International cooperation in training and developing human resources for explosive materials examination in the current context
ThS. Thiếu tá Trần Xuân Bắc
Học viện An ninh nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đang trở thành một trong những yếu tố then chốt góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ khoa học – kỹ thuật của lực lượng giám định viên kỹ thuật hình sự nói chung và trong lĩnh vực giám định vật liệu nổ nói riêng. Bài viết tổng kết một số kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế của công tác hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng giám định viên vật liệu nổ; từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác này trong thời gian tới.
Từ khóa: Hợp tác quốc tế; đào tạo, bồi dưỡng; nguồn nhân lực; giám định vật liệu nổ; kỹ thuật hình sự.
Abstract: In the context of globalization and deepening international integration, international cooperation in training and professional development is becoming one of the key factors contributing to enhancing the professional competence and scientific and technical expertise of forensic experts in general, and those specializing in explosives analysis in particular. This article summarizes some achievements, identifies existing issues and limitations in international cooperation on the training and development of explosives examiners, and proposes recommendations to improve the quality of this work in the coming period.
Keywords: International cooperation, training, development, human resources, explosives examination, forensic science.
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, trong điều kiện khoa học – công nghệ phát triển nhanh chóng với các thành tựu của trí tuệ nhân tạo, hệ thống kết nối thông minh và dữ liệu lớn được tích hợp đồng bộ; đồng thời, các loại tội phạm liên quan đến vật liệu nổ ngày càng có xu hướng xuyên quốc gia đã đặt ra yêu cầu mới đối với lực lượng kỹ thuật hình sự. Theo đó, nhiệm vụ không chỉ dừng lại ở việc nâng cao năng lực giám định trong phạm vi quốc gia mà còn phải từng bước tiệm cận và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
2. Thực tiễn hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ công tác giám định vật liệu nổ
Thực tiễn cho thấy năng lực chuyên môn, trình độ làm chủ công nghệ cũng như khả năng phân tích của đội ngũ giám định viên phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, hợp tác quốc tế được xác định là một kênh quan trọng nhằm rút ngắn khoảng cách về công nghệ, phương pháp và tiêu chuẩn giám định giữa Việt Nam với các nước phát triển.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chủ trương này đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quan trọng, như Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) xác định định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế1. Tiếp đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã nhấn mạnh việc chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó tranh thủ tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia phát triển2.
Quán triệt các quan điểm chỉ đạo nêu trên, Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an đã xác định hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tạo bước đột phá trong phát triển nguồn lực của lực lượng Công an nhân dân nói chung và kỹ thuật hình sự nói riêng. Nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành, trong đó có Nghị quyết số 17-NQ/ĐUCA ngày 28/10/2014 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Công an nhân dân, nhấn mạnh yêu cầu chủ động hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ đối tác và tranh thủ nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài3; Nghị quyết số 26-NQ/ĐUCA ngày 30/6/2025 của Đảng uỷ Công an trung ương về tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Công an nhân dân4.
Viện Khoa học Hình sự Bộ Công an với vai trò là cơ quan đầu ngành đã chủ động tham mưu, đề xuất nhiều định hướng, giải pháp thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo lực lượng kỹ thuật hình sự nói chung và giám định vật liệu nổ nói riêng. Bên cạnh việc duy trì quan hệ với các đối tác truyền thống, các đơn vị đã tích cực mở rộng hợp tác với những đối tác mới phù hợp, tham gia các cơ chế hợp tác đa phương và các tổ chức quốc tế. Đồng thời, thông qua hoạt động đối ngoại, các nguồn hỗ trợ kỹ thuật từ quốc tế được khai thác hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giảng viên; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tiên tiến, từng bước xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đào tạo, huấn luyện phù hợp với thông lệ quốc tế.
Các kết quả này thể hiện ở năm phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, đã nâng cao trình độ khoa học – kỹ thuật cho các giám định viên vật liệu nổ.
