Digital transformation and the requirements for enhancing local governance capacity in Ho Chi Minh city
ThS. Châu Tiến Lộc
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức quản trị địa phương, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản trị của chính quyền theo hướng hiện đại và dựa trên dữ liệu. Trên cơ sở phân tích đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh, bài viết làm rõ tác động của chuyển đổi số đối với quản trị địa phương, đồng thời đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực quản trị địa phương trong bối cảnh xây dựng chính quyền số và đô thị thông minh.
Từ khóa: Quản trị địa phương; chuyển đổi số; năng lực quản trị; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: Digital transformation is reshaping local governance, requiring local authorities to enhance governance capacity toward a modern and data-driven approach. Based on the viewpoints, policies, and guidelines of the Party and the laws of the State, as well as the practical situation in Ho Chi Minh City, the article clarifies the impacts of digital transformation on local governance while proposing several policy implications for improving local governance capacity in the context of digital government development and smart urban governance.
Keywords: Local governance; digital transformation; digital government; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế phát triển tất yếu trong quản trị quốc gia và quản trị địa phương trên phạm vi toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng kết nối số đã làm thay đổi sâu sắc phương thức vận hành của bộ máy nhà nước, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện hoạt động quản lý công theo hướng hiện đại, minh bạch và thích ứng. Trong bối cảnh đó, năng lực quản trị địa phương không chỉ được nhìn nhận ở khả năng thực thi chính sách hay cung ứng dịch vụ công, mà còn thể hiện ở khả năng vận hành trên môi trường số, khai thác dữ liệu phục vụ điều hành và thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của xã hội số.
Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị xác định chuyển đổi số là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia¹. Tiếp đó, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số². Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định nhiệm vụ trọng tâm “tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”³.
Trong tiến trình đó, TP. Hồ Chí Minh với vai trò là đô thị đặc biệt, trung tâm kinh tế, tài chính và khoa học – công nghệ của cả nước đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực quản trị địa phương nhằm đáp ứng quá trình chuyển đổi số toàn diện. Với quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh và áp lực quản lý ngày càng gia tăng, thành phố không chỉ cần đổi mới công nghệ mà còn phải tái cấu trúc mô hình quản trị theo hướng quản trị số, quản trị thích ứng và quản trị dựa trên dữ liệu.
2. Thực trạng chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao năng lực quản trị địa phương ở TP. Hồ Chí Minh
2.1. Chuyển đổi số và thực tiễn quản trị địa phương ở TP. Hồ Chí Minh
Trong những năm gần đây, TP. Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đi đầu cả nước trong triển khai chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số và phát triển đô thị thông minh. Với vai trò là đô thị đặc biệt, trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học – công nghệ lớn của cả nước, Thành phố đã từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động quản lý nhà nước, cải cách hành chính và cung ứng dịch vụ công. Đặc biệt, từ khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo Kết luận số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ Chính trị, yêu cầu nâng cao năng lực quản trị địa phương gắn với chuyển đổi số càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh quy mô đô thị mở rộng và áp lực quản lý ngày càng lớn.
Thứ nhất, chuyển đổi số đã góp phần thúc đẩy cải cách hành chính và hoàn thiện nền tảng chính quyền số tại TP. Hồ Chí Minh.
Thành phố đã triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030 và Chương trình cải cách hành chính gắn với nâng cao Chỉ số cải cách hành chính giai đoạn 2020 – 2025. Công tác cải cách thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy và chế độ công vụ được triển khai tương đối đồng bộ. Một số chỉ số như PAR Index và SIPAS có sự cải thiện theo chiều hướng tích cực, phản ánh chất lượng phục vụ người dân và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính từng bước được nâng cao. Chính quyền điện tử và chính quyền số tiếp tục được triển khai phù hợp với thực tiễn quản lý của một đô thị lớn.
