly urgent. This is crucial for successfully achieving the goal of a prosperous people and a strong country, contributing to the nation’s sustainable development in the new era.

Keywords: Leadership role of the Communist Party of Vietnam; building; contingent of cadres; sufficient virtue, competence, and vision; prosperous people and strong country.

1. Mục tiêu dân giàu, nước mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Sau hơn 80 năm giành độc lập và gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực, tạo tiền đề vững chắc để bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây là giai đoạn phát triển bứt phá, tăng tốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với đích đến là xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu1.

Kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam được xác định bắt đầu từ Đại hội XIV của Đảng, đánh dấu thời điểm đất nước ta hoàn thành xuất sắc công cuộc đổi mới sau 40 năm lao động, sáng tạo, bền bỉ và đạt được những thành tựu vĩ đại. Bước phát triển tất yếu này hợp với quy luật vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại2. Ý nghĩa của kỷ nguyên vươn mình không chỉ nằm ở việc phát triển kinh tế, mà còn thể hiện ở việc khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước. Đó còn là sự hội tụ giữa “ý Đảng” và “lòng dân”, giữa mục tiêu, quyết tâm của toàn Đảng và ý nguyện, khát vọng của cả trăm triệu người dân Việt Nam3.

Mục tiêu cốt lõi của kỷ nguyên vươn mình là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Mục tiêu này là sự tích hợp ở tầm cao mới, trình độ mới những mục tiêu của hai kỷ nguyên trước, đó là: Kỷ nguyên Độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 – 1975); Kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới, phát triển (1975 – 2025), phản ánh sự phát triển về chất của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong kỷ nguyên này, Đảng xác định cần tiến hành đồng thời, thắng lợi một quá trình “đột phá kép”: một mặt, phải đột phá đi thẳng vào hiện đại, vào những lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ số; mặt khác, phải đột phá về tư duy, nhận thức, tạo sự phát triển vượt bậc về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại4.

2. Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ “đủ tâm, đủ tầm”

Để hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh trong kỷ nguyên vươn mình, đội ngũ cán bộ cần hội tụ và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực quản trị hiện đại, tinh thần đổi mới sáng tạo và khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng, cụ thể:

Một là, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống gương mẫu.

Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi cán bộ không chỉ vững chuyên môn mà còn phải là những người có đạo đức mẫu mực trong hành vi, lối sống và văn hóa công vụ. Sự mẫu mực này thể hiện ở thái độ trách nhiệm, liêm chính, dũng cảm nhận lỗi và không lợi dụng chức vụ vì lợi ích cá nhân. Trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cán bộ càng phải giữ gìn danh dự, là tấm gương sáng về đạo đức công vụ để tạo dựng lòng tin của nhân dân và tăng cường sức mạnh nội sinh của Đảng. Việc xây dựng và rèn luyện phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống gương mẫu không chỉ là đòi hỏi mang tính chính trị – tư tưởng mà còn là điều kiện thực tiễn bắt buộc để đội ngũ cán bộ đủ sức lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước. Trong kỷ nguyên vươn mình, khi yêu cầu về minh bạch, hiệu quả và phục vụ Nhân dân được đặt lên hàng đầu thì đạo đức cán bộ trở thành gốc rễ để bảo đảm cho mọi quyết sách vì dân thực sự đi vào cuộc sống.

Hai là, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản lĩnh chính trị là sự thể hiện “tính Đảng” của mỗi cán bộ, đảng viên trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm; là tinh thần và ý chí “phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ Nhân dân. Đó là phẩm chất cao quý của người cách mạng, đó là đạo đức cách mạng, đó là tính Đảng, tính giai cấp, nó bảo đảm cho sự thắng lợi của Đảng, của giai cấp, của nhân dân”5, được thể hiện rõ ở việc, luôn “nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”6.

Trong các văn kiện và nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), yêu cầu “xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn” được đặt lên hàng đầu7. Nghị quyết xác định một trong những biểu hiện suy thoái cần khắc phục là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động lập trường, thiếu kiên định trước những luận điệu sai trái, thù địch. Điều này cho thấy, trong bối cảnh thông tin đa chiều và sự chống phá ngày càng tinh vi, đội ngũ cán bộ cần phải có bản lĩnh chính trị, kiên định lý tưởng cách mạng của Đảng mới có thể giữ vững vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và sự ổn định của hệ thống chính trị.