Thời gian qua, Viện Khoa học Hình sự (Bộ Công an) đã thiết lập và duy trì nhiều kênh hợp tác đào tạo với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu hàng đầu thế giới. Trong giai đoạn 2015-2025, đã có trên 150 lượt cán bộ giám định kỹ thuật hình sự, trong đó hơn 60 lượt cán bộ thuộc chuyên ngành hóa nổ được cử đi đào tạo, tập huấn hoặc nghiên cứu thực tế tại các nước có nền khoa học hình sự phát triển, như: Nga, Pháp, Đức, Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc5. Điển hình như chương trình “Đào tạo nâng cao năng lực giám định vật liệu nổ theo chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025” do Cảnh sát Liên bang Đức (BKA) phối hợp với Bộ Công an Việt Nam triển khai từ năm 2019 – 2022, đã đào tạo được 30 giám định viên cấp cao, trong đó 10 người sau đó trở thành giảng viên nguồn của các khóa tập huấn trong nước6. Khóa học tập trung vào ba nội dung: (1) Phân tích mẫu thuốc nổ bằng phổ khối và sắc ký khí; (2) Giám định dấu vết nổ tại hiện trường; (3) Quản lý chất lượng phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn quốc tế.
Hợp tác quốc tế cho phép Việt Nam tiếp cận những phương pháp, thiết bị và quy trình giám định tiên tiến như phân tích vết nổ bằng phổ khối plasma cảm ứng (ICP-MS); định danh dấu vết nổ bằng sắc ký khí khối phổ (GC–MS); so sánh đặc tính hóa học để truy nguyên nguồn gốc vật liệu nổ.
Thông qua các chương trình hợp tác với INTERPOL, UNODC, JICA (Nhật Bản), KOICA (Hàn Quốc), Viện Khoa học Hình sự Việt Nam đã được đào tạo, tiếp nhận trang thiết bị và tham gia các khóa tập huấn quốc tế về kỹ thuật giám định vật liệu nổ, phân tích tiền chất và nhận dạng thuốc nổ tự chế (HMTD, TATP…). Các khóa học này không chỉ giúp cập nhật kỹ thuật hiện đại mà còn nâng cao tư duy giám định kết hợp giữa hóa học, vật lý và kỹ thuật cơ khí nổ.
Thứ hai, đã tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, trang thiết bị và chuẩn hóa phòng thí nghiệm.
Trong những năm gần đây, với chủ trương đúng đắn của Bộ Công an, Viện Khoa học hình sự, các trường, học viện đã xây dựng được các cơ chế hợp tác hiệu quả trong lĩnh vực trợ giúp kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, giúp nâng cao năng lực về giáo dục đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hiệu quả cho công tác giám định vậy liệu nổ. Một trong những kết quả nổi bật của hợp tác quốc tế là nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ giám định vật liệu nổ. Trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam – Pháp (dự án 2019 – 2023), Chính phủ Pháp đã hỗ trợ trang bị cho Viện Khoa học Hình sự hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), phổ khối kế (MS) và máy huỳnh quang tia X di động – những công cụ hiện đại giúp phân tích nhanh, chính xác các mẫu vật nổ trong điều kiện hiện trường.
Bên cạnh đó, các phòng thí nghiệm chuyên ngành của Viện Khoa học Hình sự và một số phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh, thành phố trọng điểm, như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Đà Nẵng đã được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017, được các tổ chức quốc tế công nhận năng lực phân tích độc lập. Đây là bước tiến quan trọng trong việc khẳng định uy tín khoa học của Việt Nam trong lĩnh vực giám định vật liệu nổ.
Thứ ba, tăng cường năng lực giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao trong nước.
Thông qua các chương trình hợp tác với đối tác, Bộ Công an đã chỉ đạo Viện Khoa học hình sự, các trường, học viện tiếp nhận nhiều lượt chuyên gia của Pháp, Hàn Quốc, Hoa Kỳ đến làm việc theo cơ chế trao đổi chuyên gia, hỗ trợ cán bộ, giảng viên giảng dạy chuyên ngành kỹ thuật hình sự nói chung và giám định vật liệu nổ nói riêng của các nhà trường, học viện trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Đây là những cơ hội tốt để cán bộ, giảng viên kỹ thuật hình sự của các nhà trường, học viện có thể tham khảo, tìm kiếm thêm những kiến thức chuyên môn, phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, nghiên cứu của mình.
