Trí thức Huế trên báo chí công khai giai đoạn 1933 – 1939: tranh luận lý luận và vận động dân chủ

Hue intellectuals in the public press, 1933-1939: Theoretical debates and democratic mobilization

ThS. Lê Hoài Nam
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ vai trò của trí thức Huế trên báo chí công khai giai đoạn 1933 – 1939, tập trung vào quan hệ giữa tranh luận lý luận, tổ chức công luận và vận động dân chủ. Trên cơ sở phương pháp lịch sử, logic, phân tích diễn ngôn báo chí và phê phán nguồn, nghiên cứu khảo sát các diễn đàn Nhành Lúa, Sông Hương tục bản, Dân, cùng hoạt động của Hải Triều, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu. Kết quả cho thấy, báo chí Huế là vùng công khai tương đối, nơi lý luận Mác-xít, nghị trường Trung Kỳ và các yêu sách dân sinh, dân chủ được kết nối. Qua đó, bài viết bổ sung nhận thức về lịch sử báo chí, lịch sử trí thức và phong trào dân chủ Việt Nam trước năm 1945.

Từ khóa: Trí thức Huế; Báo chí công khai; Hải Triều; Trung Kỳ; Phong trào dân chủ.

Abstract: This article clarifies the role of Hue intellectuals in the public press from 1933 to 1939, focusing on the relationship between theoretical debate, public opinion, and democratic mobilization. Using historical and logical methods, press discourse analysis, and source criticism, it examines Nhanh Lua, Song Huong tuc ban, Dan, and the activities of Hai Trieu, Phan Dang Luu, and Nguyen Chi Dieu. The findings show that Hue journalism formed a relative public sphere in which Marxist theory, the Central Vietnam Representative Assembly, and livelihood and democratic demands were connected. The article thereby contributes to the study of Vietnamese journalism, intellectual history, and democratic movements before 1945.

Keywords: Hue intellectuals; public press; Hai Trieu; Central Vietnam; democratic movement.

1. Đặt vấn đề

Trong lịch sử báo chí Việt Nam, thập niên 30 của thế kỷ XX đánh dấu một bước phát triển đáng chú ý của báo chí Huế. Dưới chế độ thuộc địa, báo chí vừa bị kiểm soát, vừa mở ra khả năng để trí thức, nhà báo và các lực lượng chính trị tham gia đời sống công cộng. Chữ Quốc ngữ và báo chí tạo nên một diễn đàn tranh luận tư tưởng, hình thành công luận và tác động đến đời sống chính trị.

Trong bối cảnh ấy, Huế giữ vị trí riêng là trung tâm văn hóa, giáo dục và chính trị của Trung Kỳ, nơi giao thoa giữa triều đình Nguyễn, chính quyền bảo hộ và các dòng trí thức cũ – mới. Các tờ Tiếng Dân, Tràng An, Sông Hương, Nhành Lúa, Sông Hương tục bản, Dân, Dân Tiến, Dân Muốn… cho thấy, Huế là một điểm nút của báo chí công khai ở Trung Kỳ (Nguyễn Xuân Hoa, 2013)1. Báo chí Huế vừa phản ánh đời sống văn hóa – xã hội địa phương, vừa mở diễn đàn cho các tranh luận vượt khỏi phạm vi văn chương thông thường (Nguyễn Thị Thùy Nhung, 2024)2. Báo chí cách mạng Trung Kỳ cũng được sử dụng như phương tiện vận động hợp pháp, linh hoạt trong cao trào dân chủ (Trần Thị Thanh Huyền, 2019)3.

Từ năm 1933, trên báo chí công khai đã nổi lên các tranh luận lý luận mà Hải Triều, tức Nguyễn Khoa Văn, tham gia sau khi ra tù năm 1932 (Hải Triều, 2014)4. Trước cao trào dân sinh, dân chủ 1936-1939, các tranh luận duy tâm hay duy vật, nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh cho thấy, vai trò sớm của trí thức Huế trong việc đưa vấn đề lý luận vào công luận. Những tranh luận ấy chuẩn bị nền tảng tư tưởng để báo chí công khai trở thành diễn đàn phản biện xã hội (Ngô Bằng Linh, 2021)5.