Bản lĩnh chính trị còn là khả năng “giữ mình” trong môi trường có nhiều áp lực và cám dỗ, sẵn sàng đấu tranh với sai trái, tiêu cực, không né tránh, không thỏa hiệp. Cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng không chỉ trung thành với Đảng, mà còn gắn bó mật thiết với nhân dân, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, dám hành động vì lợi ích chung. Đây là điều kiện cần thiết để đội ngũ cán bộ lãnh đạo hiệu quả công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước liêm chính, kiến tạo, phát triển và phục vụ nhân dân, góp phần hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ba là, năng lực quản trị hiện đại.

Thực hiện hiệu quả quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả chính là một trong những giải pháp quan trọng và cấp thiết thúc đẩy đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để đáp ứng yêu cầu này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ cần nâng cao năng lực tư duy chiến lược, khả năng dự báo và đề xuất chính sách phù hợp với thực tiễn. Chỉ có năng lực tư duy chiến lược mới giúp đội ngũ cán bộ tham mưu tại các cơ quan Đảng Trung ương chủ động trong quá trình dự báo, đề xuất, tham vấn, giúp Đảng kịp thời đề ra, điều chỉnh nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ, tránh bị động, bất ngờ. Bên cạnh đó, ở góc độ cá nhân, năng lực quản trị hiện đại còn bao gồm khả năng quản trị bản thân của mỗi cán bộ, tức là sự tự giáo dục, tự rèn luyện, thường xuyên giữ gìn và nâng cao đạo đức cách mạng; tự tạo ra năng lực đề kháng và đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Tuy nhiên, việc quản trị bản thân của mỗi cán nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ thực sự có hiệu quả khi gắn chặt với các nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ8. Năng lực quản trị hiện đại của đội ngũ cán bộ đòi hỏi mỗi cán bộ phải không ngừng trong việc rèn luyện bản thân, cập nhật kiến thức, kỹ năng mới và luôn giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng. Đồng thời, còn phụ thuộc vào việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược mới có thể đáp ứng được các yêu cầu phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng của thời đại mới.

Bốn là, tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm.

Ngày nay, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm là yếu tố quyết định đến sự thành công của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Người cán bộ phải mạnh dạn, quyết đoán trong hành động; dám đi đầu, đổi mới, loại bỏ cái cũ, lạc hậu; khơi thông điểm nghẽn để bứt phá, giải quyết những vướng mắc, ách tắc trong thực tiễn; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, mang lại hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Đây là những việc mới, khó, nhiều trường hợp rất phức tạp, nhạy cảm. Trong một số trường hợp, cán bộ phải giải quyết những vấn đề sai sót tồn đọng, kéo dài hoặc phải đột phá vào một số nội dung mà chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đề cập, điều chỉnh cụ thể, những nội dung chưa có quy định hoặc đã có quy định nhưng còn chồng chéo, thiếu thống nhất, khó thực hiện. Quá trình triển khai thực hiện những việc mới, việc khó có thể chứa đựng nhiều rủi ro, dễ dẫn đến sai sót, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh chính trị của cán bộ, đòi hỏi cán bộ phải có bản lĩnh, quyết tâm cao, sẵn sàng dấn thân, hy sinh lợi ích cá nhân.

Năm là, khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng. 

Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khả năng hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ càng trở thành yêu cầu thiết yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đây là năng lực tổng hợp, đòi hỏi cán bộ không chỉ am hiểu sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật quốc tế mà còn có khả năng thích ứng linh hoạt với những biến động nhanh chóng của môi trường toàn cầu. Khả năng làm việc trong môi trường quốc tế đặt ra các yêu cầu trước hết đối với đội ngũ cán bộ phải có khả năng giao tiếp ngoại ngữ, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế, cũng như kỹ năng đàm phán, hợp tác đa phương. Đồng thời, họ cũng cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm chắc và vận dụng hiệu quả quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào hoạt động đối ngoại quốc tế. Qua đó, mới có thể giúp đội ngũ cán bộ chủ động, hoàn thành nhiệm vụ được giao khi làm việc với cá nhân, tổ chức ở các quốc gia, các định chế quốc tế nhằm xử lý hài hòa các mối quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên cơ sở lợi ích quốc gia – dân tộc, phù hợp với luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế.