Nhờ kết quả hợp tác quốc tế, một số cán bộ giám định sau khi hoàn thành khóa học đã trở thành hạt nhân đào tạo trong nước, trực tiếp tham gia biên soạn giáo trình, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ. Từ năm 2020 – 2024, Viện Khoa học Hình sự đã tổ chức 08 khóa bồi dưỡng chuyên sâu cho lực lượng kỹ thuật hình sự công an các địa phương về kỹ thuật phân tích vật liệu nổ và giám định hiện trường vụ nổ, với hơn 400 học viên được cấp chứng nhận7. Đặc biệt, các mô hình đào tạo “đào tạo lại – đào tạo nhân rộng – tự đào tạo” được áp dụng, giúp lan tỏa tri thức quốc tế đến lực lượng cơ sở. Một số đề tài nghiên cứu do các cán bộ này chủ trì sau đào tạo cũng đã được ứng dụng thực tiễn, như: nghiên cứu xác định nguồn gốc vật liệu nổ công nghiệp bằng phương pháp sắc ký ion (năm 2021); xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về vật liệu nổ phi truyền thống trong điều tra hình sự (năm 2023).
Thứ tư, hợp tác quốc tế trong chia sẻ dữ liệu và phối hợp điều tra.
Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực của Mạng lưới giám định pháp y khu vực ASEAN (ASEANPOL Forensic Network). Qua đó, các giám định viên Việt Nam thường xuyên chia sẻ mẫu dữ liệu về đặc trưng hóa học và hình thái vật liệu nổ được thu thập tại hiện trường các vụ án có yếu tố nước ngoài. Một ví dụ điển hình là vụ nổ tại cảng Cát Lái năm 2021, khi cơ quan giám định Việt Nam phối hợp với chuyên gia INTERPOL phân tích nguồn gốc vật liệu nổ dạng ANFO nhập lậu từ Campuchia. Kết quả giám định đối chiếu cơ sở dữ liệu quốc tế đã giúp truy vết thành công đường dây buôn bán tiền chất nổ xuyên biên giới.
Ngoài ra, lực lượng giám định Việt Nam đã nhiều lần được mời tham dự Hội nghị khoa học quốc tế INTERPOL – EOD Forensic Symposium tại Lyon (Pháp), báo cáo các kết quả nghiên cứu độc lập về dấu vết nổ và nhận diện vật liệu nổ phi truyền thống, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Thứ năm, đóng góp trong nâng cao vị thế khoa học hình sự Việt Nam.
Nhờ hợp tác quốc tế, năng lực giám định vật liệu nổ của Việt Nam đã có bước tiến vượt bậc, từ chỗ chỉ có khả năng phân tích định tính đơn giản (trước năm 2010), nay đã làm chủ các kỹ thuật phân tích định lượng, định danh cấu trúc phân tử, mô phỏng quá trình nổ, đáp ứng yêu cầu điều tra các vụ án phức tạp.
Một số bài báo khoa học của giám định viên Việt Nam đã được công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín như Forensic Chemistry và Journal of Analytical Science and Technology.
Không chỉ dừng ở đào tạo và nghiên cứu, Việt Nam còn được INTERPOL và UNODC đánh giá là đối tác tiềm năng trong khu vực Đông Nam Á về chia sẻ dữ liệu giám định vật liệu nổ, thể hiện qua việc Việt Nam được mời tham gia nhóm công tác xây dựng chuẩn dữ liệu kỹ thuật về vật liệu nổ tự tạo (Improvised Explosives Database Standardization) năm 2024.
Tuy nhiên, việc hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực giám định vật liệu nổ vẫn còn những hạn chế, cụ thể là: (1) Quy mô hợp tác còn hạn chế, chưa tương xứng với nhu cầu phát triển và hội nhập. Các chương trình hợp tác chủ yếu mang tính ngắn hạn, chưa có các dự án đào tạo chuyên sâu dài hạn. (2) Cơ sở pháp lý và cơ chế tài chính cho hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đặc thù như giám định vật liệu nổ còn thiếu và chưa đồng bộ; nhiều dự án phải chờ phê duyệt liên ngành, dẫn đến chậm tiến độ. (3) Hạn chế về ngoại ngữ và kỹ năng hội nhập quốc tế của một bộ phận cán bộ giám định gây khó khăn khi tiếp thu công nghệ mới, đặc biệt trong quá trình đào tạo tại nước ngoài. (4) Chưa có mạng lưới chia sẻ thông tin quốc tế ổn định giữa Việt Nam và các tổ chức khu vực, dẫn đến việc trao đổi dữ liệu chuyên sâu (như mẫu vật liệu nổ phi truyền thống, công nghệ chế tạo tự phát) còn gặp khó khăn.
