Enhancing innovation in public universities: issues arising from practical experience in Hanoi
ThS. Đào Ngọc Linh
Trường Đại học Thương mại
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực tiễn tăng cường hoạt động đổi mới tại các trường đại học công lập ở Hà Nội trong bối cảnh giáo dục đại học đang chuyển dịch mạnh mẽ. Bài viết chỉ ra các cơ hội nổi bật của các trường đại học công lập tại Hà Nội, như: hệ sinh thái khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo lớn nhất cả nước, chính sách quốc gia thúc đẩy đổi mới giáo dục đại học, cùng nhu cầu nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, phân tích những thách thức về cơ chế tài chính, khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa, sự thiếu hụt nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ mới. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực hiện hoạt động đổi mới trong các trường đại học công lập.
Từ khóa: Đổi mới; đại học công lập; cơ hội; thách thức; giải pháp; Hà Nội.
Abstract: This article analyses the practical aspects of enhancing innovation activities at public universities in Hanoi amidst the rapid transformation of higher education. Drawing on Hanoi’s experience, the article highlights key opportunities, including the country’s largest science, technology, and innovation ecosystem; national policies promoting innovation in higher education; and the demand for high-quality human resources. Simultaneously, it analyses challenges related to financial mechanisms, the gap between research and commercialisation, and the shortage of highly skilled personnel in emerging fields. Based on this analysis, it proposes several solutions to improve the effectiveness of innovation activities in public universities.
Keywords: Innovation; public universities; opportunities; challenges; solutions; Hanoi.
1. Đặt vấn đề
Đổi mới sáng tạo là lĩnh vực liên ngành, gắn với sự thay đổi hành vi và có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục đại học. Các trường đại học là trụ cột của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, vừa tạo ra tri thức, vừa đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho khoa học – công nghệ. Hà Nội là trung tâm giáo dục – khoa học lớn nhất cả nước, tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và đội ngũ trí thức, tạo điều kiện thuận lợi nhưng cũng đặt ra thách thức trong đổi mới chương trình đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu và cải tiến quản trị.
Trong bối cảnh kinh tế – thương mại toàn cầu có nhiều biến động, Việt Nam cần hướng tới độc lập công nghệ và gia tăng giá trị trong sản xuất. Điều này làm cho nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các trường đại học công lập tại Hà Nội phải tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt, liên ngành và phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp cũng như định hướng phát triển khoa học – công nghệ trong tương lai.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra yêu cầu, các trường đại học phải trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Do đó, việc phân tích cơ hội và thách thức của các trường đại học công lập tại Hà Nội trong việc đổi mới đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ cộng đồng cũng như quản trị là rất cần thiết. Đây chính là điều kiện để hệ thống giáo dục đại học Thủ đô phát triển bền vững; đồng thời, góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
2. Các hình thức đổi mới trọng tâm
Đổi mới các trường đại học công lập tại Hà Nội hiện nay được phân định trong các chính sách lớn của trung ương và thành phố, xoay quanh bốn trụ cột là: (1) Đổi mới chương trình đào tạo; (2) Đổi mới hoạt động khoa học; (3) Đổi mới hoạt động phục vụ cộng đồng; (4) Đổi mới tổ chức – quản lý. Đây là nội dung được xác định trong rất nhiều văn bản chiến lược của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, cũng như trong các định hướng phát triển khoa học – công nghệ của Hà Nội.
Thứ nhất, đổi mới chương trình đào tạo là nội dung tập trung đáp ứng các nhận định trong Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thông báo số 522/TB-VPCP ngày 14/11/2024 của Văn phòng Chính phủ về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại phiên họp của Ủy ban Quốc gia đổi mới giáo dục và đào tạo về định hướng giải pháp thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo theo Kết luận số 91-KL/TW, có nêu quan điểm: đổi mới chương trình theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, phát triển phẩm chất, năng lực người học, khai thác hợp lý các nội dung về chuyển đổi số, AI, kỹ năng số, đào tạo liên ngành trong đào tạo đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu các trường nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội về chuẩn đầu ra và bám sát chuẩn chương trình đào tạo quốc tế; đồng thời, cải tiến nội dung, phương pháp, kiểm tra đánh giá; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn chương trình đào tạo quốc gia và hướng tới chuẩn quốc tế; tăng cường hợp tác với doanh nghiệp phát triển các chương trình đào tạo STEM.
