Chuyển đổi số tại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam: thực trạng và hàm ý chính sách

Digital transformation in small and medium-sized enterprises in Vietnam: current status and policy implications

TS. Vũ Thị Hồng Phượng
Trường Đại học Thương mại

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh và cạnh tranh thị trường ngày càng dựa nhiều vào dữ liệu, nền tảng số và khả năng thích ứng. Bài viết phân tích thực trạng chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam giai đoạn 2022-2024 trên cơ sở tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ niên giám thống kê Việt Nam, báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp, báo cáo chỉ số chuyển đổi số quốc gia, các khảo sát doanh nghiệp và một số văn bản chính sách liên quan. Kết quả cho thấy, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có chuyển biến tích cực về nhận thức và mức độ ứng dụng công nghệ, đặc biệt trong định hướng chiến lược, quản trị tài chính – nhân sự và bán hàng đa kênh. Tuy nhiên, chuyển đổi số vẫn chưa đồng đều giữa các nhóm doanh nghiệp và còn chịu tác động bởi hạn chế về tài chính, thiếu hụt nhân lực số, năng lực quản trị dữ liệu hạn chế và khó khăn trong việc tiếp cận các giải pháp công nghệ phù hợp. Từ kết quả phân tích, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ số hóa từng phần sang chuyển đổi số thực chất, gắn với việc nâng cao năng lực quản trị, năng suất và sức cạnh tranh.

Từ khóa: Chuyển đổi số; doanh nghiệp nhỏ và vừa; kinh tế số; năng lực cạnh tranh; chính sách hỗ trợ.

Abstract: Digital transformation has become an important requirement for small and medium-sized enterprises (SMEs) as the digital economy expands and market competition increasingly depends on data, digital platforms, and adaptive capacity. Based on secondary data from Vietnam Statistical Yearbooks, annual reports on enterprise digital transformation, national digital transformation index reports, enterprise surveys, and relevant policy documents, this paper examines the digital transformation of Vietnamese SMEs during 2022-2024. The findings indicate positive improvements in awareness and technology adoption, especially in strategic orientation, financial and human resource management, and omnichannel sales. Nevertheless, digital transformation remains uneven across enterprise groups and is constrained by limited funding, shortages of digitally skilled workers, weak data governance, and difficulties in accessing suitable technologies. The paper proposes policy implications to help SMEs move from partial digitalization to substantive digital transformation, thereby improving management capacity, productivity, and competitiveness.

Keywords: Digital transformation; small and medium-sized enterprises; digital economy; competitiveness; policy implications.

1. Đặt vấn đề

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là bộ phận chiếm tỷ trọng áp đảo trong khu vực doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh và duy trì sức sống của nền kinh tế địa phương. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển mạnh của kinh tế số, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào vốn, lao động hay kinh nghiệm thị trường mà còn ngày càng gắn với khả năng khai thác dữ liệu, ứng dụng công nghệ và tổ chức lại quy trình quản trị trên nền tảng số.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt vì đây vừa là cơ hội để rút ngắn khoảng cách về quy mô, vừa là sức ép phải thay đổi để không bị loại khỏi thị trường. Các nền tảng thương mại điện tử, phần mềm quản trị, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo và công cụ phân tích dữ liệu cho phép doanh nghiệp tiếp cận khách hàng rộng hơn, giảm chi phí giao dịch, cải thiện quản lý tài chính – nhân sự và nâng cao chất lượng ra quyết định. Tuy nhiên, khác với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu vốn dài hạn, thiếu nhân sự công nghệ, hệ thống dữ liệu phân tán và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp. Vì vậy, chuyển đổi số ở khu vực này không thể được hiểu đơn giản là mua phần mềm hay sử dụng một vài công cụ trực tuyến mà phải được đặt trong mối quan hệ giữa năng lực nội tại của doanh nghiệp và hệ sinh thái hỗ trợ từ Nhà nước, thị trường dịch vụ số, các tổ chức tài chính và các cơ sở đào tạo.

2. Cơ sở lý luận và khung phân tích

2.1. Khái niệm chuyển đổi số trong doanh nghiệp

Chuyển đổi số trong doanh nghiệp được hiểu là quá trình ứng dụng công nghệ số để thay đổi phương thức vận hành, mô hình kinh doanh, quy trình quản trị và cách thức tạo ra giá trị. Điểm khác biệt quan trọng giữa chuyển đổi số và tin học hóa là chuyển đổi số không dừng ở việc đưa công nghệ vào một số khâu hoạt động mà hướng tới tái cấu trúc quy trình, tổ chức dữ liệu và đổi mới cách ra quyết định. Theo cách tiếp cận này, công nghệ chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ nằm ở năng lực quản trị, khả năng học hỏi của tổ chức và sự sẵn sàng thay đổi của người đứng đầu.