Từ năm 1936, phong trào dân chủ Đông Dương làm cho báo chí công khai ở Huế và Trung Kỳ chuyển sang thành các yêu sách dân sinh, dân chủ, tự do báo chí, vận động bầu cử Viện Dân biểu Trung Kỳ và chống chính sách thuế khóa bất lợi. Hội nghị Báo giới Trung Kỳ tại Huế năm 1937 là dấu mốc quan trọng của yêu sách tự do báo chí và tự do xuất bản (Nguyễn Thành, 1984)6. Việc Nguyễn Khoa Văn viết về chủ nghĩa duy vật biện chứng dưới dạng phê bình văn học cho thấy, cách lý luận Marxist được chuyển hóa thành diễn ngôn có thể tồn tại trong báo chí công khai (Đỗ Quang Hưng, 2000)7. Nhìn rộng hơn, báo chí chính trị giai đoạn này có khả năng truyền bá tư tưởng, tập hợp lực lượng và cổ động quần chúng (Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2016)8.

Với Thừa Thiên Huế, hiệu sách Hương Giang là đầu mối liên lạc gắn với Hải Triều, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu và các nhân vật hoạt động ở Huế, cho thấy, báo chí công khai không tách khỏi mạng lưới tổ chức của trí thức cách mạng địa phương (Nguyễn Hồng Ngọc, 2014)9. Bài viết cũng sử dụng hồ sơ lưu trữ về cuộc họp tại trụ sở báo Dân năm 1938, nhưng chỉ khai thác các dữ kiện có thể kiểm soát, như: địa điểm, thành phần, nội dung bàn bạc và quan hệ giữa báo Dân với Viện Dân biểu (Service de la Sûreté en Annam, 1938)10. Trên bình diện Đông Dương, nghiên cứu của M. Kathryn Edwards về L’Effort indochinois giúp đặt báo chí công khai trong môi trường chính trị được nới lỏng tương đối dưới ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp (Edwards, 2020)11.

Như vậy, có thể thấy, các nghiên cứu về báo chí Huế, báo chí cách mạng Trung Kỳ, Hải Triều, tranh luận văn nghệ và phong trào dân chủ thường được triển khai tương đối riêng rẽ. Khoảng trống cần làm rõ là cách các mạch ấy gặp nhau trong cấu trúc lịch sử cụ thể của Huế. Bài viết tập trung vào ba vấn đề: không gian hoạt động của trí thức Huế trên báo chí công khai; vai trò tư tưởng của Hải Triều và cách Nhành Lúa, Sông Hương tục bản, Dân cùng Hội nghị Báo giới Trung Kỳ kết nối trí thức Huế với phong trào dân chủ.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử và logic để phục dựng tiến trình báo chí Huế từ tranh luận lý luận đầu thập niên 30, thế kỷ XX đến báo chí dân chủ công khai sau năm 1936, đồng thời, phân tích quan hệ giữa tranh luận tư tưởng, tổ chức công luận và phong trào dân chủ. Bài viết kết hợp phân tích diễn ngôn báo chí và phê phán nguồn, nhất là với hồ sơ mật thám về báo Dân (Service de la Sûreté en Annam, 1938)12.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Kết quả nghiên cứu

