Chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh tại TP. Hồ Chí Minh

Digital transformation and green economic development in Ho Chi Minh City

Đỗ Cao Trí
Trường Đại học Văn Lang

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy tăng trưởng bền vững gắn chuyển đổi số với phát triển kinh tế xanh, là yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp. Nghiên cứu phân tích thực trạng ứng dụng công nghệ số, thực hành xanh và rào cản chuyển đổi kép, dựa trên khảo sát 200 doanh nghiệp thuộc 5 nhóm ngành. Kết quả cho thấy, 47% doanh nghiệp chưa ứng dụng hoặc mới ứng dụng công nghệ số ở mức cơ bản; chỉ 18% đạt mức cao và tích hợp; 42% có nhận thức và hành động xanh ở mức trung bình. Ba rào cản nổi bật là chi phí công nghệ, thiếu nhân lực chất lượng cao và khó khăn về dữ liệu và chuẩn hóa. Nghiên cứu đề xuất hỗ trợ tài chính gắn với kết quả xanh, đào tạo nhân lực, chuẩn hóa dữ liệu và tích hợp chính sách số – xanh tại Thành phố.

Từ khóa: Chuyển đổi số; kinh tế xanh; chuyển đổi kép; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: In the context of Ho Chi Minh City’s efforts to promote sustainable growth, linking digital transformation with green economic development has become increasingly important for businesses. This study examines the current state of digital technology adoption, green practices, and barriers to the digital–green twin transition, based on a survey of 200 enterprises across five sectors. The findings indicate that 47% of the surveyed enterprises have either not adopted digital technologies or have adopted them only at a basic level. In comparison, only 18% have achieved a high and integrated level of adoption. In addition, 42% of the enterprises report a moderate level of green awareness and practices. The main barriers identified are technology investment costs, shortages of qualified personnel, and difficulties with data availability and standardization. The study proposes financial support linked to measurable green outcomes, workforce development, green data standardization, and integrated digital green policies for Ho Chi Minh City.

Keywords: digital transformation; green economy; twin transition; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh là hai định hướng trung tâm trong tái cấu trúc mô hình tăng trưởng của Việt Nam nói chung và TP. Hồ Chí Minh nói riêng trong giai đoạn 2021 – 2030. Ở cấp độ doanh nghiệp, chuyển đổi số là quá trình sử dụng công nghệ số để thay đổi phương thức tổ chức, vận hành, ra quyết định và tạo lập giá trị (Verhoef và cộng sự, 2021)1; trong khi kinh tế xanh hướng đến mô hình phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bao trùm xã hội (UNEP, 2011)2. Hai quá trình có khả năng hỗ trợ lẫn nhau: công nghệ số cung cấp dữ liệu và công cụ tối ưu hóa hoạt động; mục tiêu xanh định hướng ứng dụng công nghệ để tiết kiệm tài nguyên, quản lý chất thải và minh bạch hóa thông tin môi trường (George và cộng sự, 2021)3.

Việt Nam đã thể chế hóa hai định hướng này thông qua Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050. Đối với TP. Hồ Chí Minh, Chương trình thúc đẩy phát triển kinh tế số giai đoạn 2026 – 2030 đặt mục tiêu đến năm 2026, kinh tế số chiếm khoảng 18,5% GRDP, thương mại điện tử chiếm 13,4% tổng mức bán lẻ và 93% cảng biển ứng dụng nền tảng số; đến năm 2030, kinh tế số đóng góp 30 – 40% GRDP và thương mại điện tử chiếm 20% tổng mức bán lẻ. Đồng thời, Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội tạo cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính – ngân sách, tài nguyên – môi trường, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo để Thành phố triển khai các chính sách tích hợp số – xanh.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có quy mô nguồn lực hạn chế, thường gặp khó khăn về tài chính, kỹ năng số và năng lực quản trị khi triển khai công nghệ, làm giảm khả năng gắn số hóa với các mục tiêu xanh (World Bank, 2021)4. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu tập trung trả lời 3 câu hỏi: mức độ ứng dụng công nghệ số và mức độ nhận thức – hành động xanh của doanh nghiệp khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh đang ở đâu; những rào cản nào đang hạn chế quá trình chuyển đổi kép số – xanh; và hàm ý chính sách nào phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp tại Thành phố? Bài viết sử dụng dữ liệu khảo sát 200 doanh nghiệp đang hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh phân bổ theo 5 nhóm ngành gồm công nghiệp chế biến, logistics, thương mại điện tử, dịch vụ tài chính và quản lý chất thải – năng lượng. Dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả nhằm nhận diện thực trạng và các rào cản, làm cơ sở đề xuất chính sách.