2.2. Vai trò của chuyển đổi số đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số có thể tạo tác động theo 3 hướng chính.

Thứ nhất, chuyển đổi số giúp nâng cao hiệu quả quản trị thông qua việc chuẩn hóa quy trình, giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch trong quản lý tài chính, hàng tồn kho, nhân sự và chăm sóc khách hàng.

Thứ hai, chuyển đổi số mở rộng khả năng tiếp cận thị trường nhờ thương mại điện tử, marketing số và các nền tảng kết nối, qua đó giúp doanh nghiệp vượt qua một phần hạn chế về không gian và quy mô.

Thứ ba, chuyển đổi số tăng khả năng thích ứng trước biến động thị trường thông qua việc khai thác dữ liệu nhanh hơn và phản ứng linh hoạt hơn với nhu cầu của khách hàng.

Tuy nhiên, tác động của chuyển đổi số không xảy ra một cách tự động. Nếu doanh nghiệp thiếu chiến lược, thiếu dữ liệu đáng tin cậy hoặc thiếu nhân lực vận hành, việc đầu tư công nghệ có thể chỉ tạo thêm chi phí mà không cải thiện năng suất. Vì vậy, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số cần được tiếp cận như một quá trình nâng cấp năng lực quản trị, trong đó công nghệ, con người, dữ liệu và mô hình kinh doanh phải được điều chỉnh đồng thời.

2.3. Khung phân tích

Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu và dữ liệu thực tiễn, bài viết sử dụng khung phân tích gồm bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa: nguồn lực tài chính; nguồn nhân lực và năng lực số; năng lực quản trị, chiến lược và dữ liệu của doanh nghiệp; và môi trường chính sách, hạ tầng số và hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ. Khung phân tích này cho phép nhìn nhận chuyển đổi số không chỉ từ phía doanh nghiệp mà còn từ góc độ điều kiện thể chế và chính sách công, qua đó, phù hợp với mục tiêu đề xuất hàm ý quản lý kinh tế.

3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, dựa trên việc tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu được thu thập từ niên giám thống kê Việt Nam; báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp do Cục Phát triển doanh nghiệp công bố; báo cáo chỉ số chuyển đổi số quốc gia và các báo cáo liên quan đến kinh tế số, thương mại điện tử, môi trường kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời tham chiếu các văn bản pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và phát triển kinh tế số.

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phản ánh quy mô, cơ cấu và một số chỉ báo chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2022-2024. Phương pháp so sánh được dùng để nhận diện sự thay đổi theo thời gian giữa các chỉ tiêu; phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng để diễn giải xu hướng, xác định rào cản và liên hệ với bối cảnh chính sách. Do các nguồn dữ liệu thứ cấp có thể khác nhau về phạm vi khảo sát, bài viết không nhằm kiểm định quan hệ nhân quả mà tập trung nhận diện các đặc điểm nổi bật và hàm ý chính sách từ các bằng chứng hiện có.

4. Thực trạng chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam giai đoạn 2022-2024

4.1. Quy mô, cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa và yêu cầu chuyển đổi số

Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, được phân loại theo số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn, có sự phân biệt theo lĩnh vực hoạt động. Dữ liệu tổng hợp từ niên giám thống kê cho thấy, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục là khu vực có quy mô lớn nhất trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Bảng 1. Số lượng và cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam giai đoạn 2022-2024

Loại doanh nghiệp2022202320242023/20222024/2023
Doanh nghiệp siêu nhỏ574.465585.243601.888+10.778 (1,88%)+16.645 (2,84%)
Tỷ trọng (%)79,9379,5879,57-0,35 điểm %-0,01 điểm %
Doanh nghiệp nhỏ110.706115.656119.461+4.950 (4,47%)+3.805 (3,29%)
Tỷ trọng (%)15,4015,7315,79+0,33 điểm %+0,06 điểm %
Doanh nghiệp vừa24.02724.87925.406+852 (3,55%)+527 (2,12%)
Tỷ trọng (%)3,343,383,36+0,04 điểm %-0,02 điểm %
Tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa709.198725.778746.755+16.580 (2,34%)+20.977 (2,89%)
Tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng số Doanh nghiệp (%)98,6898,6898,730,00 điểm %+0,05 điểm %
Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ Niên giám thống kê Việt Nam các năm 2022, 2023 và 2024.

