Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế và bài học quản trị cho doanh nghiệp hiện nay

Ho Chi Minh’s thought in economic management and governance lessons for contemporary enterprises

TS. Trịnh Quang Dũng
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế dưới góc nhìn khoa học quản trị hiện đại. Nội dung tập trung phân tích mô hình hệ thống đồng bộ giữa cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và cải tiến tổ chức nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và đời sống Nhân dân. Trên cơ sở đó, làm rõ một số nội dung có giá trị lý luận và thực tiễn trong tư tưởng quản lý kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như: cơ chế quản lý dân chủ trong xí nghiệp; lộ trình cải cách nông nghiệp theo hướng tiệm tiến; phương thức tạo động lực gắn với hiệu quả lao động; cơ chế kiểm soát rủi ro thông qua phát huy vai trò giám sát của quần chúng. Từ việc đối chiếu với các nguyên lý quản trị hiện đại, bài viết rút ra một số bài học đối với doanh nghiệp và tổ chức hiện nay về quản lý sự thay đổi, xây dựng lộ trình cải cách phù hợp, quản trị dựa trên kết quả và phát huy cơ chế quản trị dân chủ.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; quản lý kinh tế; quản trị, doanh nghiệp.

Abstract: This article examines Ho Chi Minh’s thought on economic management from the perspective of modern management science. The study focuses on analysing the integrated model of management reform, technical innovation and organisational reform aimed at improving productivity, production efficiency and people’s living standards. The article clarifies several theoretical and practical values in Ho Chi Minh’s thought on economic management, including democratic management mechanisms in enterprises, the incremental roadmap for agricultural reform, performance-based motivation methods and risk control through public supervision. By comparing these viewpoints with modern management principles, the article proposes several lessons for contemporary enterprises and organisations regarding change management, incremental reform, results-based governance and democratic governance mechanisms.

Keywords: Ho Chi Minh’s thought; economic management; governance; enterprises.

1. Đặt vấn đề

Trong khoa học quản trị hiện đại, việc dung hòa giữa hiệu quả tổ chức và vai trò của con người luôn là vấn đề có ý nghĩa trung tâm. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành hệ thống quan điểm khá toàn diện về quản lý kinh tế, trong đó, nhấn mạnh vai trò của cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và cải tiến tổ chức đối với sự phát triển sản xuất. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế thể hiện tư duy hệ thống, đề cao vai trò của người lao động, đồng thời gắn hiệu quả sản xuất với mục tiêu nâng cao đời sống Nhân dân. Nhiều luận điểm của Người về quản lý dân chủ, tạo động lực lao động, kiểm soát rủi ro hay quản lý sự thay đổi vẫn có giá trị tham khảo đối với hoạt động quản trị doanh nghiệp hiện nay.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế dưới góc nhìn quản trị hiện đại có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.

2. Triết lý quản lý kinh tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về tính tất yếu cải tiến kỹ thuật trong tăng gia sản xuất, những nguyên tắc, biện pháp quản lý kinh tế… trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là kết quả của sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin về kinh tế vào tình hình thực tiễn xây dựng nền kinh tế ở Việt Nam, có sự kế thừa những truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản quý giá của Đảng và Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, hoàn thành mục tiêu dân giàu, nước mạnh, quá độ thành công lên chủ nghĩa xã hội.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cải tiến chế độ quản lý kinh tế là một tư tưởng cốt lõi, mang tính chiến lược. Người quan niệm chế độ quản lý kinh tế về thực chất là tổng thể các biện pháp cải tạo và xây dựng cơ chế, phương thức điều hành tại các đơn vị sản xuất cơ sở (nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã), với mục tiêu kép: kích thích năng suất lao động và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh phân định nội hàm quản lý kinh tế thành các phạm vi cụ thể, bao gồm: quản lý đơn vị sản xuất (xí nghiệp, hợp tác xã), tài chính, cơ sở vật chất, nhân lực và phân phối thành quả lao động. Luận điểm này được minh chứng sinh động trong bài Nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An năm 1960, Người nhấn mạnh: “Cán bộ phải dân chủ, phải khéo léo quản lý (quản lý lao động, quản lý tài vụ, quản lý kỹ thuật)”1.