Thứ hai, đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học được coi là trụ cột quan trọng trong mô hình đổi mới của các trường đại học công lập. Trong dự thảo thành lập Liên minh Đổi mới sáng tạo các trường đại học tại Hà Nội, các trường đại học được định hướng trở thành “hạt nhân trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”, liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp và chính quyền nhằm thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và phát triển các sản phẩm trí tuệ có giá trị cao. Hướng đi này cũng phù hợp với Chiến lược phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia mà Bộ Khoa học và Công nghệ đã công bố, trong đó đại học được khẳng định là có vai trò thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tri thức.
Thứ ba, đổi mới hoạt động phục vụ cộng đồng được xác định là nhiệm vụ cốt lõi của cơ sở giáo dục đại học. Các trường đại học công lập tại Hà Nội phải nâng cao chuyển giao tri thức, tư vấn chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa, tham gia các chương trình chuyển đổi số của cộng đồng và phát triển bền vững.
Thứ tư, đổi mới tổ chức – quản lý là điều kiện cần thiết để thực hiện tự chủ đại học theo quy định Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018). Chính phủ yêu cầu các trường tăng cường chuyển đổi số trong quản trị, tinh giản biên chế, nâng cao trách nhiệm giải trình và minh bạch tài chính. Thông báo số 522/TB-VPCP cũng nêu rõ yêu cầu “cải cách quản trị đại học theo hướng hiện đại, hiệu quả, tăng cường tự chủ kèm trách nhiệm giải trình”. Cùng với đó, Hà Nội đang thúc đẩy mô hình liên kết giữa các trường qua Liên minh Đổi mới sáng tạo đại học Hà Nội nhằm phát huy sức mạnh tập thể các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô, qua đó, mở đường cho quản trị mạng lưới và hợp tác chiến lược.
3. Cơ hội và thách thức
3.1. Cơ hội
Một là, Hà Nội có hệ sinh thái khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo lớn nhất cả nước. Hà Nội hiện được coi là trung tâm tri thức và đổi mới sáng tạo hàng đầu của Việt Nam, nơi tập trung mật độ cao nhất các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và lực lượng trí thức chất lượng cao. Thành phố tập trung hơn 70% trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ của cả nước; sở hữu 82% số phòng thí nghiệm và hơn 65% đội ngũ nhà khoa học đầu ngành1. Đây là nguồn lực tri thức khổng lồ mà không địa phương nào trong cả nước có thể sánh kịp. Sự hội tụ này tạo ra một hệ sinh thái nghiên cứu – đổi mới sáng tạo đa ngành, đa lĩnh vực với khả năng kết nối nhanh chóng giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.
Đối với các trường đại học công lập tại Hà Nội thì đây là lợi thế chiến lược đặc biệt. Nhờ nằm trong trung tâm của hệ sinh thái này, các trường có điều kiện thuận lợi để triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác đổi mới sáng tạo. Việc kết nối với doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn, giúp các trường tiếp cận nhu cầu thực tiễn; đồng thời, mở rộng cơ hội triển khai các dự án nghiên cứu ứng dụng, hợp tác đào tạo và thương mại hóa sản phẩm khoa học. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các cơ quan quản lý cấp bộ, ngành và thành phố tại Hà Nội cũng tạo điều kiện để các trường tham gia sâu hơn vào quá trình hoạch định chính sách, thử nghiệm mô hình mới và tiếp cận các chương trình hỗ trợ khoa học – công nghệ quy mô lớn. Nhờ vậy, các trường đại học công lập tại Hà Nội có tiềm năng trở thành những trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu liên ngành và chuyển giao công nghệ hàng đầu cả nước.