Bảng 1 cho thấy, tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng từ 709.198 doanh nghiệp năm 2022 lên 746.755 doanh nghiệp năm 2024. Tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng số doanh nghiệp duy trì ở mức rất cao, đạt 98,73% vào năm 2024. Kết quả này khẳng định, chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là vấn đề riêng của từng doanh nghiệp mà còn liên quan trực tiếp đến năng suất, sức cạnh tranh và khả năng tham gia kinh tế số của toàn bộ nền kinh tế.

Về cơ cấu, doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 79,57% vào năm 2024. Đây là nhóm linh hoạt, dễ thay đổi mô hình kinh doanh và nhanh chóng thử nghiệm công cụ số, nhưng lại chịu hạn chế lớn nhất về tài chính, nhân lực và năng lực quản trị. Nhóm doanh nghiệp nhỏ có xu hướng tăng cả về số lượng và tỷ trọng, từ 15,40% năm 2022 lên 15,79% năm 2024. Đây là nhóm có tiềm năng chuyển đổi số rõ hơn do đã bắt đầu phát sinh nhu cầu quản trị chuyên nghiệp, mở rộng thị trường và kiểm soát chi phí. Trong khi đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ tuy tăng về số lượng nhưng tỷ trọng giảm nhẹ, cho thấy nhu cầu hỗ trợ nhóm này nâng cao năng suất và dẫn dắt hệ sinh thái doanh nghiệp nhỏ và vừa là vấn đề cần được chú ý.

Từ góc độ quản lý kinh tế, cơ cấu trên đặt ra yêu cầu chính sách phải phân tầng đối tượng được hỗ trợ. Doanh nghiệp siêu nhỏ cần các giải pháp số đơn giản, chi phí thấp và dễ sử dụng; doanh nghiệp nhỏ cần hỗ trợ về tư vấn, tài chính và quản trị dữ liệu; doanh nghiệp vừa cần khuyến khích đầu tư sâu hơn vào công nghệ lõi, an toàn thông tin và kết nối chuỗi cung ứng.

4.2. Mức độ sẵn sàng và kết quả chuyển đổi số

Để đánh giá kết quả chuyển đổi số, bài viết sử dụng chỉ báo mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của doanh nghiệp theo các nhóm khía cạnh trọng tâm. Dù phạm vi khảo sát có thể thay đổi giữa các báo cáo, các chỉ số này vẫn phản ánh tương đối rõ xu hướng chuyển biến trong nhận thức và triển khai chuyển đổi số của doanh nghiệp Việt Nam.

Bảng 2. Mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2022-2024

Khía cạnh đánh giá202220232024
Định hướng chiến lược2,43,94,2
Nghiệp vụ quản lý tài chính, kế hoạch, pháp lý và nhân sự2,43,84,1
Trải nghiệm khách hàng và bán hàng đa kênh2,33,74,0
Quản lý rủi ro và an ninh mạng2,43,73,9
Hệ thống công nghệ thông tin và quản trị dữ liệu2,33,63,8
Chuỗi cung ứng2,13,63,8
Con người và tổ chức2,53,53,7
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp năm 2023 và 2024 của Cục Phát triển doanh nghiệp.

Bảng 2 cho thấy, mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của doanh nghiệp đã cải thiện rõ rệt trong giai đoạn 2022-2024. Trụ cột định hướng chiến lược tăng từ 2,4 điểm năm 2022 lên 4,2 điểm năm 2024, phản ánh việc chuyển đổi số ngày càng được nhìn nhận như một định hướng phát triển, thay vì chỉ là một hoạt động kỹ thuật. Các trụ cột liên quan đến nghiệp vụ quản lý, trải nghiệm khách hàng và bán hàng đa kênh cũng tăng mạnh, cho thấy doanh nghiệp đã quan tâm hơn đến việc ứng dụng công nghệ trong các khâu có tác động trực tiếp đến doanh thu, chi phí và quan hệ với khách hàng.

Tuy nhiên, sự cải thiện chưa đồng đều. Các nội dung về hệ thống công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu, chuỗi cung ứng, con người và tổ chức vẫn thấp hơn so với các nhóm chiến lược hoặc nhóm bán hàng. Điều này cho thấy, nhiều doanh nghiệp mới đang chuyển đổi ở lớp bề mặt, tập trung vào công cụ vận hành hoặc kênh tiếp cận khách hàng, trong khi năng lực nền tảng như dữ liệu, nhân sự số, an toàn thông tin và quản trị thay đổi vẫn còn yếu. Nói cách khác, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã bước qua giai đoạn nhận thức ban đầu nhưng chưa hình thành đầy đủ năng lực chuyển đổi số có chiều sâu.