Kết quả triển khai Chương trình Chuyển đổi số và Đề án xây dựng đô thị thông minh đã giúp TP. Hồ Chí Minh liên tục nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về Chỉ số chuyển đổi số (DTI). Cụ thể, năm 2020 Thành phố xếp thứ 5; năm 2021 xếp thứ 3 và năm 2022 vươn lên vị trí thứ 2 cả nước. Đồng thời, Thành phố cũng được trao Giải thưởng ASOCIO năm 2023 ở hạng mục “Chính quyền số xuất sắc”. Theo báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử của Liên Hợp quốc, chỉ số dịch vụ trực tuyến địa phương (LOSI) của TP. Hồ Chí Minh cũng có sự cải thiện đáng kể, từ vị trí 86/146 năm 2020 lên vị trí 53/152 trong các địa phương được khảo sát trên thế giới4. Điều này cho thấy năng lực quản trị số của Thành phố đang từng bước được nâng cao theo hướng hiện đại và tiệm cận với các chuẩn mực quản trị đô thị thông minh quốc tế.
Bên cạnh đó, Thành phố tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm tạo điều kiện chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thúc đẩy chuyển đổi số. Nhiều chủ trương, chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phục vụ quản trị đô thị hiện đại. Thành phố cũng chú trọng xây dựng chính quyền điện tử và từng bước chuyển đổi sang mô hình chính quyền số phù hợp với yêu cầu quản lý đô thị thông minh.
Thứ hai, TP. Hồ Chí Minh đã từng bước hình thành hệ sinh thái hạ tầng số và nền tảng dữ liệu phục vụ quản trị địa phương.
Thành phố hiện có hệ thống khu công nghệ cao, các khu công nghiệp, Khu Công viên phần mềm Quang Trung và mạng lưới các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số. Đồng thời, Thành phố đã hỗ trợ các doanh nghiệp viễn thông phát triển hạ tầng băng thông rộng phủ khắp địa bàn theo Quyết định số 414/QĐ-UBND ngày 05/5/2021 về phê duyệt Đề án phát triển hạ tầng viễn thông và Kế hoạch phát triển hạ tầng số Thành phố giai đoạn 2020 – 2030.
Đặc biệt, Thành phố đã từng bước chuyển đổi hoạt động chỉ đạo, điều hành từ phương thức dựa trên báo cáo hành chính sang phương thức quản trị dựa trên dữ liệu. Thành phố đã xây dựng kiến trúc chính quyền điện tử, chiến lược quản trị dữ liệu và triển khai nhiều nền tảng số nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công và hiệu quả quản lý trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, du lịch và quản lý đô thị. Đồng thời, Thành phố cũng xây dựng Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số và kế hoạch triển khai hằng năm nhằm theo dõi quá trình chuyển đổi số một cách hệ thống. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân Thành phố đã thành lập Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ Chuyển đổi số (DXCenter), đồng thời kiện toàn Trung tâm Chuyển đổi số Thành phố nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và từng bước hoàn thiện hệ sinh thái quản trị số ở quy mô đô thị lớn.
Một trong những kết quả đáng chú ý là Thành phố đã xây dựng Kho dữ liệu dùng chung, ban hành danh mục 45 cơ sở dữ liệu dùng chung và 91 tập dữ liệu mở nhằm hình thành hệ sinh thái sáng tạo trên dữ liệu. TP. Hồ Chí Minh cũng là địa phương đầu tiên trong cả nước hoàn thành số hóa 4 loại sổ hộ tịch4, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển chính quyền số và cung cấp dịch vụ công trên môi trường số.
Thứ ba, chuyển đổi số đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo tại TP. Hồ Chí Minh.
Quá trình phát triển các nền tảng số và hạ tầng số đã tạo điều kiện hình thành nhiều mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ số, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số của Thành phố. Theo số liệu công bố của cơ quan thống kê và Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), tỷ trọng đóng góp của kinh tế số trong GRDP của Thành phố có xu hướng tăng nhanh qua các năm. Nếu năm 2021 tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 15,38% thì đến năm 2024 ước đạt khoảng 22% và năm 2025 phần đầu đạt khoảng 25%4.
Song song đó, hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tiếp tục được đẩy mạnh. Thành phố đã triển khai nhiều đề án liên quan đến xây dựng hạ tầng số, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, phát triển hạ tầng dữ liệu và hình thành mạng lưới các viện, trung tâm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo. Các nhiệm vụ này đã hoàn thành khoảng 90% mục tiêu của Chương trình nghiên cứu và phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo giai đoạn 2020 – 20254.
Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân Thành phố cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực số và nâng cao nhận thức cộng đồng về chuyển đổi số thông qua các lớp bồi dưỡng kiến thức, tổ công nghệ số cộng đồng với 5.199 tổ và hơn 19.000 thành viên tham gia hỗ trợ người dân tiếp cận môi trường số4.