2. Cơ sở lý luận

2.1. Khái niệm chuyển đổi số và kinh tế xanh

Chuyển đổi số là quá trình doanh nghiệp sử dụng công nghệ số để tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức tổ chức, vận hành, ra quyết định và tạo lập giá trị. Theo Vial (2019)5, chuyển đổi số không chỉ là việc đưa công nghệ vào một số khâu riêng lẻ, mà là quá trình công nghệ số tạo ra sức ép thay đổi, buộc tổ chức phải điều chỉnh chiến lược, cấu trúc và cách thức tạo ra giá trị. Verhoef và cộng sự (2021)6 cho rằng chuyển đổi số diễn ra theo các cấp độ khác nhau, từ số hóa dữ liệu, số hóa quy trình đến chuyển đổi mô hình kinh doanh. Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tiễn đối với doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế: việc sử dụng hóa đơn điện tử, phần mềm kế toán hay bán hàng trực tuyến chỉ thuộc cấp độ thứ nhất hoặc thứ hai, trong khi tích hợp dữ liệu vận hành, tự động hóa quy trình và kết nối chuỗi cung ứng mới thuộc cấp độ thứ ba, có khả năng tác động đến hiệu quả tài nguyên và kết quả môi trường.

Kinh tế xanh được Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc định nghĩa là mô hình kinh tế giúp nâng cao phúc lợi con người và công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể rủi ro môi trường và tình trạng khan hiếm sinh thái (UNEP, 2011)7, với 3 thuộc tính cơ bản: phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bao trùm xã hội. Trong chính sách Việt Nam, kinh tế xanh được triển khai dưới hình thức tăng trưởng xanh với 4 mục tiêu trọng tâm: giảm cường độ phát thải khí nhà kính, xanh hóa các ngành kinh tế, xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Ở cấp độ doanh nghiệp, phát triển kinh tế xanh được vận hành hóa thành mức độ doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng, giảm lãng phí nguyên vật liệu, kiểm soát chất thải, truy xuất nguồn gốc, cải thiện hiệu quả logistics và đáp ứng các yêu cầu môi trường trong chuỗi cung ứng.

2.2. Khung lý thuyết phân tích

Nghiên cứu được xây dựng trên ba nền tảng lý thuyết có liên hệ trực tiếp với mối quan hệ giữa chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh.

Thứ nhất, lý thuyết chuyển đổi kép. Cách tiếp cận chuyển đổi kép nhấn mạnh rằng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số cần được định hướng theo hướng bổ trợ: công nghệ số có thể hỗ trợ đo lường, phân tích và tối ưu hóa, trong khi mục tiêu xanh định hướng công nghệ nhằm đạt được các kết quả bền vững. George và cộng sự (2021)8 bổ sung góc nhìn vi mô, cho thấy đổi mới số có thể giúp doanh nghiệp giải quyết các thách thức phát triển bền vững thông qua việc tối ưu hóa nguồn lực, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, nâng cao phối hợp trong chuỗi cung ứng và minh bạch hóa dữ liệu môi trường.

Thứ hai, lý thuyết hệ thống thông tin phục vụ cho phát triển bền vững về môi trường. Melville (2010)9 cho rằng hệ thống thông tin có thể góp phần giải quyết các vấn đề môi trường thông qua việc cung cấp thông tin, thay đổi nhận thức, hỗ trợ ra quyết định và tái cấu trúc quy trình vận hành. Theo đó, công nghệ số không chỉ là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị mà còn là phương tiện giúp doanh nghiệp phát hiện lãng phí, kiểm soát tiêu thụ tài nguyên, quản lý chất thải, minh bạch hóa dữ liệu môi trường và cải thiện báo cáo phát triển bền vững.