Hai là, chính sách quốc gia thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới giáo dục đại học. Những năm gần đây, hệ thống chính sách của Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tự chủ đại học và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Các văn bản chiến lược quan trọng, như: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đều khẳng định vai trò trung tâm của giáo dục đại học trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Những chính sách này tạo ra hành lang pháp lý vững chắc và môi trường thuận lợi để các trường đại học công lập tại Hà Nội đẩy nhanh quá trình đổi mới. Các trường có cơ sở để triển khai tự chủ đại học, đổi mới chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, tăng cường nghiên cứu khoa học, mở rộng hợp tác doanh nghiệp và ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị. Đồng thời, các chính sách quốc gia cũng khuyến khích các trường tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, phát triển các mô hình đào tạo gắn với thực tiễn, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong sinh viên và giảng viên. Nhờ đó, các trường đại học công lập tại Hà Nội không chỉ có động lực mà còn có cơ chế để thực hiện những bước chuyển đổi mạnh mẽ, phù hợp với xu thế giáo dục đại học hiện đại trên thế giới.
Ba là, nhu cầu nhân lực chất lượng cao tạo động lực để đổi mới chương trình đào tạo. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động nhanh và cạnh tranh ngày càng gay gắt, Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ, tăng giá trị gia tăng trong sản xuất và phát triển các ngành kinh tế tri thức. Điều này kéo theo nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực có kỹ năng số, tư duy đổi mới sáng tạo, khả năng làm việc liên ngành và thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ. Sự dịch chuyển mạnh mẽ của thị trường lao động từ các ngành truyền thống sang các lĩnh vực mới, như: AI, dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa, thương mại điện tử, công nghệ tài chính, kinh tế số đã tạo ra áp lực nhưng cũng mở ra cơ hội lớn cho các trường đại học công lập tại Hà Nội. Để đáp ứng nhu cầu này, các trường buộc phải đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, linh hoạt và gắn với thực tiễn. Việc mở ngành mới, cập nhật nội dung đào tạo, tăng cường hợp tác doanh nghiệp và tích hợp kỹ năng số trở thành yêu cầu tất yếu. Đây cũng là cơ hội để các trường khẳng định vai trò trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô và cả nước.
3.2. Thách thức
Thứ nhất, một trong những thách thức lớn nhất đối với các trường đại học công lập tại Hà Nội hiện nay là sự hạn chế của cơ chế tài chính theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập. Dù đã có những bước tiến trong tự chủ tài chính, nhưng các trường vẫn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, dẫn đến việc phân bổ và sử dụng ngân sách còn thiếu linh hoạt. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến khả năng đầu tư cho khoa học – công nghệ, vốn đòi hỏi nguồn lực lớn, ổn định và có tính dài hạn. Việc xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại, mua sắm thiết bị nghiên cứu tiên tiến hay triển khai các dự án khoa học quy mô lớn đều cần quy trình phê duyệt phức tạp, thời gian kéo dài và chịu nhiều ràng buộc về thủ tục. Điều này khiến các trường khó bắt kịp tốc độ phát triển công nghệ nhanh chóng, đặc biệt trong các lĩnh vực, như: AI, công nghệ sinh học, vật liệu mới hay tự động hóa. Bên cạnh đó, cơ chế tài chính hiện hành cũng chưa tạo điều kiện thuận lợi để các trường thu hút và giữ chân các nhà khoa học giỏi, bởi mức thu nhập và chế độ đãi ngộ còn hạn chế so với khu vực tư nhân hoặc các viện nghiên cứu quốc tế. Ngoài ra, việc phân bổ ngân sách nghiên cứu theo năm tài chính thiếu tính linh hoạt và chưa gắn với hiệu quả đầu ra, khiến các trường khó chủ động triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn hoặc các dự án mang tính đột phá. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của các trường trong việc tham gia các chương trình nghiên cứu quốc gia, quốc tế và hạn chế vai trò của trường đại học như một trung tâm đổi mới sáng tạo thực sự.