2.1.Mục đích quản lý kinh tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cải tiến quản lý kinh tế là động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động và thực hành tiết kiệm. Theo Người, trong điều kiện các yếu tố đầu vào của sản xuất không thay đổi, hiệu quả sản xuất tăng lên chủ yếu bắt nguồn từ sự thay đổi trong cơ chế quản lý. Mục tiêu cao nhất của quản lý kinh tế là phục vụ con người, bảo đảm đời sống vật chất cho Nhân dân. Người khẳng định nhiệm vụ của nền kinh tế là làm cho “mọi người, mọi gia đình, mọi làng, mỗi huyện, mỗi tỉnh cho đến cả nước đủ ăn, đủ mặc, nhân dân và bộ đội đủ ăn đủ mặc để kháng chiến lâu dài”2. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Người đặt ra phương châm sản xuất “nhanh – nhiều – tốt – rẻ”; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu cải tiến cơ chế điều hành nhằm phát huy hiệu quả của sản xuất.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vai trò của dân chủ trong quản lý kinh tế. Theo Người, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thành công khi phát huy được vai trò làm chủ của Nhân dân và người lao động. Người cho rằng: “tư tưởng thông suốt thì mọi việc đều làm tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”3. Vì vậy, quản lý kinh tế không chỉ là vấn đề kỹ thuật điều hành mà còn là quá trình tạo sự đồng thuận và phát huy tính chủ động của quần chúng.

2.2. Mô hình quản lý kinh tế hệ thống đồng bộ

Một trong những điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế là quan điểm phát triển đồng bộ giữa cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và cải tiến tổ chức. Người ví ba yếu tố này như “cái kiềng ba chân”, nếu thiếu một yếu tố thì hệ thống sản xuất không thể vận hành hiệu quả4. Theo đó, cải tiến quản lý là đổi mới phương thức điều hành nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động; cải tiến kỹ thuật là ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất; còn cải tiến tổ chức là sắp xếp lại bộ máy, quy trình và phân công lao động một cách hợp lý.

Ba yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu chỉ chú trọng đổi mới kỹ thuật mà xem nhẹ quản lý hoặc tổ chức bộ máy thì hoạt động sản xuất sẽ thiếu đồng bộ và khó đạt hiệu quả bền vững. Trong đó, quản lý giữ vai trò định hướng và tạo động lực cho hai yếu tố còn lại phát huy hiệu quả.

3. Giá trị sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế

3.1. Quản lý dân chủ trong các xí nghiệp

Trong lĩnh vực công nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất mô hình quản lý theo hướng phát huy quyền làm chủ của người lao động. Người cho rằng, cán bộ quản lý phải trực tiếp tham gia lao động sản xuất, đồng thời, công nhân cần được tham gia vào quá trình quản lý xí nghiệp. Trong bài viết Cải tiến chế độ quản lý xí nghiệp quốc doanh năm 1959, Người chỉ rõ: “việc cán bộ xa rời thực tiễn sản xuất dễ dẫn đến bệnh quan liêu, mệnh lệnh; trong khi, công nhân không được tham gia quản lý sẽ thiếu tinh thần trách nhiệm và khó phát huy sáng kiến”5.

Đối với đội ngũ cán bộ quản lý, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải trực tiếp tham gia lao động nhằm khắc phục bệnh quan liêu và nâng cao hiệu quả điều hành. Theo Người, nhà quản lý không thể chỉ điều hành thông qua các mệnh lệnh hành chính mà cần gắn với thực tiễn sản xuất để hiểu quá trình lao động và những khó khăn của công nhân. Người yêu cầu:“Cán bộ trong ban lãnh đạo mỗi tuần phải cùng công nhân lao động một ngày hoặc một ngày rưỡi…”6. Dưới góc độ quản trị hiện đại, quan điểm này có nhiều điểm tương đồng với phương pháp quản trị hiện trường trong quản trị tinh gọn, nhấn mạnh vai trò của nhà quản lý trong việc trực tiếp quan sát, phát hiện các hạn chế và điều chỉnh quy trình sản xuất.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò tham gia quản lý của công nhân. Người cho rằng, các xí nghiệp cần xây dựng cơ chế để công nhân tham gia quản lý thông qua tổ chức các tổ sản xuất, bầu tổ trưởng và phân công trách nhiệm cụ thể đối với từng lĩnh vực như năng suất, chất lượng hay máy móc thiết bị. Người nhấn mạnh: “Công nhân cũng phải tham gia vào công tác quản lý…”7. Quan điểm này cho thấy, tư duy quản lý dân chủ, phát huy tính chủ động và trách nhiệm của người lao động trong tổ chức.