Thứ ba, lý thuyết năng lực động. Theo Teece (2007)10, năng lực động thể hiện khả năng của doanh nghiệp nhận diện cơ hội và thách thức, phân bổ nguồn lực để nắm bắt cơ hội, đồng thời tái cấu hình tài sản và quy trình nhằm thích ứng với môi trường thay đổi. Trong bối cảnh chuyển đổi kép, doanh nghiệp không chỉ cần đầu tư phần mềm hoặc thiết bị công nghệ, mà còn phải nhận diện được áp lực xanh từ khách hàng, nhà cung ứng, cơ quan quản lý và tổ chức tài chính; lựa chọn công nghệ phù hợp với nguồn lực hiện có; đồng thời điều chỉnh quy trình sản xuất – kinh doanh để tạo ra kết quả xanh cụ thể. Vì vậy, tác động của chuyển đổi số đến kinh tế xanh phụ thuộc không chỉ vào mức độ sử dụng công nghệ, mà còn vào năng lực quản trị, chất lượng dữ liệu, nhân lực số và mức độ tích hợp công nghệ vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Đặc điểm mẫu khảo sát

Mẫu khảo sát gồm 200 doanh nghiệp đang hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh phân bổ đều theo 5 nhóm ngành (mỗi nhóm 40 doanh nghiệp, chiếm 20%). Về quy mô lao động, 70% doanh nghiệp có dưới 50 lao động (dưới 10 lao động chiếm 24%, từ 10 đến 50 lao động chiếm 46%); nhóm từ 51 đến 200 lao động chiếm 30%. Về thời gian hoạt động, 32% doanh nghiệp hoạt động dưới 5 năm, 41% từ 5 đến 10 năm và 27% trên 10 năm (Bảng 1). Cơ cấu mẫu phù hợp với mục tiêu mô tả các biểu hiện và rào cản chuyển đổi kép ở các nhóm ngành được lựa chọn; việc suy rộng cho toàn bộ doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh cần được cân nhắc theo phương pháp chọn mẫu thực tế.

Bảng 1. Đặc điểm mẫu khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh



Tiêu chí
Phân nhómTần suấtTỷ lệ (%)
Ngành nghềCông nghiệp chế biến4020,0
Logistics4020,0
Thương mại điện tử4020,0
Dịch vụ tài chính4020,0
Chất thải – năng lượng4020,0
Quy mô lao độngDưới 10 người4824,0
Từ 10 đến 50 người9246,0
Từ 51 đến 200 người6030,0
Thời gian hoạt độngDưới 5 năm6432,0
Từ 5 đến 10 năm8241,0
Trên 10 năm5427,0
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả.

3.2. Mức độ ứng dụng công nghệ số: đã hiện diện nhưng chưa đạt ngưỡng tích hợp

Hình 1 cho thấy mức độ ứng dụng công nghệ số của doanh nghiệp khảo sát còn tập trung ở các cấp độ ban đầu và cấp độ trung gian. Có 12% doanh nghiệp chưa ứng dụng công nghệ số và 35% mới ứng dụng ở mức cơ bản; như vậy, 47% doanh nghiệp vẫn chủ yếu tiếp cận công nghệ thông qua các ứng dụng đơn lẻ như hóa đơn điện tử, phần mềm kế toán, bán hàng trực tuyến hoặc quản lý khách hàng. Nhóm ứng dụng ở mức trung bình chiếm 35%, trong khi chỉ 18% đạt mức cao và tích hợp. Tỷ lệ tích hợp còn thấp, hàm ý rằng nền tảng dữ liệu phục vụ theo dõi tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, vận chuyển, chất thải hoặc phát thải chưa được phổ biến rộng rãi.

Kết quả này cho thấy, điểm nghẽn trọng tâm không còn chỉ là khả năng tiếp cận công nghệ mà là khả năng tích hợp công nghệ vào hoạt động cốt lõi và gắn dữ liệu vận hành với các chỉ tiêu xanh. Nói cách khác, doanh nghiệp có thể đã số hóa một số giao dịch hoặc chức năng quản trị, nhưng chưa nhất thiết đã hình thành năng lực quản trị xanh dựa trên dữ liệu.

Hình 1. Mức độ ứng dụng công nghệ số của doanh nghiệp được khảo sát

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả.

3.3. Nhận thức và hành động hướng tới kinh tế xanh: khoảng cách giữa “biết” và “làm”

Hình 2 cho thấy nhận thức và hành động hướng tới kinh tế xanh của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh đã có chuyển biến, nhưng mức độ chưa đồng đều. Cụ thể, nhóm doanh nghiệp ở mức trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 42%. Đây là nhóm đã có nhận thức nhất định về tiết kiệm năng lượng, giảm lãng phí, phân loại chất thải, tiêu chuẩn môi trường hoặc yêu cầu xanh hóa chuỗi cung ứng, nhưng chưa chuyển hóa đầy đủ thành mục tiêu, ngân sách, hệ thống đo lường và quy trình quản trị cụ thể.

