Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân – sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới

Resolution No. 68-NQ/TW on Private Sector Development: The Inheritance and Creative Development of Ho Chi Minh Thought in the New Era

ThS. Lê Thu Nguyệt
ThS. Trịnh Huy Hồng
ThS. Tạ Thị Thu Huyền
Đại học Bách khoa Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nhận thức đúng vai trò của kinh tế tư nhân trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết tiếp cận vấn đề này từ góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn phát triển của Đảng, làm rõ quá trình đổi mới nhận thức về kinh tế tư nhân. Trên cơ sở phân tích Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân1, bài viết chỉ ra những nội dung kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của kinh tế tư nhân như một động lực thúc đẩy tăng trưởng, góp phần hoàn thiện mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; kinh tế tư nhân; Nghị quyết 68-NQ/TW; kinh tế nhiều thành phần; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Abstract: Within the context of developing a socialist-oriented market economy and fostering deep international integration, properly recognizing the role of the private sector has become an urgent imperative. This article approaches the issue from the perspective of Ho Chi Minh Thought and the Party’s developmental practice, clarifying the evolution of perception regarding the private economy. Based on an analysis of the Political Bureau’s Resolution No. 68-NQ/TW on private sector development, the paper highlights the elements of inheritance and creative development of Ho Chi Minh Thought in the new context. The research findings affirm the increasingly vital role of the private sector as a driving force for growth, contributing to the refinement of Vietnam’s contemporary economic development model.

Keywords: Ho Chi Minh Thought; Private sector; Resolution No. 68-NQ/TW; Multi-sector economy; Socialist-oriented market economy.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt với việc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (viết tắt là Nghị quyết số 68-NQ/TW), vấn đề nhận thức đúng đắn về vai trò của kinh tế tư nhân đang trở nên hết sức quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những đánh giá tích cực, vẫn tồn tại một số quan điểm sai lệch, thậm chí mang tính xuyên tạc khi cho rằng việc thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam là biểu hiện của sự “chuyển đổi sang nền kinh tế tư bản dưới vỏ bọc xã hội chủ nghĩa”.

Những luận điệu này không chỉ phản ánh sự phiến diện trong cách tiếp cận mà còn bỏ qua cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối phát triển kinh tế ở Việt Nam. Thực chất, việc phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta không phải là sự lệch hướng, mà là kết quả của quá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tổng kết thực tiễn đổi mới. Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm linh hoạt, thực tiễn về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thừa nhận sự tồn tại và vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân và phân tích Nghị quyết số 68-NQ/TW như một minh chứng thuyết phục cho sự kế thừa và phát triển sáng tạo những tư tưởng này trong điều kiện lịch sử mới. Qua đó, góp phần khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế của Đảng; đồng thời, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân

2.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân

Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ xây dựng chính quyền cách mạng và khôi phục kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức rõ vai trò của giới công – thương trong công cuộc kiến thiết quốc gia. Trong Thư gửi giới Công – Thương Việt Nam, ngày 13/10/1945, Người khẳng định: “…giới Công – Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công – Thương trong công cuộc kiến thiết này”2. Quan điểm này không chỉ thể hiện sự đánh giá đúng đắn của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa và ổn định nền kinh tế, mà còn khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để giới công thương phát triển. Qua đó, Người đã đặt nền tảng tư duy quan trọng về việc huy động và phát huy các nguồn lực kinh tế ngoài nhà nước nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân trong giai đoạn đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đến năm 1953, trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người chỉ ra nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần, trong đó có kinh tế cá nhân của nông dân và thợ thủ công, kinh tế tư bản của tư nhân, kinh tế tư bản quốc gia, bên cạnh kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Không chỉ dừng lại ở việc phân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những nhận định cụ thể, sâu sắc về đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của từng thành phần kinh tế cá nhân. Người viết: “Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc, ít có gì bán và cũng ít khi mua gì. Đó là một thứ kinh tế lạc hậu. Kinh tế tư bản của tư nhân. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế. Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội”3.