3. Quan điểm và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng Đảng vững mạnh và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong các giai đoạn khác nhau. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức, việc giữ vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc lãnh đạo toàn diện, trực tiếp và thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ càng trở nên quan trọng. Đây là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm xây dựng được đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín để lãnh đạo đất nước phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để bảo dảm chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển, trên thực tế, Đảng đã đề ra quan điểm và nguyên tắc lãnh đạo công tác cán bộ một cách toàn diện, trực tiếp và thống nhất trong toàn hệ thống chính trị.

Quan điểm này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII), trong đó nhấn mạnh: “thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn”9. Qua đó, thể hiện rõ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong việc định hướng, chỉ đạo và kiểm soát toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ từ trung ương đến cơ sở.

Nguyên tắc lãnh đạo toàn diện, trực tiếp và thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ không chỉ bảo đảm sự nhất quán trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ một cách hiệu quả. Đồng thời, nguyên tắc này cũng giúp ngăn chặn tình trạng cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ, đảm bảo tính minh bạch, công bằng và khách quan trong việc tuyển chọn, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ.

Thực hiện nguyên tắc này, Đảng đề ra các quy định cụ thể về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục trong công tác cán bộ, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm. Một trong những văn bản đó phải kể đến Quy định số 80-QĐ/TW ngày 18/8/2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, trong đó nêu rõ nguyên tắc: Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, cụ thể thông qua các hoạt động sau: (1) Đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, tiêu chuẩn, quy chế, quy định về công tác cán bộ và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thông qua các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; (2) Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của hệ thống chính trị; trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành, các cấp; (3) Phân công, phân cấp công tác quản lý cán bộ, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử cho các cấp uỷ, tổ chức đảng; đồng thời thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện của các ngành, các cấp10.

Cơ chế lãnh đạo công tác cán bộ của Đảng được triển khai thông qua các khâu: hoạch định chính sách, chỉ đạo thực thi, kiểm tra giám sát và xây dựng thể chế. Trong đó, việc hoạch định chính sách được thực hiện bởi Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; chỉ đạo thực thi do các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện; kiểm tra giám sát do Ủy ban Kiểm tra các cấp đảm nhiệm; xây dựng thể chế thông qua việc ban hành các quy định, quy chế, hướng dẫn cụ thể. Đặc biệt, để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, Đảng đã yêu cầu “quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ; xác định đầy đủ, rõ ràng trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong công tác cán bộ theo hướng bảo đảm phải rõ quyền, đủ quyền, đúng quyền và thực quyền”11.

4. Thực trạng thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ

Một trong những kết quả nổi bật là việc ban hành và triển khai đồng bộ các văn bản quy định về công tác cán bộ. Chỉ tính riêng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành gần 130 văn bản quan trọng liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có nhiều nghị quyết, quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Các cấp ủy cấp tỉnh cũng đã ban hành hơn 6.200 văn bản các loại, góp phần hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao trong thời kỳ phát triển mới của đất nước12.

Đáng lưu ý, vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện rõ nét, toàn diện, xuyên suốt và ngày càng sâu sắc trong công tác cán bộ thông qua việc ban hành nhiều văn bản quan trọng, tạo nền tảng chính trị, pháp lý cho việc đổi mới, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp. Về nghị quyết, có thể kể đến các nghị quyết tiêu biểu, như: Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; đặc biệt, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ… Các nghị quyết này đã khẳng định định hướng chiến lược và tầm nhìn dài hạn của Đảng trong xây dựng, phát triển nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý.