Nhóm doanh nghiệp có nhận thức và hành động ở mức cao và rất cao chiếm 26%, phản ánh một bộ phận doanh nghiệp đã từng bước đưa các yêu cầu xanh vào hoạt động sản xuất – kinh doanh. Ngược lại, 32% doanh nghiệp vẫn ở mức rất thấp và thấp, phản ánh sự phân hóa đáng kể về nhận thức và năng lực triển khai xanh giữa các doanh nghiệp. Như vậy, thách thức không chỉ là nâng cao nhận thức mà còn là giúp doanh nghiệp chuyển nhận thức thành hành động có thể đo lường và duy trì trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. Những chênh lệch này phản ánh rằng nhiều doanh nghiệp đã nhận thấy yêu cầu xanh hóa nhưng vẫn thiếu công cụ số, dữ liệu, nhân lực và nguồn lực tài chính để triển khai một cách có hệ thống. Đây là nguyên nhân khiến hành động xanh ở nhiều doanh nghiệp mới dừng lại ở các biện pháp đơn lẻ, chưa hình thành hệ thống quản trị xanh dựa trên dữ liệu.

Hình 2. Nhận thức và hành động hướng tới kinh tế xanh

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả.

3.4. Rào cản chuyển đổi kép: chi phí, nhân lực và dữ liệu là ba nút thắt cấu trúc

Hình 3 cho thấy, 3 rào cản lớn nhất đối với chuyển đổi số gắn với mục tiêu xanh của doanh nghiệp được khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh gồm: chi phí đầu tư công nghệ cao (35%), thiếu nhân lực chất lượng cao (25%) và khó khăn về dữ liệu và chuẩn hóa (18%). Tổng cộng, ba yếu tố này chiếm 78% số lựa chọn, phản ánh những điểm nghẽn chủ yếu trong quá trình chuyển đổi kép. Chi phí đầu tư cao khiến doanh nghiệp khó triển khai các giải pháp như thiết bị tiết kiệm năng lượng, phần mềm quản trị và hệ thống đo lường dữ liệu xanh. Thiếu nhân lực làm hạn chế khả năng vận hành công nghệ và chuyển dữ liệu thành quyết định quản trị. Trong khi đó, dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu chuẩn hóa khiến doanh nghiệp khó theo dõi tiêu thụ tài nguyên, chất thải, vận chuyển và phát thải, từ đó hạn chế khả năng chứng minh kết quả xanh và tiếp cận tài chính xanh.

Hai rào cản còn lại là chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ (12%) và văn hóa tổ chức ngại thay đổi (10%). Kết quả cho thấy, chuyển đổi kép không chỉ đòi hỏi đầu tư công nghệ mà còn cần sự đồng bộ về nhân lực, dữ liệu và cơ chế hỗ trợ để công nghệ số thực sự góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh.

Hình 3. Các rào cản chính trong chuyển đổi kép: số – xanh

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả.

3.5. Thảo luận

Một, dưới góc độ chuyển đổi kép, kết quả khảo sát cho thấy, chuyển đổi số và phát triển xanh tại các doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh chưa được triển khai đồng bộ. Chỉ 18% doanh nghiệp đạt mức ứng dụng công nghệ số cao và tích hợp, trong khi 47% chưa ứng dụng hoặc mới ứng dụng ở mức cơ bản. Phần lớn doanh nghiệp đã tiếp cận công nghệ trong kế toán, bán hàng, quản lý đơn hàng và truyền thông trực tuyến, nhưng việc ứng dụng vào quản lý năng lượng, nguyên vật liệu, vận chuyển, chất thải và phát thải vẫn còn hạn chế. Vì vậy, số hóa hiện chủ yếu hỗ trợ hiệu quả vận hành, chưa tạo nền tảng vững chắc cho kết quả xanh.