4.3. Rào cản chủ yếu trong chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mặc dù chuyển đổi số mang lại nhiều cơ hội, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp nhiều rào cản đáng kể trong quá trình triển khai. Những rào cản này không tách rời nhau mà thường xuyên kết hợp với nhau, khiến quyết định đầu tư công nghệ trở nên thận trọng hơn.

Bảng 3. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong một số lĩnh vực trọng yếu
giai đoạn 2022 – 2024

Khó khăn chủ yếu202220232024Xu hướng
Khó khăn trong tiếp cận tín dụng58%57%54%Vẫn là rào cản lớn nhất
Biến động thị trường24%34%38%Tăng nhanh
Tuyển dụng nhân sự phù hợp, nhất là nhân sự số/kỹ thuật11%14%20%Áp lực nhân lực tăng
Nguồn: Tổng hợp từ khảo sát và báo cáo doanh nghiệp của VCCI (2024).

Một là, khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng vẫn là rào cản lớn nhất. Tỷ lệ doanh nghiệp phản ánh khó khăn này giảm từ 58% năm 2022 xuống 54% năm 2024, nhưng vẫn ở mức cao. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí đầu tư cho hạ tầng công nghệ, phần mềm quản trị, an toàn thông tin và đào tạo nhân lực thường vượt quá khả năng tài chính trong ngắn hạn. Nhiều doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, thiếu phương án đầu tư công nghệ đủ thuyết phục hoặc chưa chứng minh được dòng tiền tạo ra từ chuyển đổi số. Điều này khiến các chính sách hỗ trợ tài chính, nếu chỉ dừng ở mức ưu đãi chung, sẽ khó đi vào thực chất.

Hai là, tình trạng thiếu hụt nhân lực số ngày càng nghiêm trọng. Tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự phù hợp tăng từ 11% năm 2022 lên 20% năm 2024. Vấn đề không chỉ là thiếu nhân sự công nghệ thông tin mà còn thiếu nhân sự có khả năng hiểu quy trình kinh doanh, phân tích dữ liệu và chuyển hóa công nghệ thành những cải tiến trong quản trị. Trong nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhân sự phải kiêm nhiệm nhiều vai trò, chưa được đào tạo bài bản về bảo mật dữ liệu, thương mại điện tử, phân tích khách hàng hoặc vận hành hệ thống số.

Ba là, biến động thị trường làm gia tăng tâm lý thận trọng trong đầu tư. Tỷ lệ doanh nghiệp lo ngại về biến động thị trường tăng từ 24% lên 38% trong giai đoạn 2022-2024. Khi nhu cầu thị trường không ổn định, doanh nghiệp thường ưu tiên dòng tiền ngắn hạn hơn là đầu tư dài hạn vào công nghệ. Điều này dẫn đến tình trạng chuyển đổi số theo kiểu cục bộ, chọn các giải pháp rẻ và nhanh nhưng thiếu tính tích hợp.

Bốn là, năng lực quản trị dữ liệu và tư duy chiến lược còn hạn chế. Một số chủ doanh nghiệp vẫn coi chuyển đổi số là nhiệm vụ kỹ thuật, giao cho bộ phận công nghệ hoặc kế toán xử lý, thay vì xem đây là một thay đổi trong mô hình quản trị. Dữ liệu trong doanh nghiệp thường phân tán, thiếu chuẩn hóa, chưa có quy trình bảo mật và chưa được khai thác để hỗ trợ ra quyết định. Bên cạnh đó, lo ngại về rò rỉ dữ liệu, tấn công mạng và chi phí duy trì hệ thống cũng khiến doanh nghiệp chậm triển khai các giải pháp số mang tính nền tảng.

5. Hàm ý chính sách

5.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo hướng phân tầng và thực chất

Chính sách hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chuyển từ cách tiếp cận chung sang cách tiếp cận theo phân tầng theo quy mô, ngành nghề và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp siêu nhỏ, cần ưu tiên các gói giải pháp cơ bản, chi phí thấp, dễ triển khai như kế toán số, hóa đơn điện tử, quản lý bán hàng, thanh toán số và hiện diện trên các nền tảng thương mại điện tử. Doanh nghiệp nhỏ cần được hỗ trợ tư vấn lộ trình chuyển đổi số, chuẩn hóa dữ liệu, tích hợp phần mềm quản trị và đào tạo nhân sự phụ trách. Với doanh nghiệp vừa, cần khuyến khích đầu tư vào quản trị chuỗi cung ứng, an ninh mạng, phân tích dữ liệu và đổi mới mô hình kinh doanh.

Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp và các nhà cung cấp giải pháp số. Chính sách chỉ hiệu quả khi doanh nghiệp dễ tiếp cận thông tin, được tư vấn đúng nhu cầu và có cơ chế đánh giá kết quả sau khi được hỗ trợ. Các chương trình hỗ trợ cần có tiêu chí đo lường cụ thể, không chỉ tính số lượng doanh nghiệp tham gia mà còn theo dõi mức độ cải thiện về năng suất, doanh thu, chi phí quản trị và khả năng khai thác dữ liệu.

5.2. Tăng cường hỗ trợ tài chính gắn với hiệu quả chuyển đổi số

Do hạn chế tài chính là rào cản lớn, cần mở rộng các công cụ hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào chuyển đổi số. Các quỹ bảo lãnh tín dụng, chương trình cho vay ưu đãi hoặc hỗ trợ chi phí tư vấn cần được thiết kế theo hướng đơn giản hóa thủ tục, minh bạch tiêu chí và gắn với phương án chuyển đổi số cụ thể. Có thể khuyến khích mô hình đồng tài trợ giữa Nhà nước, tổ chức tài chính và nhà cung cấp giải pháp, trong đó doanh nghiệp được hỗ trợ một phần chi phí để đánh giá hiện trạng, xây dựng lộ trình và triển khai công cụ phù hợp.

5.3. Phát triển nguồn nhân lực số và năng lực quản trị dữ liệu

Nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để chuyển đổi số đi vào thực chất. Cần triển khai các chương trình đào tạo ngắn hạn, thực hành và dễ tiếp cận cho chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý và người lao động trong doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nội dung đào tạo không nên chỉ dừng ở kỹ năng sử dụng công cụ mà cần bao gồm tư duy dữ liệu, an toàn thông tin, quản trị quy trình, thương mại điện tử, phân tích khách hàng và ứng dụng AI ở mức phù hợp.

5.4. Nâng cao năng lực quản trị và trách nhiệm chủ động của doanh nghiệp

Bản thân doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chuyển từ tư duy ứng dụng công nghệ đơn lẻ sang tư duy chuyển đổi số gắn với chiến lược kinh doanh. Doanh nghiệp nên bắt đầu bằng việc đánh giá hiện trạng, xác định điểm nghẽn trong quy trình, ưu tiên các khâu tạo ra giá trị cao và xây dựng lộ trình theo từng giai đoạn. Không phải doanh nghiệp nào cũng cần đầu tư ngay vào công nghệ phức tạp; điều quan trọng là lựa chọn giải pháp phù hợp với quy mô, năng lực vận hành và mục tiêu tăng trưởng.

6. Kết luận

Chuyển đổi số tại doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam giai đoạn 2022 – 2024 đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt về nhận thức chiến lược và ứng dụng công nghệ trong quản trị, bán hàng và tương tác với khách hàng. Tuy nhiên, kết quả chuyển đổi số vẫn chưa đồng đều và chưa thực sự đi vào chiều sâu. Nhiều doanh nghiệp mới dừng ở mức số hóa từng phần, trong khi năng lực quản trị dữ liệu, nhân lực số, an toàn thông tin và đầu tư vào công nghệ lõi còn hạn chế.

Trong thời gian tới, việc thúc đẩy chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được thực hiện đồng thời từ cả hai phía. Nhà nước cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo hướng phân tầng, thiết thực và có thể đo lường hiệu quả; đồng thời phát triển hạ tầng số, thị trường dịch vụ số, các công cụ tài chính và các chương trình đào tạo phù hợp. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động xây dựng chiến lược chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, đầu tư cho con người và lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp với mục tiêu kinh doanh. Chỉ khi kết hợp được sự chủ động của doanh nghiệp với hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, chuyển đổi số mới trở thành động lực thực chất giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững trong nền kinh tế số.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển Doanh nghiệp (2024). Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp 2023: Thúc đẩy chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển Doanh nghiệp (2025). Báo cáo thường niên về chuyển đổi số doanh nghiệp năm 2024.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Kết quả xếp hạng mức độ chuyển đổi số năm 2024.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024). Báo cáo chỉ số đánh giá chuyển đổi số của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2023.
5. Chính phủ (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
6. Google, Temasek, & Bain & Company (2025). e-Conomy SEA 2025 report.
7. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2024). Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2024.
8. OECD (2021). The digital transformation of SMEs. OECD Publishing.
9. Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
10. Tổng cục Thống kê (2023, 2024, 2025). Niên giám thống kê Việt Nam các năm 2022, 2023 và 2024. H. NXB Thống kê.
11. VCCI (2024). Báo cáo doanh nghiệp Việt Nam năm 2024.
12. VINASA (2023). Cẩm nang hướng dẫn chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
13. World Bank (2023). Digital transformation for SMEs.