3. Một số giải pháp
Thời gian tới, bối cảnh khu vực và thế giới sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển của nước ta đến quan hệ hợp tác, đối ngoại của Đảng, Nhà nước với các nước trên thế giới và trong khu vực. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giúp nền kinh tế của các nước trên thế giới phát triển hơn, nhưng lại kéo theo các vấn đề về an ninh, an toàn xã hội. Phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội liên quan đến vật liệu nổ sẽ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Điều này đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng Công an nói chung và lực lượng giám định vật liệu nổ nói riêng. Do đó, để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực giám định vật liệu nổ cần tập trung nghiên cứu, triển khai một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện chiến lược và cơ chế quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giám định.
Hiện nay, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giám định tư pháp nói chung và giám định vật liệu nổ nói riêng còn phân tán, chưa có định hướng chiến lược thống nhất. Vì vậy, cần xây dựng Chiến lược hợp tác quốc tế về khoa học giám định kỹ thuật hình sự đến năm 2035, gắn kết với Chiến lược phát triển lực lượng Công an nhân dân hiện đại và Chiến lược phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Trong chiến lược này, lĩnh vực giám định vật liệu nổ cần được xác định là một hướng ưu tiên đặc biệt, do tính chất phức tạp, nguy hiểm và tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia. Cụ thể hóa cơ chế pháp lý về hợp tác quốc tế trong giám định tư pháp.
Luật Giám định tư pháp năm 2025 và các nghị định hướng dẫn chưa có quy định riêng cho lĩnh vực hợp tác khoa học – đào tạo quốc tế. Do đó, Bộ Công an cần phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp đề xuất ban hành Thông tư liên tịch quy định về nội dung, thẩm quyền, trình tự, kinh phí và chế độ đối với cán bộ tham gia chương trình hợp tác quốc tế về giám định vật liệu nổ. Tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng hợp tác quốc tế, thông qua việc thẩm định, đánh giá định kỳ các chương trình, dự án hợp tác. Cần có cơ chế kiểm định chất lượng tương đương với hệ thống kiểm định giáo dục đại học quốc tế để bảo đảm hiệu quả và tính bền vững của các chương trình.
Hai là, đổi mới mô hình và phương thức hợp tác quốc tế.
Để nâng cao hiệu quả, mô hình hợp tác quốc tế cần được chuyển từ hình thức “tiếp nhận thụ động” sang hợp tác bình đẳng, chủ động.
(1) Phát triển mô hình hợp tác “đồng nghiên cứu – đồng đào tạo”, trong đó các cán bộ Việt Nam không chỉ tham gia học tập mà còn cùng đối tác quốc tế thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu chung về giám định vật liệu nổ, phân tích dấu vết nổ, chế tạo cơ sở dữ liệu quốc tế. Mô hình này đã được một số nước ASEAN áp dụng hiệu quả trong khuôn khổ ASEANAPOL Forensic Network và INTERPOL EOD Working Group.
(2) Tăng cường hợp tác khu vực, trước mắt tập trung vào các nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, để hình thành trung tâm đào tạo khu vực Đông Nam Á về giám định vật liệu nổ. Việt Nam có thể đề xuất vai trò điều phối viên hoặc trung tâm thực hành khu vực, từ đó nâng cao vị thế và chủ động tiếp cận các nguồn tài trợ quốc tế.
(3) Ứng dụng công nghệ số và đào tạo trực tuyến (E-learning) trong hợp tác quốc tế. Các khóa tập huấn ngắn hạn có thể triển khai trực tuyến với sự hỗ trợ của chuyên gia nước ngoài, giảm chi phí và mở rộng quy mô người học.