Hai, dưới góc độ hệ thống thông tin phục vụ bền vững về môi trường, dữ liệu là nền tảng để doanh nghiệp theo dõi và chứng minh các kết quả xanh. Khó khăn về dữ liệu và chuẩn hóa chiếm 18% trong các lựa chọn, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp đạt mức tích hợp số cao cũng chỉ ở mức 18%. Khi dữ liệu về năng lượng, nguyên vật liệu, chất thải, vận chuyển và phát thải chưa được ghi nhận đầy đủ, doanh nghiệp khó đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên, lập báo cáo bền vững hoặc chứng minh kết quả xanh với ngân hàng, khách hàng và cơ quan quản lý. Hành động xanh vì thế dễ dừng lại ở các giải pháp riêng lẻ, thiếu tính hệ thống.

Ba, dưới góc độ năng lực động, doanh nghiệp đã bước đầu nhận diện yêu cầu xanh, nhưng năng lực huy động nguồn lực để triển khai còn hạn chế. Sự chênh lệch giữa nhận thức và hành động xanh cho thấy doanh nghiệp có quan tâm đến yêu cầu xanh hóa, nhưng chưa có đủ công cụ, nhân lực, dữ liệu và nguồn vốn để triển khai một cách hệ thống. Ba rào cản về chi phí, nhân lực và dữ liệu chiếm 78% trong các lựa chọn, cho thấy các chính sách hỗ trợ cần kết hợp tài chính, đào tạo và chuẩn hóa dữ liệu thay vì xử lý từng vấn đề riêng lẻ.

Từ các kết quả trên, có thể nhận diện những cản trở trong quá trình chuyển đổi số gắn với phát triển kinh tế xanh tại doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh. Chi phí đầu tư cao khiến doanh nghiệp chậm triển khai các công nghệ có khả năng tạo tác động xanh. Thiếu nhân lực làm giảm khả năng vận hành và khai thác công nghệ. Thiếu dữ liệu và thiếu chuẩn hóa khiến kết quả tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải hoặc giảm chất thải khó đo lường và chứng minh. Khi chưa chứng minh được kết quả xanh, doanh nghiệp sẽ khó tiếp cận tài chính xanh hoặc các chương trình hỗ trợ. Những cản trở này giải thích vì sao nhận thức xanh đã hình thành nhưng hành động xanh chưa trở thành năng lực phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp được khảo sát.

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng công nghệ nhiều hơn không đồng nghĩa với việc đạt được kết quả xanh tốt hơn. Giá trị của chuyển đổi số phụ thuộc vào việc công nghệ được sử dụng cho mục tiêu nào và có tạo ra dữ liệu phục vụ quản trị xanh hay không. Đối với TP. Theo Hồ Chí Minh, chính sách chuyển đổi số cần gắn với mục tiêu tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải, tối ưu hóa logistics và nâng cao tính minh bạch của dữ liệu môi trường. Đồng thời, doanh nghiệp cần được hỗ trợ đồng bộ về tài chính, nhân lực và dữ liệu để chuyển đổi số thực sự trở thành nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế xanh.

3.6. Hàm ý chính sách

Trước hết, để giảm áp lực chi phí đầu tư công nghệ, TP. Hồ Chí Minh cần có cơ chế hỗ trợ tài chính phù hợp để các doanh nghiệp triển khai giải pháp số gắn với mục tiêu phát triển xanh. Nguồn hỗ trợ nên ưu tiên cho những ứng dụng có thể tạo ra kết quả cụ thể như tiết kiệm năng lượng, giảm hao hụt nguyên vật liệu, giảm chất thải hoặc tối ưu hóa vận chuyển. Như vậy, chính sách hỗ trợ không chỉ giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mà còn hướng đầu tư vào hiệu quả xanh một cách thực chất.

Bên cạnh nguồn vốn, chất lượng nhân lực là điều kiện quyết định hiệu quả của chuyển đổi kép. Thành phố cần đẩy mạnh các chương trình đào tạo thực hành, giúp doanh nghiệp sử dụng dữ liệu để theo dõi năng lượng, nguyên vật liệu, chất thải và hiệu quả logistics. Khi nhân sự có đủ năng lực vận hành và phân tích dữ liệu, công nghệ mới thực sự trở thành một công cụ hỗ trợ quản trị xanh.

Đối với những khó khăn về dữ liệu và chuẩn hóa, TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng bộ chỉ tiêu xanh tối thiểu phù hợp với từng nhóm ngành. Các chỉ tiêu này nên tập trung vào những nội dung thiết yếu như tiêu thụ năng lượng, sử dụng nguyên vật liệu, phát sinh chất thải, nhiên liệu vận chuyển và khả năng tái chế. Việc chuẩn hóa dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp đo lường kết quả xanh rõ ràng hơn, đồng thời thuận lợi hơn trong việc báo cáo và tiếp cận các nguồn tài chính xanh.