Việc kết hợp giữa sự tham gia của cán bộ quản lý và công nhân trong quá trình điều hành sản xuất đã góp phần hình thành mối quan hệ hợp tác, chia sẻ trách nhiệm giữa người quản lý và người lao động. Đây là một nội dung có giá trị thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế, đồng thời, thể hiện nhiều điểm tương đồng với xu hướng quản trị hiện đại đề cao sự tham gia và tính tự chủ của người lao động trong tổ chức.

3.2. Quản lý sự thay đổi trong các tổ chức sản xuất nông nghiệp

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất quan điểm cải cách theo hướng tiệm tiến, phù hợp với đặc điểm của giai cấp nông dân và điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Trong bối cảnh nhiều quốc gia tiến hành tập thể hóa nông nghiệp một cách nóng vội, mang tính áp đặt, Người cho rằng, quá trình chuyển đổi trong nông nghiệp cần được thực hiện từng bước, có lộ trình phù hợp và dựa trên nguyên tắc tự nguyện của người dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, con đường phát triển của nông dân cần trải qua các bước từ tổ đổi công, hợp tác xã cấp thấp đến hợp tác xã cấp cao và nông trường quốc doanh. Người nhấn mạnh: “Cần phát triển cho nhiều tổ đổi công từng vụ, từng việc tiến đến tổ chức tổ đổi công thường xuyên, đổi công mùa này sang mùa khác, tiến tới làm hợp tác xã”8. Lộ trình này giúp người nông dân từng bước thích nghi với phương thức sản xuất tập thể, hạn chế những tác động tiêu cực về tâm lý và lợi ích trong quá trình chuyển đổi.

Một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu không được cưỡng ép trong quá trình tổ chức lại sản xuất nông nghiệp. Theo Người, quản lý sự thay đổi phải dựa trên sự thuyết phục và hiệu quả thực tế, thay vì sử dụng mệnh lệnh hành chính. Người căn dặn: “Không được cưỡng ép ai hết; Làm sao cho những gia đình trong tổ đổi công đều có lợi”9. Điều đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng lợi ích thiết thực của người dân như cơ sở để tạo sự đồng thuận đối với các mô hình sản xuất mới.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn người nông dân tự giác tham gia vào các hình thức sản xuất tập thể thì cần chứng minh được hiệu quả kinh tế của mô hình mới. Khi nhận thấy lợi ích trong sản xuất, tiết kiệm sức lao động và mở rộng quy mô canh tác, người dân sẽ chủ động thay đổi nhận thức và tham gia vào quá trình cải cách. Quan điểm này có nhiều điểm tương đồng với lý thuyết quản lý sự thay đổi trong quản trị hiện đại, trong đó, hiệu quả thực tiễn và lợi ích của người lao động được xem là yếu tố quan trọng quyết định mức độ chấp nhận đối với sự thay đổi trong tổ chức.

3.3. Sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tạo động lực trong quản lý

Trong quản lý, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc tạo động lực cho người lao động không chỉ là một kỹ thuật quản trị mà là điều kiện mang tính quyết định đối với hiệu quả của tổ chức. Người cho rằng, mọi sự thay đổi nếu chỉ áp đặt từ trên xuống mà không tạo được động lực tự thân sẽ dễ dẫn đến tâm lý phản kháng, làm giảm hiệu quả lao động. Do đó, quản lý thực chất là quá trình tác động vào nhận thức, từ đó khơi dậy tinh thần chủ động, tích cực và sáng tạo của người lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc gắn lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể như một nguyên tắc cơ bản trong tạo động lực. Theo Người, động lực lao động chỉ được duy trì bền vững khi người lao động nhận thấy mối quan hệ trực tiếp giữa kết quả lao động và lợi ích mà họ được hưởng. Trên cơ sở đó, Người đề xuất hai phương diện chủ yếu trong tạo động lực: cơ chế phân phối và cơ chế gắn trách nhiệm với hiệu quả công việc.