Bộ Công an có thể phối hợp với UNODC xây dựng nền tảng đào tạo số chuyên ngành giám định vật liệu nổ, cung cấp khóa học trực tuyến bằng tiếng Anh và tiếng Việt cho giám định viên trong nước.
Ba là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Hiệu quả hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nhân lực giám định vật liệu nổ phụ thuộc vào nhận thức và vai trò định hướng của đội ngũ lãnh đạo, quản lý. Nếu thiếu sự quan tâm đúng mức, hoạt động này dễ bị triển khai hình thức, không gắn với yêu cầu thực tiễn. Do đó, cần tăng cường tuyên truyền theo hướng làm rõ bản chất hợp tác quốc tế là kênh tiếp thu tri thức, công nghệ và phương pháp giám định tiên tiến, qua đó thống nhất nhận thức, khắc phục tình trạng coi đây chỉ là hoạt động cử cán bộ đi học thiếu định hướng ứng dụng. Đồng thời, cần đưa tiêu chí “hợp tác quốc tế và năng lực hội nhập” vào đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, góp phần thúc đẩy cán bộ chủ động nâng cao ngoại ngữ, kỹ năng hợp tác và năng lực tiếp nhận, vận dụng thành tựu khoa học vào công tác giám định.
Bốn là, mở rộng hợp tác khu vực và quốc tế trong chia sẻ dữ liệu giám định vật liệu nổ.
Trong bối cảnh tội phạm sử dụng vật liệu nổ ngày càng có tính chất xuyên quốc gia, việc chia sẻ dữ liệu giám định giữa các quốc gia còn hạn chế đã làm giảm hiệu quả truy nguyên và nhận diện nguồn gốc vật liệu. Do đó, Việt Nam cần chủ động thúc đẩy hợp tác theo hướng thực chất và có tính kết nối cao. Cần tích cực tham gia và khai thác hiệu quả các cơ chế chia sẻ dữ liệu quốc tế như INTERPOL thông qua hệ thống EOD Database và ASEANAPOL thông qua các nền tảng trao đổi giám định. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu giám định vật liệu nổ quốc gia theo hướng hiện đại, có khả năng liên thông, tích hợp và chuẩn hóa dữ liệu để từng bước kết nối với hệ thống quốc tế (Vietnam Explosive Forensic Database – VEFD). Việc này nhằm nâng cao năng lực truy vết, so sánh, đối chiếu dấu vết, đặc biệt trong các vụ án có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến vật liệu nổ nhập lậu.
Tăng cường tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam theo hướng chuyên sâu, tập trung vào các vấn đề kỹ thuật và xu hướng mới trong giám định vật liệu nổ. Không chỉ dừng ở trao đổi học thuật, các diễn đàn này cần hướng tới thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin, xây dựng mạng lưới chuyên gia và thúc đẩy hợp tác nghiên cứu thực chất. Qua đó, từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam, hướng tới trở thành một điểm kết nối và trung tâm trao đổi khoa học có uy tín trong khu vực Đông Nam Á trong lĩnh vực giám định vật liệu nổ.
Năm là, tăng cường mối quan hệ phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thực hiện công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực giám định vật liệu nổ.
Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo với các đơn vị chức năng của Bộ Công an, Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự), Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Giáo dục đại học). Do đó, để nâng cao công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực giám định vật liệu nổ cần tăng cường quan hệ phối hợp giữa các đơn vị nêu trên để bảo đảm cho công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế được thực hiện thuận lợi theo đúng thẩm quyền của các đơn vị, cơ sở trong lĩnh vực huấn luyện, đào tạo và nghiên cứu khoa học kỹ thuật hình sự.
Chú thích:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Đảng ủy Công an Trung ương (2014). Nghị quyết số 17-NQ/ĐUCA ngày 28/10/2014 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Công an nhân dân”.
4. Đảng ủy Công an Trung ương (2025). Nghị quyết số 26-NQ/ĐUCA ngày 30/6/2025 về tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Công an nhân dân.
5, 6, 7. Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an (2015 – 2025). Báo cáo tổng kết từ năm 2015 – năm 2025.