Thứ hai, khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa vẫn còn lớn. Mặc dù Hà Nội là nơi tập trung nhiều trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu, nhưng quá trình chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Một trong những nguyên nhân chính là khoảng cách lớn giữa hoạt động nghiên cứu trong trường đại học và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Nhiều đề tài nghiên cứu vẫn mang tính hàn lâm, chưa gắn với thực tiễn, dẫn đến khó ứng dụng hoặc không được doanh nghiệp quan tâm. Bên cạnh đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp và chính quyền còn hạn chế. Doanh nghiệp chưa thực sự coi trường đại học là đối tác chiến lược trong đổi mới công nghệ, trong khi các cơ quan quản lý chưa có chính sách đủ mạnh để thúc đẩy mô hình hợp tác công – tư trong nghiên cứu khoa học. Điều này khiến các trường thiếu nguồn lực để phát triển các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng; đồng thời, làm giảm động lực của giảng viên và nhà khoa học trong việc theo đuổi các hướng nghiên cứu có khả năng thương mại hóa.
Thứ ba, hệ sinh thái hỗ trợ thương mại hóa trong trường đại học, như: trung tâm chuyển giao công nghệ, vườn ươm khởi nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm, cơ chế chia sẻ lợi nhuận chưa phát triển đồng bộ. Nhiều kết quả nghiên cứu có tiềm năng nhưng không được đưa ra thị trường do thiếu hỗ trợ về pháp lý, tài chính, marketing hoặc kết nối doanh nghiệp. Khoảng cách này không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư cho khoa học – công nghệ mà còn hạn chế vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Hà Nội.
Thứ tư, sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên và nhà khoa học có trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ mới. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều trường đại học công lập vẫn chưa có đủ giảng viên đạt chuẩn quốc tế trong các ngành, như: AI, khoa học dữ liệu, tự động hóa, robot, công nghệ sinh học hay vật liệu mới. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, khả năng triển khai các chương trình tiên tiến và năng lực thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu lớn. Cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu tại nhiều trường cũng chưa đồng bộ, thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, thiết bị nghiên cứu tiên tiến hoặc không được nâng cấp thường xuyên. Điều này khiến các nhóm nghiên cứu khó tiếp cận công nghệ mới, hạn chế khả năng hợp tác quốc tế và giảm sức hấp dẫn đối với các nhà khoa học giỏi.
Thứ năm, hoạt động phục vụ cộng đồng – một chức năng quan trọng của đại học hiện đại vẫn chưa được tổ chức bài bản. Nhiều trường chưa có mô hình kết nối hiệu quả với địa phương, doanh nghiệp và xã hội để chuyển giao tri thức, tư vấn chính sách hoặc hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Điều này làm giảm vai trò của trường đại học như một trung tâm tri thức và đổi mới của cộng đồng.
4. Một số giải pháp
Một là, về đổi mới chương trình đào tạo, các trường cần coi đây là trung tâm để tận dụng cơ hội nhu cầu nhân lực chất lượng cao và xu thế chuyển đổi số. Bên cạnh việc chuẩn hóa chương trình theo Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT ngày 22/6/2021của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chuẩn chương trình đào tạo; xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học và áp dụng các bộ chuẩn kiểm định quốc tế (AUN-QA, ABET, CDIO), các trường cần xây dựng cơ chế rà soát, cập nhật chương trình định kỳ dựa trên dữ liệu thị trường lao động, khảo sát nhà tuyển dụng và phản hồi cựu sinh viên. Nội dung đào tạo cần tích hợp mạnh các học phần về AI, Big Data, an ninh mạng, kinh tế số, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo không chỉ ở các ngành công nghệ mà cả trong kinh tế, quản trị, xã hội, giáo dục. Mô hình đào tạo theo hướng liên ngành, linh hoạt giúp sinh viên dễ dàng thích ứng với các vị trí việc làm mới. Sự tham gia sâu của doanh nghiệp, từ đồng thiết kế chương trình, giảng dạy một số học phần, hướng dẫn đồ án, đến đồng đánh giá chuẩn đầu ra là giải pháp quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động Hà Nội. Đồng thời, các trường cần phát triển mạnh hình thức học tập trải nghiệm, dự án thực tế, học kỳ doanh nghiệp, qua đó, giúp sinh viên hình thành năng lực giải quyết vấn đề trong bối cảnh thực.