Thứ tư, quá trình chuyển đổi số đã góp phần nâng cao hiệu quả tương tác giữa chính quyền với người dân và doanh nghiệp.
Ủy ban nhân dân Thành phố đã triển khai và đưa vào vận hành nhiều nền tảng số dùng chung nhằm hỗ trợ toàn bộ nền hành chính vận hành trên môi trường số, như: hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, hệ thống quản trị thực thi trên nền tảng số, hệ thống lắng nghe thông tin trên mạng xã hội, hệ thống quản lý khiếu nại tố cáo và Cổng thông tin 1022 tiếp nhận, giải đáp thông tin cho người dân và doanh nghiệp.
Việc tăng cường tương tác số giữa chính quyền với người dân không chỉ góp phần nâng cao chất lượng phục vụ mà còn thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động quản lý nhà nước. Trong môi trường quản trị số, người dân không còn chỉ là đối tượng thụ hưởng dịch vụ công mà đang từng bước tham gia vào quá trình quản trị địa phương thông qua các nền tảng phản hồi và tương tác trực tuyến.
Thứ năm, mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị địa phương của TP. Hồ Chí Minh vẫn còn một số khó khăn, thách thức cần tiếp tục hoàn thiện.
Thực tiễn cho thấy việc liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan vẫn còn hạn chế; một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa được chuẩn hóa đồng bộ. Trong khi đó, yêu cầu quản trị đô thị hiện đại đòi hỏi khả năng xử lý và khai thác dữ liệu theo thời gian thực ngày càng cao. Bên cạnh đó, năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giữa các cấp chính quyền vẫn còn chưa đồng đều; khả năng phân tích dữ liệu và ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản trị ở một số lĩnh vực còn hạn chế.
Ngoài ra, áp lực quản trị ngày càng lớn trong bối cảnh mở rộng không gian đô thị và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số và xây dựng cơ chế quản trị linh hoạt, thích ứng hơn. Điều này cho thấy quá trình số hóa không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình tái cấu trúc hoạt động quản lý địa phương theo hướng hiện đại, tích hợp và dựa trên dữ liệu.
2.2. Yêu cầu nâng cao năng lực quản trị địa phương tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển đổi số
Chuyển đổi số không đơn thuần là quá trình ứng dụng công nghệ trong hoạt động hành chính mà đang làm thay đổi cấu trúc quản trị, phương thức điều hành và phương thức vận hành của quản trị công hiện đại. Trong môi trường số, dữ liệu ngày càng trở thành “tài nguyên chiến lược” của quản trị công⁵, đặt ra yêu cầu chính quyền địa phương phải chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và ra quyết định dựa trên bằng chứng.
Trong môi trường số hiện nay, hoạt động điều hành địa phương đang chuyển dần từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và tri thức. Nếu trước đây dữ liệu chủ yếu phục vụ thống kê và báo cáo hành chính thì hiện nay dữ liệu đang trở thành cơ sở phục vụ dự báo, điều hành và hoạch định chính sách. Giá trị của chuyển đổi số không chỉ nằm ở việc thu thập dữ liệu mà còn ở khả năng phân tích, kết nối và chuyển hóa dữ liệu thành tri thức phục vụ quản trị. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực quản trị địa phương theo hướng hiện đại, tích hợp và thích ứng hơn với môi trường quản trị số sau đây:
Một là, cần chuyển từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang tư duy “quản trị số”. Chuyển đổi số không chỉ là quá trình đưa công nghệ vào hoạt động hành chính mà là quá trình tái cấu trúc mô hình quản trị trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số. Vì vậy, chính quyền địa phương cần đổi mới phương thức điều hành theo hướng tích hợp, liên thông và dựa trên dữ liệu thời gian thực.
Hai là, cần phát triển đồng bộ hạ tầng số và hệ sinh thái dữ liệu dùng chung. Trong môi trường quản trị số, dữ liệu là yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng điều hành. Do đó, chính quyền địa phương cần xây dựng hệ sinh thái dữ liệu tích hợp, bảo đảm khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan trong toàn hệ thống chính quyền.