(1) Báo chí Huế và sự hình thành vùng công khai tương đối

Trước khi các tờ báo dân chủ công khai xuất hiện trong cao trào 1936 – 1939, Huế đã có một nền báo chí đủ sức tạo môi trường tranh luận văn hóa, xã hội và chính trị. Tiếng Dân (1927), gắn với Huỳnh Thúc Kháng, góp phần hình thành thói quen đọc báo, bàn luận thời cuộc và biểu đạt chính kiến trong giới trí thức và công chúng Huế. Sau Tiếng Dân, các báo Tràng An (1934) và Sông Hương (1936) tiếp tục mở rộng không gian ấy sang lĩnh vực văn học, xã hội và tư tưởng; riêng Tràng An gắn với nhiều cuộc tranh luận văn học, tư tưởng và đời sống đô thị ở Huế (Nguyễn Xuân Hoa, 2013)13. Nền tảng này làm cho Huế có sẵn một công chúng báo chí, một mạng lưới người viết và thói quen tranh luận trước khi phong trào dân chủ bùng lên.

Từ năm 1936, bối cảnh chính trị mới tạo điều kiện cho báo chí công khai ở Trung Kỳ có thêm dư địa hoạt động, dù vẫn nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền bảo hộ và Nam triều. Huế vừa là trung tâm văn hóa của Trung Kỳ, vừa là nơi tập trung trí thức Nho học và tân học, đồng thời, chịu sự chi phối của hai tầng quyền lực thuộc địa – quân chủ. Chính vị trí ấy làm cho báo chí Huế trở thành một vùng công khai tương đối: không thật sự tự do, nhưng vẫn có khe hở để trí thức cách mạng vận dụng báo chí như công cụ tranh luận, phản biện và vận động.

Tờ Nhành Lúa là trường hợp tiêu biểu cho bước mở đầu của báo chí cách mạng công khai ở Huế trong cao trào dân chủ. Báo do Nguyễn Xuân Lữ đứng tên, Hải Triều làm thư ký tòa soạn, được cấp phép ngày 24/10/1936 và ra số đầu ngày 15/01/1937 (Nguyễn Thị Thùy Nhung, 2024)14. Báo được biên tập tại Huế nhưng in tại Hà Nội, một lựa chọn cho thấy sự linh hoạt trong điều kiện kiểm duyệt. Nhành Lúa vì thế không chỉ là một tờ báo mới mà còn là kết quả của một phương thức hoạt động công khai có tổ chức, biết phối hợp giữa người đứng tên, người biên tập, nơi in và mạng lưới phát hành.

Sau khi Nhành Lúa bị cấm, nhóm Phan Đăng Lưu, Hải Triều, Tôn Quang Phiệt mua lại bản quyền Sông Hương để xuất bản Sông Hương tục bản (Nguyễn Xuân Hoa, 2013)15. Chiến thuật này cho thấy, lực lượng cách mạng không chỉ xin phép báo mới mà còn tận dụng danh nghĩa hợp pháp của một tờ báo đã có để duy trì diễn đàn công khai. Sông Hương tục bản vì thế vừa nối tiếp không gian báo chí văn hóa – xã hội sẵn có, vừa chuyển mũi đấu tranh cách mạng sang hướng vận động dân chủ rõ rệt hơn. Ở đây, tính hợp pháp không phải là trạng thái ổn định mà là một khả năng cần được vận dụng liên tục trong điều kiện giám sát.

Báo Dân (1938) đánh dấu bước phát triển cao hơn của báo chí công khai ở Huế. Báo Dân đặt tại Huế, thực chất là cơ quan ngôn luận của Xứ ủy Trung Kỳ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phan Đăng Lưu. Vị trí của báo Dân trong chuỗi báo chí dân chủ Huế, tiếp nối sau Nhành LúaSông Hương tục bản. Cùng với đó, sự xuất hiện tiếp nối của Dân TiếnDân Muốn cho thấy, khi một tờ báo bị đình bản, mặt trận báo chí không dừng lại mà chuyển sang hình thức khác để duy trì công luận (Trần Thị Thanh Huyền, 2019)16.