Bên cạnh các nghị quyết lớn, Bộ Chính trị cũng đã ban hành nhiều quy định có tính hệ thống, bao trùm toàn bộ các khâu của công tác cán bộ, như: Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 179-QĐ/TW ngày 25/02/2019 của Bộ Chính trị về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền; Quy định số 214-QĐ/TW ngày 02/01/2020về khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ; Quy định số 50-QĐ/TW ngày 27/12/2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 124-QĐ/TW ngày 04/10/2023 về đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị… Việc quán triệt và thực hiện các nghị quyết, quy định này từ Trung ương đến địa phương được tổ chức nghiêm túc, nhất quán, góp phần đưa công tác cán bộ vào nền nếp, nâng cao hiệu lực và hiệu quả lãnh đạo.

Đảng cũng đã chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ. Trung ương đã mở các lớp cập nhật kiến thức mới cho các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; lớp bồi dưỡng cho cán bộ diện quy hoạch cấp chiến lược; có cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ được quan tâm, chú trọng, từng bước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ13.  Thông qua đó, đội ngũ cán bộ của Đảng ngày càng trưởng thành, nhiều cán bộ giữ vai trò lãnh đạo, điều hành các cấp đã thể hiện rõ năng lực, bản lĩnh, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương. Các cơ quan trong hệ thống kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử, thanh tra đã hoạt động ngày càng hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc đánh giá thực chất đội ngũ cán bộ thông qua công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, thực tiễn cũng cho thấy những hạn chế nhất định trong việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ, cụ thể:

Thứ nhất, vẫn còn tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực14. Không ít trường hợp cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nâng đỡ người thân, người quen vào vị trí không đủ tiêu chuẩn hoặc tạo dựng “nhóm lợi ích”, “sân sau” gây mất công bằng, minh bạch trong công tác cán bộ. Đã có không ít cán bộ sau khi được đề bạt đã nhanh chóng suy thoái về đạo đức, lối sống, dính vào tham ô, tham nhũng, làm thất thoát lớn tài sản công, bị xử lý nghiêm khắc…15.

Thứ hai, công tác đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, thiếu tiêu chí, biện pháp hiệu quả. Nhiều nơi chưa có quy định rõ ràng về tiêu chuẩn cũng như tiêu chí đánh giá cho từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành. Điều này dẫn đến việc đánh giá cán bộ còn mang tính hình thức, cào bằng, chưa phản ánh đúng năng lực, phẩm chất thực sự của cán bộ, còn có những cán bộ thiếu năng lực, phẩm chất vẫn được đề bạt, bổ nhiệm, gây bức xúc trong dư luận xã hội16.

Thứ ba, năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”17.

Thứ tư, công tác luân chuyển cán bộ còn bất cập. Việc luân chuyển cán bộ giữa các khối và giữa các cơ quan, đơn vị với cơ sở chưa cân đối, hài hòa. Việc luân chuyển cán bộ từ địa phương về trung ương, từ cấp dưới lên cấp trên còn ít. Một số cán bộ còn nhận thức đi luân chuyển để được đề bạt chức vụ cao hơn; có biểu hiện nể nang, “dĩ hòa vi quý”, ngại va chạm, thiếu quyết liệt, chưa thực sự tâm huyết, nỗ lực, phấn đấu, rèn luyện để khẳng định năng lực bản thân và đóng góp thiết thực, hiệu quả cho nơi đến công tác18.

5. Một số giải pháp

5.1. Hoàn thiện thể chế và cơ chế lãnh đạo thống nhất của Đảng đối với công tác cán bộ

Trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng của thời đại 4.0 – vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ càng cần được phát huy mạnh mẽ, thể hiện trước hết ở việc chủ động, kiên trì hoàn thiện thể chế và cơ chế lãnh đạo thống nhất. Đây là điều kiện tiên quyết để xây dựng đội ngũ cán bộ đủ tâm, đủ tầm, có khả năng dẫn dắt quốc gia thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, theo đó:

Trước hết, cần tiếp tục phát huy vai trò của Đảng trong việc hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ theo hướng chủ động thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo thành hệ thống quy định, quy trình đồng bộ, chặt chẽ và có tính khả thi cao. Những nội dung cần hoàn thiện bao gồm: tiêu chuẩn cán bộ, quy trình bổ nhiệm, quy hoạch, luân chuyển, đánh giá, kỷ luật cán bộ; phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp, từng tổ chức trong hệ thống chính trị. Việc ban hành và thực hiện nghiêm các quy định như: Quy định số 80-QĐ/TW (về phân cấp quản lý cán bộ), Quy định số 214-QĐ/TW (về khung tiêu chuẩn cán bộ) là minh chứng rõ nét cho vai trò định hướng thể chế về công tác cán bộ của Đảng. Đặc biệt, quá trình này cũng cần bảo đảm tính đồng bộ giữa chủ trương của Đảng và luật pháp của Nhà nước, tránh tình trạng chủ trương đúng nhưng cơ chế chậm hoặc không theo kịp.

Thứ hai, Đảng cần phát huy vai trò chỉ đạo thống nhất trong công tác cán bộ – từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và tổng kết thực tiễn. Việc lãnh đạo thống nhất không đồng nghĩa với làm thay, mà là định hướng chiến lược và kiểm soát quyền lực hiệu quả trong hệ thống chính trị. Theo đó, các cấp ủy Đảng cần giữ vai trò trung tâm điều phối trong quy trình cán bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm của chính quyền, các tổ chức đoàn thể và Nhân dân trong việc phát hiện, giới thiệu, giám sát cán bộ.

Thứ ba, Đảng cần đi đầu trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Điều này bao gồm việc ban hành cơ chế sàng lọc cán bộ không đủ tiêu chuẩn, kiên quyết chống “chạy chức, chạy quyền”, phòng ngừa tình trạng cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm. Đặc biệt, Đảng cần tăng cường các thiết chế kiểm tra, giám sát nội bộ, đồng thời mở rộng kênh phản ánh của từ người dân, truyền thông và các tổ chức xã hội nhằm giám sát cán bộ và quy trình công tác cán bộ một cách toàn diện, liên tục.

Thứ tư, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng thể chế công tác cán bộ cần gắn chặt với tiến trình chuyển đổi số, hiện đại hóa công tác tổ chức và nhân sự trong bối cảnh sáp nhập, sắp xếp bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đảng cần chỉ đạo xây dựng hệ thống dữ liệu cán bộ liên thông, áp dụng công nghệ số trong quy hoạch, đánh giá và quản lý cán bộ, qua đó tăng cường tính minh bạch, khách quan và hiệu quả trong công tác cán bộ.

5.2. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ

Thứ nhất, Đảng cần giữ vai trò trung tâm trong định hướng đổi mới công tác đánh giá cán bộ. Việc đánh giá cán bộ phải được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng và phải lượng hóa được; gắn chặt với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, năng lực quản trị, phẩm chất đạo đức và sự tín nhiệm trong nhân dân. Đảng cần lãnh đạo việc áp dụng các công cụ hiện đại, như: đánh giá 360 độ, quản trị theo mục tiêu, ứng dụng dữ liệu số để bảo đảm tính khách quan, toàn diện và minh bạch. Có như vậy mới giúp loại bỏ tình trạng “cào bằng”, “dĩ hòa vi quý”, đánh giá vì nể nang – vốn là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả công tác cán bộ từ bấy lâu nay.

Thứ hai, Đảng cần lãnh đạo toàn diện quá trình đổi mới nội dung, phương pháp, mô hình và chiến lược đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, cần gắn đào tạo với quy hoạch, sử dụng và tiêu chuẩn chức danh. Nội dung đào tạo phải đáp ứng các yêu cầu mới trong quản trị công hiện đại, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, quản trị rủi ro và đạo đức công vụ. Đồng thời, định hướng đầu tư, nâng cấp các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xứng tầm, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ dân tộc thiểu số.

Thứ ba, việc sử dụng cán bộ cần được Đảng lãnh đạo theo hướng trọng dụng nhân tài, giao việc đúng người, đúng sở trường, kết hợp giữa ổn định và thử thách để cán bộ trưởng thành qua thực tiễn. Đặc biệt, cần đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, mạnh dạn giao quyền và trách nhiệm rõ ràng đi đôi với kiểm soát quyền lực, tăng cường luân chuyển cán bộ có triển vọng nhằm tạo động lực rèn luyện và cống hiến. Đảng cần có các chính sách bảo vệ, khuyến khích cán bộ đổi mới, dám nghĩ, dám làm, nhất là trong các lĩnh vực khó, nhạy cảm.