Những phân tích trên cho thấy, cách tiếp cận khách quan, toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đánh giá các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tư nhân vừa được nhìn nhận ở những hạn chế nhất định, vừa được khẳng định vai trò đóng góp đối với sự phát triển kinh tế. Từ đó, là cơ sở để đề xuất phương thức phát huy những mặt tích cực, đồng thời có sự điều tiết phù hợp nhằm hướng các thành phần kinh tế phục vụ mục tiêu phát triển chung của đất nước.

Trên cơ sở thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm “công – tư đều lợi” trong phát triển kinh tế. Người chỉ rõ: “Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới… Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà”4. Quan điểm này cho thấy, trong nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng và định hướng, đồng thời, khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm tư bản dân tộc và kinh tế cá thể, cũng được thừa nhận là lực lượng cần thiết trong phát triển kinh tế. Sự kết hợp giữa các thành phần kinh tế nhằm phát huy mọi nguồn lực xã hội, phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Tuy nhiên, quá trình phát triển đó phải luôn được đặt dưới sự lãnh đạo chung của nền kinh tế quốc gia và gắn với lợi ích của đại đa số nhân dân.

2.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về lực lượng tham gia phát triển kinh tế tư nhân

Gắn với nhận thức về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến lực lượng tham gia phát triển khu vực này, trước hết là nguồn lực con người. Theo Người, sự phát triển của kinh tế tư nhân không chỉ phụ thuộc vào cơ chế hay điều kiện kinh tế, mà còn gắn chặt với các chủ thể trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh.

Trước hết là, nông dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân… Nông dân ta giàu thì nước ta giàu”5. Người đánh giá rất cao vị trí của nông dân trong phát triển kinh tế quốc dân, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế hộ gia đình và kinh tế cá thể trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, lực lượng nông dân chiếm đại đa số dân cư, nên sự phát triển của khu vực này có ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.

Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra phương thức tổ chức sản xuất phù hợp với điều kiện cụ thể của nông thôn Việt Nam. Người khuyến khích hình thức tổ đổi công, phát huy tinh thần tương trợ trong lao động, từng bước phát triển các hình thức hợp tác xã trên cơ sở tự nguyện. Cách tiếp cận này vừa giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa tạo điều kiện để nông dân từng bước tiến lên những hình thức tổ chức sản xuất cao hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

Hai là, giới công thương và tầng lớp doanh nhân. Bên cạnh lực lượng nông dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của giới công thương và tầng lớp doanh nhân trong phát triển kinh tế quốc dân. Người nhấn mạnh: “Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng”6. Nhận định này cho thấy sự phát triển của khu vực công thương không chỉ mang ý nghĩa riêng đối với từng chủ thể sản xuất, kinh doanh, mà còn gắn trực tiếp với sự hưng thịnh của nền kinh tế đất nước. Từ đó, Người khẳng định cần tạo điều kiện để giới công thương phát triển, phát huy vai trò trong mở rộng sản xuất, thúc đẩy lưu thông hàng hóa và đóng góp vào ngân sách quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt chú ý đến việc điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ khu vực kinh tế tư nhân, nhất là giữa người sử dụng lao động và người lao động. Theo Người, nguyên tắc “chủ thợ đều lợi”7 cần được bảo đảm trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Điều đó không chỉ nhằm duy trì sự ổn định trong quan hệ lao động, mà còn hướng tới sự hài hòa lợi ích giữa các bên, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Quan điểm này thể hiện rõ tư duy phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, qua đó bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân.

2.3. Quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh về phương diện bảo đảm pháp lý đối với kinh tế tư nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhìn nhận vai trò kinh tế tư nhân trên phương diện kinh tế – xã hội, mà còn nhấn mạnh sự bảo đảm về mặt pháp lý của Nhà nước. Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 18/12/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất khi nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bao gồm: sở hữu của Nhà nước, sở hữu của hợp tác xã, sở hữu của người lao động riêng lẻ và một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản. Cách xác định này cho thấy người thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, trong đó có các yếu tố thuộc khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đặt chúng trong định hướng phát triển chung của nền kinh tế.

Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu phát triển ưu tiên sở hữu nhà nước, đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ sở hữu hợp tác phát triển. Đối với khu vực kinh tế tư nhân, Nhà nước không chỉ bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp mà còn định hướng hoạt động phù hợp với lợi ích quốc kế dân sinh và kế hoạch phát triển kinh tế chung. Cụ thể, đối với người lao động riêng lẻ, thợ thủ công thì: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện”8. “Đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”9.

Những quan điểm này cho thấy tư duy kinh tế linh hoạt, thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc kết hợp giữa bảo đảm quyền sở hữu và định hướng phát triển, qua đó tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam.

Có thể thấy, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân không chỉ phản ánh nhận thức sâu sắc về thực tiễn kinh tế nước ta, mà còn thể hiện tư duy nhất quán trong việc kết hợp hài hòa các thành phần kinh tế dưới sự định hướng của Nhà nước. Cách tiếp cận đó vừa phát huy được các nguồn lực trong xã hội, vừa bảo đảm định hướng phát triển phù hợp với lợi ích chung của đất nước, góp phần hình thành nền tảng tư tưởng cho đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam.

3. Sự kế thừa và phát triển trong Nghị quyết số 68-NQ/TW

3.1. Quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân

Trước thời kỳ đổi mới, nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân còn mang tính hạn chế, chịu ảnh hưởng sâu sắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và tư duy nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Trong bối cảnh đó, kinh tế tư nhân chưa được nhìn nhận đầy đủ về vị trí và vai trò trong nền kinh tế, thậm chí có thời điểm còn bị xem là đối tượng cần cải tạo. Điều này dẫn đến việc chưa khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội, làm hạn chế động lực phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn vận động của nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới tư duy, tạo tiền đề cho sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của Đảng từ Đại hội VI trở đi.

Kể từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân đã có sự chuyển biến từng bước, phản ánh quá trình kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nền kinh tế nhiều thành phần trong điều kiện mới. Sự thay đổi này gắn liền với tiến trình đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời thể hiện sự điều chỉnh linh hoạt trong tư duy lý luận kinh tế của Đảng.

Tại Đại hội VI, với tinh thần đổi mới mạnh mẽ, Đảng đã lần đầu tiên chính thức “thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa và kinh tế tư bản tư nhân”10 trong nền kinh tế quốc dân. Việc ghi nhận sự tồn tại của kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa và kinh tế tư bản tư nhân không chỉ đánh dấu bước ngoặt trong tư duy kinh tế, mà còn mở ra khả năng khai thác các nguồn lực xã hội nhằm thúc đẩy sản xuất, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.

Trong giai đoạn từ Đại hội VII (năm 1991) đến Đại hội IX (năm 2001), nhận thức của Đảng tiếp tục được hoàn thiện theo hướng cởi mở và thực tiễn hơn. Kinh tế tư nhân không chỉ được thừa nhận mà còn được khuyến khích phát triển rộng rãi, tham gia vào các lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời, Đảng nhấn mạnh vai trò của sự liên kết giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, nhằm huy động hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bước sang Đại hội X (năm 2006), nhận thức về kinh tế tư nhân tiếp tục được nâng cao khi Đảng khẳng định: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế… Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng là một trong những động lực của nền kinh tế”11. Đây là bước phát triển mang tính chất định tính rõ rệt, thể hiện sự chuyển biến từ việc thừa nhận sang đánh giá cao vai trò đóng góp của kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội.

Trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”12. Điều này cho thấy không chỉ dừng lại ở nhận thức, Đảng đã chú trọng đến việc xây dựng môi trường thể chế thuận lợi, bảo đảm tính minh bạch, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội XII (năm 2016) đánh dấu bước tiến quan trọng khi kinh tế tư nhân được chính thức xác định: “…là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”13. Quan điểm này đồng thời gắn với yêu cầu bảo đảm sự bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật giữa các chủ thể kinh tế, qua đó, góp phần tháo gỡ các rào cản, định kiến và tạo động lực mới cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Đến Đại hội XIII (năm 2021), nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân tiếp tục được nâng lên ở tầm chiến lược, gắn với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đảng chủ trương tạo lập môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và từng bước hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Tại Đại hội XIV của Đảng (năm 2026), Đảng tiếp tục phát triển nhận thức về kinh tế tư nhân theo hướng đột phá hơn khi nhấn mạnh: “Phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”14. Đồng thời, Đại hội cũng định hướng xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, qua đó khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Nhìn tổng thể, quá trình phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân thể hiện sự vận động từ chỗ thừa nhận sự tồn tại, đến khuyến khích phát triển và tiến tới xác định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Đây chính là nền tảng lý luận quan trọng để Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục kế thừa và phát triển trong bối cảnh mới.

3.2. Sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân trong Nghị quyết số 68-NQ/TW

Nghị quyết số 68-NQ/TW không chỉ là sự tiếp nối đường lối đổi mới của Đảng mà còn thể hiện rõ nét sự kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong bối cảnh mới. Sự kế thừa này được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, Nghị quyết 68-NQ/TW tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân. Điều này phản ánh sự nhất quán với tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người luôn nhìn nhận các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, đều có vị trí và vai trò nhất định trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Trong điều kiện hiện nay, Nghị quyết không chỉ thừa nhận mà còn nhấn mạnh mạnh mẽ hơn vai trò của kinh tế tư nhân như một lực lượng quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ hai, Nghị quyết 68-NQ/TW kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về việc phát huy mọi nguồn lực xã hội cho phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, cần huy động và sử dụng hiệu quả mọi lực lượng kinh tế, mọi nguồn lực của xã hội để phục vụ mục tiêu phát triển đất nước. Trên tinh thần đó, Nghị quyết đã đề ra các chủ trương nhằm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực của nền kinh tế, khai thác tối đa tiềm năng, nguồn lực trong xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.

Thứ ba, Nghị quyết 68-NQ/TW thể hiện rõ sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế. Trong tư tưởng của Người, việc bảo hộ quyền sở hữu, quyền kinh doanh chính đáng là điều kiện quan trọng để các thành phần kinh tế yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất. Tiếp nối quan điểm đó, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân, từ đó tạo động lực cho sự phát triển lâu dài và ổn định.

Như vậy, có thể thấy, Nghị quyết số 68-NQ/TW không chỉ kế thừa những giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần mà còn cụ thể hóa và vận dụng linh hoạt trong điều kiện phát triển mới của đất nước, góp phần khẳng định tính đúng đắn và sức sống bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực kinh tế.

3.3. Sự phát triển tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân trong Nghị quyết số 68-NQ/TW

Có thể thấy, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khá sớm đã có những nhận thức quan trọng và tương đối cởi mở về vai trò của kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, song do điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam khi đó đang trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, nền kinh tế vận hành chủ yếu theo yêu cầu phục vụ kháng chiến và bảo đảm tính tập trung của cơ chế quản lý, nên những quan điểm của Người về kinh tế tư nhân chưa có đầy đủ điều kiện để hiện thực hóa một cách toàn diện trong thực tiễn. Bên cạnh đó, trong một số giai đoạn lịch sử sau này, nhận thức về kinh tế tư nhân vẫn chịu ảnh hưởng nhất định từ tư duy đồng nhất kinh tế tư nhân với chủ nghĩa tư bản; từ đó, xuất hiện quan điểm cho rằng, do Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên cần hạn chế, cải tạo, thậm chí từng bước xóa bỏ khu vực kinh tế tư nhân. Điều này cho thấy quá trình nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân không diễn ra ngay lập tức, mà là một quá trình vận động, điều chỉnh và phát triển dần dần trên cơ sở tổng kết thực tiễn và đổi mới tư duy lý luận.

Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW có thể xem là một “điểm rơi” phù hợp cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn, xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau đây: Một là, do nhận thức là một quá trình nên Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước đổi mới tư duy về kinh tế tư nhân: từ chỗ xem đây là đối tượng của cải tạo xã hội chủ nghĩa cần hạn chế phát triển đến việc xác định kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, cho đến việc coi đây là một trong những động lực của nền kinh tế, sau đó là một động lực quan trọng và hiện nay được nhìn nhận là động lực quan trọng nhất đối với tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và phát triển đất nước trong giai đoạn mới; Hai là, thực tiễn đất nước hiện nay đã chứng minh cho vai trò của kinh tế tư nhân. Hiện, với hơn 940.000 doanh nghiệp và trên 5 triệu hộ kinh doanh, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và 82% tổng số lao động15; Ba là, do mục tiêu phát triển “vươn mình” của đất nước thì yêu cầu phát huy tối đa mọi nguồn lực xã hội trở thành một đòi hỏi mang tính tất yếu. Trong hệ thống các nguồn lực đó, kinh tế tư nhân được xem là khu vực có khả năng huy động nguồn vốn, sức sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp và tính năng động của xã hội một cách mạnh mẽ nhất.

Trên cơ sở kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã có những bước phát triển mới quan trọng, phản ánh yêu cầu của bối cảnh phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Nghị quyết 68-NQ/TW thể hiện bước phát triển vượt bậc trong nhận thức khi xác định rõ kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu như trong tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh tế tư nhân được nhìn nhận như một bộ phận hợp thành cần được sử dụng và cải tạo phù hợp, thì trong điều kiện hiện nay, Đảng đã nâng tầm khu vực này thành một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế đất nước. Đây là sự phát triển về chất trong tư duy lý luận, phù hợp với thực tiễn vận động của nền kinh tế.

Nghị quyết 68-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và ổn định. So với bối cảnh lịch sử trước đây, khi thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, thì trong giai đoạn hiện nay, việc bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, minh bạch hóa chính sách và tạo lập khung khổ pháp lý rõ ràng trở thành điều kiện tiên quyết để kinh tế tư nhân phát triển. Nội dung này thể hiện sự phát triển tư duy từ việc thừa nhận và khuyến khích sang chủ động kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi cho các chủ thể kinh tế.

Nghị quyết 68-NQ/TW đặt ra định hướng thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế. Đây là điểm mới nổi bật so với trước đây, khi khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu được nhìn nhận ở quy mô nhỏ và vừa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn khẳng định vị thế của kinh tế Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Nghị quyết 68-NQ/TW đề cao vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam như một lực lượng quan trọng trong phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Nếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh, doanh nhân được nhìn nhận như một bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc cần được vận động, tập hợp, thì trong bối cảnh hiện nay, đội ngũ doanh nhân được xác định là chủ thể trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc phát huy vai trò của doanh nhân không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn tạo động lực cho quá trình hiện đại hóa và nâng cao vị thế quốc gia.

4. Kết luận

Quan điểm Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân thể hiện tư duy kinh tế sâu sắc, thực tiễn và linh hoạt, đồng thời, hàm chứa tầm nhìn chiến lược về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những tư tưởng đó đã trở thành nền tảng lý luận quan trọng, định hướng cho Đảng từng bước hoàn thiện đường lối phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đưa ra những quan điểm và định hướng mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số hiện nay. Việc tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW sẽ góp phần phát huy mạnh mẽ vai trò của kinh tế tư nhân, tạo động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
2, 5, 6. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 53, 246, 53.
3, 4, 7. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 266, 267, 267.
8, 9. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 53, 373, 373.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 47. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 394.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 65. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 188.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 101.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 25.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 48.
15. Bộ Chính trị: Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. https://vnexpress.net/bo-chinh-tri-kinh-te-tu-nhan-la-dong-luc-quan-trong-nhat-cua-nen-kinh-te-4881704.html.