Về cơ chế phân phối, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết phê phán chủ nghĩa bình quân trong phân phối thu nhập. Người khẳng định cần thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động: “Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít…”10. Theo Người, việc cào bằng thu nhập sẽ làm triệt tiêu động lực phấn đấu, kìm hãm sáng tạo và giảm hiệu quả chung của tổ chức. Quan điểm này cho thấy, tư duy quản lý tiến bộ, gần gũi với các nguyên tắc quản trị hiệu suất hiện đại, như: KPI hay OKR, trong đó, kết quả và mức độ đóng góp là căn cứ chính để đánh giá và đãi ngộ. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất và coi đó là thước đo quan trọng của công tác quản lý. Người yêu cầu các xí nghiệp phải bảo đảm nguyên tắc hoạt động có hiệu quả, gắn với mục tiêu chung của nền kinh tế: “Quản lý tốt các xí nghiệp, phải bảo đảm kinh doanh có lãi cho nước nhà”11. Theo Người, hiệu quả không chỉ mang ý nghĩa kinh tế thuần túy mà còn phản ánh năng lực tổ chức, điều hành và mức độ phát huy động lực của người lao động trong hệ thống.

Từ những quan điểm trên có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành tư duy quản trị dựa trên động lực nội sinh của người lao động. Khi lợi ích cá nhân được bảo đảm hài hòa với lợi ích tập thể và hiệu quả lao động được lượng hóa rõ ràng, người lao động sẽ chuyển từ trạng thái làm việc thụ động sang tinh thần chủ động, có trách nhiệm và gắn bó hơn với tổ chức. Đây là một trong những giá trị có ý nghĩa tham khảo quan trọng đối với quản trị doanh nghiệp hiện đại.

3.4. Sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kiểm soát rủi ro

Trong quá trình quản lý, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng luôn tồn tại những “trở lực” và nguy cơ tiêu cực ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức. Để kiểm soát các rủi ro này, Người đề xuất một cơ chế quản lý đặc biệt, trong đó, nhấn mạnh trách nhiệm giải trình trước Nhân dân và phát huy vai trò giám sát của quần chúng. Đây là cách tiếp cận mang tính hệ thống, kết hợp giữa kiểm soát thể chế và kiểm soát xã hội trong quản lý.

Một là, nhận diện chính xác nguồn gốc của rủi ro.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều kiện tiên quyết để khắc phục sai lầm, yếu kém trong quản lý là phải nhận diện đúng bản chất và nguồn gốc của các vấn đề phát sinh. Người nhấn mạnh: “Muốn làm tròn nhiệm vụ (nhất là nhiệm vụ kinh tế tài chính) thì chúng ta phải chống những cái gì trở ngại ta”12. Trong tư tưởng của Người, ba nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với quản lý kinh tế là tham ô, quan liêu và lãng phí. Trong đó, quan liêu được hiểu là sự xa rời thực tiễn, làm việc hình thức, thiếu gắn bó với quần chúng; tham ô là hành vi chiếm đoạt tài sản công; còn lãng phí là sự sử dụng kém hiệu quả nguồn lực xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ nhân quả giữa ba hiện tượng này, trong đó, quan liêu được xem là nguồn gốc dẫn đến tham ô và lãng phí. Vì vậy, Người coi việc chống ba “giặc nội xâm” là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước và quản lý kinh tế.

Hai là, thực hành cơ chế giám sát từ dưới lên.

Một điểm sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực không dựa chủ yếu vào tầng nấc hành chính trung gian, mà dựa vào sự giám sát trực tiếp của quần chúng lao động. Theo Người, hiệu quả quản lý chỉ có thể được bảo đảm khi cán bộ và người lao động thường xuyên phê bình và tự phê bình lẫn nhau trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, sự tách rời giữa cán bộ quản lý và công nhân sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thông tin hai chiều, làm giảm hiệu quả điều hành và kiểm soát. Vì vậy, Người yêu cầu thiết lập cơ chế để công nhân có thể tham gia góp ý, phê bình cán bộ, đồng thời, cán bộ cũng phải lắng nghe và tiếp thu ý kiến từ thực tiễn sản xuất. Việc phê bình cần dựa trên tinh thần xây dựng, không mang tính quy chụp, nhằm mục tiêu cải tiến tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, việc đánh giá hiệu quả quản lý cần gắn với kết quả thực tiễn, như: tăng năng suất và thực hành tiết kiệm. Cơ chế giám sát từ dưới lên vì vậy không chỉ mang tính kiểm tra mà còn là công cụ thúc đẩy cải tiến liên tục trong tổ chức.