5.3. Xây dựng văn hóa chính trị, đạo đức công vụ và cơ chế bảo vệ cán bộ có tinh thần đổi mới, sáng tạo

Để thực hiện hiệu quả định hướng, giải pháp này, Đảng cần phát huy mạnh mẽ vai trò của mình trong việc hình thành và nuôi dưỡng nền tảng giá trị, gồm: văn hóa chính trị lành mạnh, đạo đức công vụ mẫu mực và cơ chế bảo vệ cán bộ dấn thân vì cái mới, vì lợi ích của Nhân dân và đất nước, theo đó:

Một là, cần phát huy vai trò của Đảng trong xây dựng và lan tỏa văn hóa chính trị trong hệ thống chính trị, đặt nền tảng là tinh thần “trung thành – dấn thân – phụng sự nhân dân”. Văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện qua thái độ ứng xử có văn hóa với nhân dân, với đồng chí, với tổ chức và với chính mình; nói đi đôi với làm, tôn trọng tổ chức, đề cao kỷ luật Đảng. Đảng cần thường xuyên giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, tư duy nhiệm kỳ, cục bộ, bè phái. Việc nêu gương của cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, đóng vai trò then chốt trong việc tạo dựng và lan tỏa văn hóa chính trị tích cực trong toàn hệ thống chính trị.

Hai là, Đảng cần lãnh đạo xây dựng đạo đức công vụ như một tiêu chuẩn cốt lõi trong công tác cán bộ. Đạo đức công vụ không chỉ là “đức” của cá nhân, mà còn là biểu hiện cụ thể của trách nhiệm, liêm chính, tận tụy, công bằng và minh bạch trong thực thi quyền lực. Cần lồng ghép tiêu chí đạo đức công vụ vào quá trình đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng và kỷ luật cán bộ. Bên cạnh đó, đẩy mạnh giám sát của xã hội, của báo chí và của Nhân dân đối với đạo đức, lối sống và hành vi công vụ của cán bộ để bảo đảm giữ vững kỷ cương, nâng cao chất lượng đội ngũ.

Ba là, Đảng cần phát huy vai trò trung tâm trong xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Việc triển khai Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị cần tiếp tục được tổ chức một cách thực chất, có hệ thống, gắn với cơ chế đánh giá rủi ro trong đổi mới hành chính, cải cách kinh tế, quản trị địa phương. Cần có quy định cụ thể để phân biệt rõ giữa sai phạm do thiếu trách nhiệm và sai sót trong quá trình đổi mới vì mục tiêu chung, từ đó có cơ chế xử lý công bằng, tránh làm cán bộ “tự thu mình”, ngại làm, sợ trách nhiệm.

Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ tâm, đủ tầm là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại của sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình. Trong quá trình đó, phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng đối với công tác cán bộ chính là nhân tố then chốt, bảo đảm định hướng đúng, tổ chức thực thi hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Việc hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng công tác đánh giá, đào tạo, sử dụng cán bộ, cùng với xây dựng văn hóa chính trị, đạo đức công vụ và cơ chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo nếu được thực hiện đồng bộ và nhất quán sẽ giúp Đảng xây dựng được đội ngũ cán bộ thực sự là “rường cột của nước nhà”, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, vì một Việt Nam phát triển hùng cường, tự tin sánh vai với các cường quốc năm châu trong thời đại mới.