Nhìn theo tiến trình, chuỗi Tiếng Dân – Tràng An – Sông Hương – Nhành Lúa – Sông Hương tục bản – Dân – Dân Tiến – Dân Muốn cho thấy, báo chí Huế vận động từ nền văn hóa – xã hội sang không gian chính trị – tư tưởng có tổ chức. Tuy nhiên, tính chất “công khai” của các tờ báo này không đồng nghĩa với một không gian tự do tuyệt đối. Hoạt động báo chí ở Huế vẫn nằm trong cơ chế cấp phép, kiểm duyệt, đình bản và giám sát của chính quyền bảo hộ cùng Nam triều. Vì vậy, các hình thức như người đứng tên xin phép, biên tập tại Huế nhưng in ở nơi khác, mua lại bản quyền báo hoặc chuyển sang tờ báo kế tiếp khi bị cấm cần được hiểu như những chiến thuật nhằm duy trì diễn đàn trong một vùng công khai tương đối. Việc báo Dân bị theo dõi qua các ghi chép lưu trữ năm 1938 cũng cho thấy, chính quyền thuộc địa nhận biết và giám sát quan hệ giữa báo chí, Viện Dân biểu và phong trào dân chủ (Service de la Sûreté en Annam, 1938)17.

(2) Hải Triều – từ tranh luận duy vật đến nghệ thuật vị nhân sinh

Trong không gian báo chí ấy, Hải Triều là gương mặt tiêu biểu của trí thức Huế trên mặt trận tranh luận lý luận. Hải Triều, tên thật Nguyễn Khoa Văn, sinh tại An Cựu, Huế, trong một gia đình trí thức. Sau khi ra tù năm 1932, ông hoạt động sôi nổi trên báo chí công khai, tham gia các cuộc tranh luận về triết học, văn nghệ và xã hội (Hải Triều, 2014)18. Từ vị trí ấy, Hải Triều không chỉ là một nhà phê bình văn học theo nghĩa hẹp mà là một trí thức lý luận sử dụng báo chí như phương tiện đấu tranh tư tưởng.

Cống hiến nổi bật của Hải Triều nằm ở lĩnh vực lý luận văn học và triết học, nhất là qua hai cuộc tranh luận về duy tâm hay duy vật và nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh trong thập niên 1930. Đặt trong bối cảnh phong trào cách mạng Việt Nam sau năm 1930, hoạt động của Hải Triều nằm trong quỹ đạo tư tưởng và chính trị của phong trào cộng sản đương thời, nhưng cách thể hiện chủ yếu lại diễn ra qua báo chí công khai và phê bình văn học. Chính đặc điểm này làm cho trường hợp Hải Triều có ý nghĩa riêng: ông đưa những vấn đề lý luận khó tiếp cận vào diễn đàn báo chí, đồng thời biến tranh luận học thuật thành một hình thức tác động đến công luận.

Cuộc tranh luận duy tâm hay duy vật giữa Hải Triều và Phan Khôi được khơi lên từ bài viết “Văn minh vật chất và văn minh tinh thần” của Phan Khôi, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm (số 4, ngày 08/8/1933). Khi phê phán quan điểm ca tụng văn minh tinh thần phương Đông của một số học giả trước đó, Phan Khôi đề cập đến tình trạng ý chí, tinh thần yếu đuối của một bộ phận người Việt Nam và khuếch trương giá trị tinh thần cao thượng, mạnh mẽ của người phương Tây (Ngô Bằng Linh, 2021)19. Ngay sau đó, từ lập trường Marxist, Hải Triều phản biện bằng bài viết “Ông Phan Khôi không phải là một học giả duy vật”, đăng trên báo Đông Phương (số 891, ngày 21/10/1933), trong đó, nêu quan điểm duy vật rằng “tinh thần tư tưởng chỉ là cái phản ảnh của vật chất mà phát sinh ra” (Hải Triều, 2014)20.