Ba là, cơ chế kiểm soát phải là một cuộc cải tạo tư tưởng và đạo đức.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiểm soát rủi ro trong quản lý không chỉ dựa vào các biện pháp hành chính hay pháp lý mà còn phải gắn với quá trình cải tạo tư tưởng và nâng cao đạo đức của đội ngũ cán bộ và người lao động. Người coi công tác phòng, chống tiêu cực trong quản lý kinh tế là một quá trình cải tạo chính trị và tư tưởng sâu rộng trong toàn xã hội. Trên cơ sở đó, Người nhấn mạnh yêu cầu rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ với các chuẩn mực “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”, đồng thời, đề cao trách nhiệm nêu gương và giải trình trước tập thể. Song song với đó, Người khuyến khích phát động các phong trào thi đua trong sản xuất nhằm khơi dậy tinh thần tích cực của quần chúng. Theo Người, thi đua là động lực quan trọng để thúc đẩy sáng kiến, nâng cao năng suất và tăng cường hiệu quả quản lý.

Các phong trào thi đua, như: “cần kiệm xây dựng hợp tác xã” trong nông nghiệp hay “nhanh – nhiều – tốt – rẻ” trong công nghiệp không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần tạo ra môi trường quản lý tích cực, nơi các cá nhân và tập thể cùng học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả hoạt động.

4. Bài học kinh nghiệm trong quản trị tổ chức hiện nay

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế cho thấy, tư duy của Người không chỉ giới hạn trong bối cảnh lịch sử cụ thể mà đã tiếp cận những nguyên lý cốt lõi của quản trị hiện đại, như: lấy con người làm trung tâm, tôn trọng quy luật tâm lý hành vi và coi lợi ích thực tiễn là động lực phát triển. Đây là cơ sở quan trọng để các tổ chức và doanh nghiệp vận dụng trong quá trình đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả quản trị trong bối cảnh biến động hiện nay.

Thứ nhất, bài học về quản lý sự thay đổi và triệt tiêu lực cản.

Trong quản trị tổ chức hiện đại, các quá trình thay đổi về công nghệ, cơ cấu hay văn hóa đều thường xuyên đối mặt với hiện tượng kháng cự thay đổi. Lực cản này không chỉ xuất phát từ môi trường bên ngoài mà chủ yếu hình thành từ nội tại tổ chức, bao gồm: thói quen vận hành cũ, tâm lý e ngại rủi ro, thiếu thông tin minh bạch và sự nghi ngờ về năng lực lãnh đạo trong quá khứ. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể rút ra bài học rằng, quản lý sự thay đổi không thể dựa trên áp đặt hành chính mà phải bắt đầu từ thay đổi nhận thức. Theo đó, quá trình chuyển đổi cần được triển khai theo lộ trình hợp lý gồm ba bước cơ bản:

(1) Truyền thông rõ ràng về lý do thay đổi, chỉ ra hạn chế và rủi ro của mô hình cũ;

(2) Tổ chức đào tạo, thảo luận và tham vấn người lao động, kết hợp triển khai thí điểm (pilot) để kiểm chứng hiệu quả thực tế;

(3) Khi đã có sự đồng thuận và nhận thức thống nhất, tiến hành chuẩn hóa quy trình và gắn với cơ chế đánh giá hiệu suất (KPI/OKR) để duy trì tính bền vững của thay đổi.

Thứ hai, xây dựng lộ trình cải cách tiệm tiến.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong tái cấu trúc tổ chức là việc áp dụng cải cách một cách nóng vội, thiếu tính đến khả năng thích ứng của con người và hệ thống. Tư tưởng Hồ Chí Minh về lộ trình phát triển tiệm tiến trong nông nghiệp, từ tổ đổi công đến hợp tác xã và các hình thức tổ chức cao hơn, gợi mở cách tiếp cận phù hợp trong quản trị hiện đại. Theo đó, thay vì triển khai đồng loạt trên toàn hệ thống, doanh nghiệp cần thiết kế lộ trình chuyển đổi theo hướng từng bước, từ quy mô nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Việc thí điểm tại một số bộ phận đóng vai trò, như: cơ chế “chạy thử”, giúp nhận diện sớm rủi ro, điều chỉnh quy trình và chứng minh hiệu quả của mô hình mới. Khi người lao động trực tiếp quan sát được lợi ích thực tế, mức độ chấp nhận thay đổi sẽ gia tăng, từ đó giảm thiểu xung đột và nâng cao hiệu quả triển khai trên toàn hệ thống.