Ngoài ra, các chính sách về chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh cần được triển khai đồng bộ, thay vì tách rời như hai chương trình riêng biệt. Thành phố có thể xây dựng cơ chế tư vấn và hỗ trợ tập trung, giúp doanh nghiệp đồng thời tiếp cận các giải pháp về công nghệ, tài chính, dữ liệu và môi trường. Cách tiếp cận này sẽ giảm bớt khó khăn trong việc thực hiện chính sách và nâng cao hiệu quả của chính sách.

Thành phố nên lựa chọn một số mô hình chuyển đổi kép tiêu biểu để triển khai thí điểm và nhân rộng theo từng ngành. Những mô hình như quản lý năng lượng trong sản xuất, tối ưu tuyến đường trong logistics, sử dụng bao bì xanh trong thương mại điện tử hoặc số hóa quản lý chất thải sẽ giúp doanh nghiệp nhận thấy những lợi ích cụ thể từ quá trình chuyển đổi. Từ đó, chuyển đổi số không chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ mà còn trở thành nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế xanh tại TP. Hồ Chí Minh.

4. Kết luận

Nghiên cứu cho thấy chuyển đổi số đã hiện diện trong các doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh nhưng chưa đạt mức tích hợp đủ rộng để hỗ trợ quản trị xanh dựa trên dữ liệu: 47% doanh nghiệp chưa ứng dụng hoặc mới ứng dụng công nghệ số ở mức cơ bản, trong khi chỉ 18% đạt mức cao và tích hợp. Đồng thời, 42% doanh nghiệp có nhận thức và hành động xanh ở mức trung bình, cho thấy khoảng cách giữa việc quan tâm đến xanh hóa và năng lực triển khai thực hiện.

Những rào cản gồm chi phí đầu tư công nghệ (35%), thiếu nhân lực chất lượng cao (25%) và khó khăn về dữ liệu và chuẩn hóa (18%), chiếm tổng cộng 78% trong các lựa chọn. Vì vậy, trọng tâm chính sách cho TP. Hồ Chí Minh không phải là thúc đẩy số hóa đơn lẻ mà là hỗ trợ chuyển đổi kép thông qua tài chính gắn với kết quả xanh, đào tạo nhân lực, chuẩn hóa dữ liệu tối thiểu, phối hợp chính sách số – xanh và thí điểm theo ngành. Do nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả, kết quả là cơ sở để nhận diện thực trạng và định hướng chính sách; việc khẳng định mức độ ảnh hưởng cần được kiểm định trong nghiên cứu tiếp theo.

Chú thích:
1, 6. Verhoef, P. C., Broekhuizen, T., Bart, Y., Bhattacharya, A., Dong, J. Q., Fabian, N., & Haenlein, M (2021). Digital transformation: A multidisciplinary reflection and research agenda. Journal of Business Research, 122, 889-901.
2, 7. United Nations Environment Program (2011). Towards a Green Economy Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication, PART II: Investing in energy and resource efficiency, Waste. https://www.unep.org/resources/report/towards-green-economy-pathways-sustainable-development-and-poverty-eradication.
3, 8. George, G., Merrill, R. K., & Schillebeeckx, S. J. (2021). Digital sustainability and entrepreneurship: How digital innovations are helping tackle climate change and sustainable development. Entrepreneurship theory and practice, 45 (5), 999-1027.
4. World Bank (2021). Chuyển đổi Chính phủ số tại Việt Nam: bài học toàn cầu và khuyến nghị chính (Tiếng Việt). Washington, D.C. World Bank Group.
5. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda. The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118–144.
9. Melville, N. P. (2010). Information systems innovation for environmental sustainability. MIS Quarterly, 34(1), 1–21.
10. Teece, D.J. (2007), Explicating dynamic capabilities: the nature and microfoundations of (sustainable) enterprise performance. Strategic Management Journal, 28: 1319-1350.
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2025). TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp 30-40% GRDP vào năm 2030. https://hochiminhcity.gov.vn/vi/w/tpho-chi-minh-at-muc-tieu-kinh-te-so-ong-gop-30-40-grdp-vao-nam-2030
2. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.