Chú thích:
1. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – kỷ nguyên phát triển vì một Việt Nam giàu có và thịnh vượng. https://vietnamhoinhap.vn/vi/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-vi-mot-viet-nam-giau-co-va-thinh-vuong-50205.htm
2. Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/999602/ky-nguyen-moi%2C-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-viet-nam-nhung-van-de-ly-luan-va-thuc-tien.aspx
3. Phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – mục tiêu, quyết tâm của toàn Đảng và ý nguyện, khát vọng của người dân Việt Nam. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/phat-trien-dat-nuoc-phon-vinh-hanh-phuc-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-muc-tieu-quyet-tam-cua-toan-dang-va-y-nguyen-khat-vong-cua-nguoi-dan-vie
4. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và những yêu cầu lịch sử, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-va-nhung-yeu-cau-lich-su
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 611.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 354.
7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016). Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa trong nội bộ.
8. Nâng cao năng lực quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/844102/nang-cao-hieu-qua-%E2%80%9Cquan-tri-ban-than%E2%80%9D-cua-nguoi-can-bo-lanh-dao%2C-quan-ly-gan-voi-xay-dung-dang-ve-dao-duc-trong-tinh-hinh-moi.aspx
9. Văn phòng Trung ương Đảng (2018). Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa XII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 55.
10. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Quy định số 80-QĐ/TW ngày 18/8/2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.
11. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
12. Thành tựu và kinh nghiệm về công tác cán bộ của Đảng trong những năm đổi mới.https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/thanh-tuu-va-kinh-nghiem-ve-cong-tac-can-bo-cua-dang-trong-nhung-nam-doi-moi
13. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Công tác cán bộ là gốc. https://mega.vietnamplus.vn/doi-moi-phuong-thuc-lanh-dao-cua-dang-cong-tac-can-bo-la-goc-5278.html
14. Trung ương chỉ rõ nhiều hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ. https://baochinhphu.vn/trung-uong-chi-ro-nhieu-han-che-yeu-kem-trong-cong-tac-can-bo-102239023.htm
15, 16. Một số suy nghĩ về công tác cán bộ của Đảng trong tình hình mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1075602/mot-so-suy-nghi-ve-cong-tac-can-bo-cua-dang-trong-tinh-hinh-moi.aspx
17. Những thành tựu và một số hạn chế, bất cập trong phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/824220/nhung-thanh-tuu-va-mot-so-han-che%2C-bat-cap-trong-phuong-thuc-lanh-dao%2C-cam-quyen-cua-dang.aspx
18. Nhìn lại chính sách luân chuyển cán bộ cấp chiến lược thời gian qua – Kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nhin-lai-chinh-sach-luan-chuyen-can-bo-cap-chien-luoc-thoi-gian-qua-ket-qua-han-che-va-nhung-van-de-dat-ra
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2021). Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật.
3. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1049102/doi-moi-cong-tac-dao-tao%2C-boi-duong-can-bo-de-dap-ung-yeu-cau%2C-nhiem-vu-trong-tinh-hinh-moi.aspx
4. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1051103/doi-moi%2C-nang-cao-chat-luong-cong-tac-dao-tao%2C-boi-duong-doi-ngu-can-bo-cap-chien-luoc%2C-dap-ung-yeu-cau-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-cua-dan-toc.aspx
5. Giải pháp nâng cao văn hóa chính trị cho cán bộ, công chức trong quá trình hội nhập quốc tế. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/11/14/giai-phap-nang-cao-van-hoa-chinh-tri-cho-can-bo-cong-chuc-trong-qua-trinh-hoi-nhap-quoc-te/
6. Khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. https://lyluanchinhtri.vn/khuyen-khich-va-bao-ve-can-bo-doi-moi-sang-tao-dam-nghi-dam-lam-dam-chiu-trach-nhiem-vi-loi-ich-chung-3222.html  
7. Xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung – Một số nội dung cụ thể, https://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 23/9/2020.
8. Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có “tâm, tầm, trí” – yếu tố then chốt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/969502/xay-dung-doi-ngu-can-bo-cap-chien-luoc-co–%E2%80%9Ctam%2C-tam%2C-tri%E2%80%9D-yeu-to-then-chot-cua-cong-tac-xay-dung%2C-chinh-don-dang-va-he-thong-chinh-tri-trong-sach%2C-vung-manh.aspx.
9. Văn hóa công vụ và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức bộ máy hành chính nhà nước trong tiến trình hướng đến tính chuyên nghiệp phục vụ nhân dân. http://caicachhanhchinh.gov.vn/mo-hinh-kinh-nghiem/chi-tiet/183