Ba là, chuyển đổi số đang làm thay đổi yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong môi trường quản trị số, đội ngũ thực thi công vụ không chỉ cần kỹ năng hành chính mà còn phải có khả năng sử dụng công nghệ, khai thác dữ liệu và thích ứng với các mô hình làm việc mới. Điều này cho thấy năng lực số đang trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của năng lực công vụ hiện nay, đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy dữ liệu, năng lực phân tích và khả năng ra quyết định trên nền tảng số trong bối cảnh quản trị hiện đại.
Bốn là, chính quyền địa phương cần xây dựng cơ chế quản trị linh hoạt, thích ứng và có khả năng phục hồi cao trong điều kiện môi trường quản trị biến động nhanh chóng. Theo đó, chính quyền cần nâng cao năng lực điều chỉnh chính sách, tăng cường phối hợp liên ngành và chủ động xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình quản trị đô thị hiện đại.
3. Một số hàm ý chính sách
Từ yêu cầu đổi mới quản trị công trong bối cảnh chuyển đổi số, TP. Hồ Chí Minh cần tiếp cận nâng cao năng lực quản trị địa phương như một quá trình tái cấu trúc toàn diện mô hình điều hành đô thị, trong đó cần đặc biệt chú trọng một số hàm ý chính sách sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế quản trị số theo hướng tích hợp, liên thông và dựa trên dữ liệu. Trong bối cảnh chuyển đổi số, thể chế không chỉ giữ vai trò định hướng hoạt động quản lý nhà nước mà còn tạo nền tảng cho vận hành chính quyền số và quản trị đô thị thông minh. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu, phối hợp liên ngành và quản trị dữ liệu công nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và khả năng ra quyết định dựa trên bằng chứng.
Thứ hai, phát triển đồng bộ hạ tầng số và hệ sinh thái dữ liệu dùng chung phục vụ quản trị địa phương. Chính quyền thành phố cần chuyển trọng tâm từ đầu tư công nghệ đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái dữ liệu tích hợp, bảo đảm khả năng kết nối, liên thông và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan trong toàn hệ thống chính quyền. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện các nền tảng số phục vụ quản lý đô thị, cung ứng dịch vụ công và tương tác với người dân trên môi trường số.
Thứ ba, nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu quản trị trong môi trường số. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần tập trung vào kỹ năng số, tư duy dữ liệu, năng lực phân tích, an ninh mạng và khả năng thích ứng với các mô hình quản trị mới. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có khả năng khai thác dữ liệu và ứng dụng công nghệ số trong hoạt động điều hành, hoạch định và thực thi chính sách công.
Thứ tư, xây dựng cơ chế quản trị linh hoạt, thích ứng và có khả năng phục hồi cao trong điều kiện môi trường quản trị biến động nhanh chóng. Theo đó, chính quyền địa phương cần nâng cao năng lực điều chỉnh chính sách, tăng cường phối hợp liên ngành và chủ động xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình quản trị đô thị hiện đại. Đồng thời, cần thúc đẩy mô hình quản trị mạng lưới với sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội nhằm phát triển hệ sinh thái quản trị số và đô thị thông minh.
Thứ năm, tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong quá trình quản trị địa phương trên môi trường số. Chính quyền cần tiếp tục hoàn thiện các nền tảng phản hồi, tương tác và cung cấp dịch vụ công trực tuyến nhằm nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả phục vụ. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hình thành mô hình quản trị địa phương hiện đại theo hướng mở, tương tác và lấy người dân làm trung tâm.
4. Kết luận
Chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức quản trị địa phương, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực điều hành của chính quyền theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu và thích ứng với môi trường số. Trong bối cảnh đó, năng lực quản trị địa phương không chỉ gắn với khả năng thực thi hành chính mà còn thể hiện ở năng lực quản trị số, khai thác dữ liệu và điều hành trên nền tảng công nghệ. Thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy chuyển đổi số đã góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, phát triển chính quyền số và nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế quản trị số, phát triển hạ tầng và dữ liệu dùng chung, nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và xây dựng mô hình quản trị linh hoạt, thích ứng nhằm hướng tới phát triển đô thị thông minh và bền vững trong kỷ nguyên số.
Chú thích:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr. 145.
4. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo số 38/BC-UBND ngày 30/01/2026 về đánh giá tình hình kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2025; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2026 – 2030.
5. OECD (2020). The OECD Digital Government Policy Framework: Six dimensions of a Digital Government. Paris: OECD Publishing.