Hai là, về đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, các trường cần chủ động “cắm rễ” sâu hơn vào hệ sinh thái khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Hà Nội. Trên cơ sở xác định một số lĩnh vực mũi nhọn phù hợp với lợi thế của Thủ đô (đô thị thông minh, giao thông thông minh, môi trường và biến đổi khí hậu, y sinh, kinh tế số, quản trị công, văn hóa – sáng tạo), các trường cần xây dựng chiến lược phát triển nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và trung tâm nghiên cứu liên ngành. Để khắc phục khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa, các trường nên thiết lập và hoàn thiện các cấu phần của “chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo”: văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO), vườn ươm doanh nghiệp, không gian làm việc chung, doanh nghiệp spin-off, quỹ hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng và khởi nghiệp. Cơ chế khuyến khích giảng viên và nhà khoa học tham gia nghiên cứu ứng dụng, đăng ký sở hữu trí tuệ, thương mại hóa sản phẩm (thông qua chia sẻ lợi ích, thưởng theo kết quả, hỗ trợ pháp lý) là yếu tố then chốt. Việc tham gia tích cực vào các chương trình, nhiệm vụ khoa học – công nghệ cấp thành phố và quốc gia, cũng như Liên minh Đổi mới sáng tạo của các trường đại học tại Hà Nội sẽ giúp các trường mở rộng mạng lưới hợp tác với doanh nghiệp, cơ quan quản lý và viện nghiên cứu, từ đó, tăng khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn phát triển Thủ đô.
Ba là, về đổi mới hoạt động phục vụ cộng đồng, các trường cần chuyển từ cách tiếp cận “phụ trợ” sang coi đây là một trụ cột chiến lược, gắn chặt với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nhu cầu phát triển bền vững của Hà Nội. Các chương trình phục vụ cộng đồng có thể được thiết kế theo hướng kết hợp giữa đào tạo – nghiên cứu – chuyển giao, như: tư vấn chính sách cho chính quyền địa phương; hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; chương trình nâng cao năng lực số cho người lao động; các dự án phát triển cộng đồng; hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa – lịch sử của Thủ đô. Việc lồng ghép các dự án phục vụ cộng đồng vào chương trình đào tạo vừa giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng, vừa tăng cường trách nhiệm xã hội của nhà trường. Đồng thời, các trường có thể tận dụng hệ sinh thái khoa học – công nghệ của Hà Nội để triển khai các chương trình phổ biến tri thức khoa học, giáo dục STEM cho học sinh, hỗ trợ khởi nghiệp địa phương, qua đó, khẳng định vai trò là “trung tâm tri thức” của cộng đồng.
Bốn là, về đổi mới hoạt động tổ chức – quản lý và cơ chế tài chính, các trường cần xây dựng mô hình quản trị đại học hiện đại, tự chủ, minh bạch và dựa trên dữ liệu. Trong bối cảnh cơ chế tài chính còn nhiều ràng buộc, việc đa dạng hóa nguồn thu là giải pháp quan trọng: mở rộng các chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng theo nhu cầu xã hội; phát triển dịch vụ khoa học – công nghệ; hợp tác nghiên cứu đặt hàng với doanh nghiệp và cơ quan nhà nước; khai thác hiệu quả tài sản công. Ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị (ERP, LMS, hệ thống quản lý nghiên cứu, cơ sở dữ liệu nhân sự – sinh viên – tài chính) giúp tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí vận hành và nâng cao chất lượng ra quyết định. Về tổ chức nhân sự, các trường cần xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên và nhà khoa học, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới: thu hút chuyên gia giỏi thông qua cơ chế đãi ngộ linh hoạt; khuyến khích giảng viên trẻ tham gia nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ; mở rộng hợp tác với chuyên gia quốc tế và kiều bào. Cơ chế đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng cần chuyển từ “niên hạn” sang “dựa trên kết quả và đóng góp”, gắn với các chỉ số về nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao và phục vụ cộng đồng.