Ý nghĩa của cuộc tranh luận không nằm ở việc nó đạt đến một hệ thống triết học hoàn chỉnh mà ở chỗ nó đặt ra vấn đề phương pháp nhận thức xã hội. Hải Triều phê phán lập trường duy tâm không chỉ để thắng một đối thủ tranh luận, mà để xác lập cách nhìn duy vật về lịch sử, văn hóa và con người. Trong một xã hội thuộc địa, nơi nhiều dòng tư tưởng cùng cạnh tranh ảnh hưởng, việc đưa duy vật biện chứng vào diễn đàn công khai là một hành vi chính trị – tư tưởng. Vì vậy, tranh luận duy tâm hay duy vật cần được hiểu như nỗ lực định hình công luận trí thức theo một phương pháp nhận thức mới.

Đánh giá về cách tiếp cận báo chí của Hải Triều, Đỗ Quang Hưng cho biết Nguyễn Khoa Văn thường viết về chủ nghĩa duy vật biện chứng dưới dạng phê bình văn học; cách viết này vừa bảo đảm tính hợp pháp trong không gian báo chí công khai, vừa hàm chứa nội dung tuyên truyền lý luận mới (Đỗ Quang Hưng, 2000)21. Chi tiết này cho thấy, Hải Triều không chỉ đưa lý luận lên báo, mà còn biết chuyển hóa lý luận thành một dạng diễn ngôn có khả năng tồn tại trong điều kiện kiểm duyệt. Phê bình văn học, do đó, không chỉ là phê bình văn học; nó trở thành một hình thức hợp pháp hóa tương đối diễn ngôn Marxist trong không gian báo chí thuộc địa.

Cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh tiếp tục mở rộng phạm vi đấu tranh tư tưởng từ triết học sang mỹ học và văn học. Một bên là Hải Triều, Hải Thanh, Hải Khách; bên kia là Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lê Trang Kiều, Thiếu Sơn và một số cây bút khác. Ngô Bằng Linh nhận định cuộc tranh luận này thực chất là tranh luận về nhân sinh quan (Ngô Bằng Linh, 2021)22. Trong khi phía Hoài Thanh, Thiếu Sơn và một số cây bút khác bảo vệ tính độc lập tương đối của nghệ thuật, Hải Triều và những người cùng quan điểm nhấn mạnh nghệ thuật phải gắn với đời sống xã hội, con người và hiện thực. Phạm Phú Phong xem Hải Triều là gương mặt dẫn dắt khuynh hướng nghệ thuật vị nhân sinh trong đời sống lý luận, phê bình ở Huế giai đoạn 1930-1945 (Phạm Phú Phong, 2016)23.

Nếu tranh luận duy tâm hay duy vật là cuộc đấu tranh về phương pháp nhận thức xã hội thì tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh là cuộc đấu tranh về chức năng xã hội của văn học, nghệ thuật. Hải Triều đặt vấn đề văn chương đứng ngoài đời sống hay tham gia vào đời sống; nghệ thuật phục vụ khoái cảm thẩm mỹ riêng tư hay gắn với nhân sinh, xã hội và tiến bộ. Từ đó, mỹ học trở thành một lối đi khác của chính trị tư tưởng. Vai trò của Hải Triều vì thế vượt ra ngoài khung phê bình văn học thuần túy.

Việc Sông Hương tục bản đăng loạt bài văn học và chủ nghĩa duy vật của Hải Triều trên các số 8, 9, 10 năm 1937 cho thấy, mối liên hệ trực tiếp giữa tranh luận lý luận và báo chí dân chủ ở Huế (Nguyễn Thị Thùy Nhung, 2024)24. Báo chí dân chủ không chỉ đăng tin về bầu cử, thuế khóa hay dân sinh mà còn duy trì chức năng truyền bá lý luận. Qua Hải Triều, có thể nhận thấy một chuyển động quan trọng: từ phản biện lý luận đến phản biện xã hội và từ phản biện xã hội đến việc tạo nền tảng tư tưởng cho vận động dân chủ trong không gian công khai.