Thứ ba, quản trị bằng thuyết phục và minh chứng kết quả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của sự thuyết phục và hiệu quả thực tiễn trong quản lý. Nhà quản lý không chỉ là người ban hành mệnh lệnh mà còn là người dẫn dắt, tạo niềm tin và truyền cảm hứng cho tập thể. Việc áp đặt mệnh lệnh hành chính một chiều dễ dẫn đến tâm lý đối phó, trong khi thuyết phục dựa trên kết quả thực tế sẽ tạo ra sự đồng thuận bền vững hơn. Trong quản trị hiện đại, cách tiếp cận này tương đồng với mô hình quản trị dựa trên chứng cứ (evidence-based management), trong đó quyết định quản lý được xây dựng dựa trên dữ liệu và kết quả đo lường thực tiễn. Việc sử dụng các chỉ số hiệu suất (KPIs/OKRs) hoặc các mô hình điển hình (case studies) giúp tăng tính minh bạch, giảm bất định và củng cố niềm tin của người lao động đối với tổ chức.

Thứ tư, cơ chế quản trị dân chủ và giải quyết bài toán lợi ích.

Trong lý thuyết quản trị hiện đại, hiệu quả của thay đổi tổ chức phụ thuộc lớn vào khả năng giải quyết câu hỏi “Tôi được lợi ích gì từ sự thay đổi này?” (WIIFM – What’s in it for me). Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, sự thay đổi chỉ có thể bền vững khi lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể được hài hòa một cách hợp lý. Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng cơ chế quản trị dân chủ thực chất, trong đó người lao động được tham gia vào quá trình thảo luận, phản biện và đóng góp ý kiến đối với các quyết định quan trọng. Khi người lao động chuyển từ vị thế “đối tượng bị quản lý” sang “chủ thể đồng kiến tạo”, mức độ cam kết đối với tổ chức sẽ gia tăng đáng kể. Sự kết hợp giữa minh bạch lợi ích kinh tế và cơ chế tham gia dân chủ chính là nền tảng quan trọng để xây dựng sự đồng thuận và nâng cao hiệu quả quản trị bền vững.

5. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế không chỉ mang ý nghĩa lịch sử gắn với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng mà còn thể hiện những giá trị nền tảng có tính bền vững trong khoa học quản trị hiện đại. Những quan điểm của Người phản ánh tư duy hệ thống, trong đó nhấn mạnh sự đồng bộ giữa tổ chức, con người và cơ chế vận hành; đồng thời, đề cao vai trò trung tâm của con người trong mọi hoạt động kinh tế – xã hội. Các luận điểm về quản lý dân chủ trong tổ chức sản xuất, lộ trình cải cách tiệm tiến, cơ chế phân phối theo hiệu quả lao động và phương thức kiểm soát rủi ro dựa vào giám sát xã hội cho thấy, tư duy quản lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tính dự báo cao và nhiều điểm tương đồng với các lý thuyết quản trị hiện đại. Những giá trị này không chỉ có ý nghĩa tham khảo về mặt lý luận mà còn mang lại gợi mở quan trọng cho thực tiễn quản trị tổ chức trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay. Trong bối cảnh nền kinh tế số và môi trường kinh doanh biến động mạnh, đặc biệt khi Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế càng có ý nghĩa thiết thực. Đây không chỉ là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản trị trong doanh nghiệp và tổ chức mà còn góp phần xây dựng văn hóa quản lý nhân văn, đề cao quyền làm chủ của người lao động và hướng tới phát triển bền vững, hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và tiến bộ xã hội.

Chú thích:
1, 4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 12. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 255, 258.
2, 12. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 296.  
3, 5, 6, 7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 590, 537, 537, 537.
8, 9. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 465.  
10. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 216.  
11. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 191.  
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2023). Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân
4. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/02/25/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-ket-hop-giua-kinh-te-voi-quoc-phong-trong-su-nghiep-bao-ve-to-quoc-viet-nam-xa-hoi-chu-nghia-hien-nay/