Năm là, để các giải pháp trên thực sự phát huy hiệu quả, các trường cần xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá và cải tiến liên tục. Việc xác định các chỉ số đo lường cụ thể cho từng mảng đổi mới (tỷ lệ chương trình được kiểm định, số lượng đề tài gắn với doanh nghiệp, số sản phẩm được thương mại hóa, số dự án phục vụ cộng đồng, mức độ hài lòng của sinh viên và nhà tuyển dụng, tỷ lệ giảng viên có trình độ cao trong lĩnh vực công nghệ mới…) sẽ giúp nhà trường theo dõi tiến độ, điều chỉnh chiến lược và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Trong mối quan hệ với chính quyền thành phố và các bộ, ngành, các trường cần chủ động đề xuất cơ chế thí điểm, khung hỗ trợ tài chính, nhân sự, hợp tác công – tư, qua đó, từng bước tháo gỡ các rào cản về thể chế, tạo không gian rộng hơn cho hoạt động đổi mới tại các trường đại học công lập tại Hà Nội.
5. Kết luận
Việc đổi mới tại các trường đại học công lập ở Hà Nội là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức. Với lợi thế về hệ sinh thái khoa học – công nghệ và sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính sách quốc gia, các trường đại học công lập có cơ hội lớn để bứt phá. Tuy nhiên, để vượt qua các rào cản về cơ chế, nguồn lực và năng lực nội tại, cần có chiến lược đổi mới toàn diện, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường – doanh nghiệp – chính quyền, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của đại học trong phát triển bền vững Thủ đô và đất nước.
Chú thích:
1. Hà Nội là TP học tập toàn cầu: Tiên phong phát triển con người và tri thức. https://dttc.sggp.org.vn/ha-noi-la-tp-hoc-tap-toan-cau-tien-phong-phat-trien-con-nguoi-va-tri-thuc-post129265.html
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
2. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
3. Bộ Chính trị (2024). Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
4. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT ngày 22/6/2021 quy định về chuẩn chương trình đào tạo; xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học
6. Chính phủ (2021). Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
7. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
8. Văn phòng Chính phủ (2024). Thông báo số 522/TB-VPCP ngày 14/11/2024 của Văn phòng Chính phủ về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại phiên họp của Ủy ban Quốc gia đổi mới giáo dục và đào tạo về định hướng giải pháp thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo theo Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị.
9. Báo cáo thường niên của Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2024 (Báo cáo số 1768/BC-ĐHBK ngày 30/6/2025). https://hust.edu.vn/vi/ba-cong-khai/bao-cao-thuong-nien-nam-2024.html
10. Báo cáo công khai năm 2024. https://www.neu.edu.vn/Resources/Docs/SubDomain/HomePage/ThongBao/BaCongKhai/2023-2024/KHA_B%C3%A1o%20c%C3%A1o%20c%C3%B4ng%20khai%20N%C4%83m%202024.pdf
11. Báo cáo thường niên về hoạt động công khai của Trường Đại học Ngoại thương năm 2024. https://drive.google.com/file/d/1QF0IXwmTxyCSnnUQJAyK8jQRJSISjgTr/view
12. Chiến lược phát triển hoạt động hợp tác quốc tế của Trường Đại học Thương mại đến năm 2030. https://phapchethanhtra.tmu.edu.vn/tin-tuc/chi-tiet/chien-luoc-phat-trien-hoat-dong-hop-tac-quoc-te-cua-truong-dai-hoc-thuong-mai-den-nam-2030-26551
13. Chiến lược phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Trường Đại học Thương mại đến năm 2030. https://phapchethanhtra.tmu.edu.vn/upload/news/files/chien-luoc-phat-trien-hoat-dong-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-cua-truong-dai-hoc-thuong-mai-1748251834.pdf
14. Chính sách pháp luật mới. https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/chinh-sach-moi/96368/doi-moi-chuong-trinh-va-phuong-thuc-dao-tao-doi-voi-giao-duc-dai-hoc-nam-hoc-2025-2026?utm_source=copilot.com
15. Đề xuất thành lập liên minh Đổi mới sáng tạo đại học Hà Nội. https://hanoimoi.vn/de-xuat-thanh-lap-lien-minh-doi-moi-sang-tao-dai-hoc-ha-noi-698991.html