(3) Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu và sự chuyển hóa báo chí thành công cụ vận động dân chủ

Nếu Hải Triều tiêu biểu cho tuyến tranh luận lý luận, thì Phan Đăng Lưu và Nguyễn Chí Diểu giúp làm rõ tuyến tổ chức, vận động và chính trị hóa báo chí công khai ở Huế. Từ năm 1936, sau khi nhiều tù chính trị được trả tự do, phong trào dân chủ ở Trung Kỳ có điều kiện phục hồi. Những nhân vật như Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu, Bùi San, Nguyễn Khoa Văn trở lại hoạt động, góp phần tạo đội ngũ cán bộ và cây bút cho mặt trận báo chí Trung Kỳ (Trần Thị Thanh Huyền, 2019)25. Dữ kiện này cho thấy báo chí công khai không thể tách khỏi sự tái lập mạng lưới hoạt động sau thời kỳ đàn áp đầu thập niên 1930.

Sau khi ra tù, Hải Triều thành lập hiệu sách Hương Giang ở Huế, một cơ sở sách báo, nhưng đồng thời cũng là một điểm nối quan trọng của mạng lưới hoạt động công khai và bán công khai. Tại không gian hợp pháp ấy, các nhân vật, như Hải Triều, Phan Đăng Lưu, Lâm Mộng Quang, Trịnh Xuân An sử dụng hiệu sách như nơi liên lạc, tổ chức và duy trì các hoạt động chính trị – báo chí (Nguyễn Hồng Ngọc, 2014)26. Song song với tuyến công khai và bán công khai, tại Huế còn tồn tại mạng lưới hoạt động bí mật, trong đó Nguyễn Chí Diểu được xác định là một thành viên thuộc tuyến này (Nguyễn Thị Thùy Nhung, 2024)27. Sự đan xen giữa hiệu sách, báo chí và các nhóm hoạt động cho thấy, báo chí cách mạng ở Huế không phải hoạt động riêng lẻ của một số cây bút mà gắn với một cấu trúc tổ chức rộng hơn, gồm cơ sở liên lạc, nhóm trí thức, người đứng tên xin phép, người viết, người in, người phát hành và những đầu mối điều phối phong trào.

Hội nghị Báo giới Trung Kỳ là dấu mốc cho thấy, báo chí công khai đã vượt khỏi phạm vi nghề nghiệp. Theo Nguyễn Thành, hội nghị khai mạc ngày 27/3/1937 tại Đông Pháp Lữ quán, số 7 đường Đông Ba, Huế với hơn 70 người dự. Tại hội nghị, Hải Triều kêu gọi lập Mặt trận thống nhất đấu tranh cho tự do báo chí và tự do xuất bản (Nguyễn Thành, 1984)28. Sự kiện này cho thấy, báo chí ở Huế không chỉ là nơi đăng tải ý kiến cá nhân mà đã trở thành hình thức tổ chức công luận, nơi giới làm báo tự nhận thức về quyền nghề nghiệp và quyền dân chủ.

Trong chuỗi báo chí dân chủ, các tờ Nhành Lúa, Sông Hương tục bảnDân không phải là các thử nghiệm trong đấu tranh cách mạng mang tính đơn lẻ mà tạo thành một chuỗi chiến thuật báo chí: Nhành Lúa mở ra hình thức báo chí cách mạng công khai; Sông Hương tục bản tận dụng danh nghĩa hợp pháp của một tờ báo đã có để tiếp tục vận động dân chủ; báo Dân trở thành cơ quan ngôn luận thực chất của Xứ ủy Trung Kỳ.

Trên nền mạng lưới hoạt động công khai, bán công khai và bí mật ở Huế, Phan Đăng Lưu là một trong những nhân vật góp phần chuyển báo chí công khai thành phương tiện tổ chức công luận và vận động dân chủ trong điều kiện thuộc địa. Sông Hương tục bản là trường hợp tiêu biểu: tờ báo vừa tận dụng được danh nghĩa hợp pháp của một diễn đàn báo chí đã có, vừa phục vụ vận động bầu cử Viện Dân biểu Trung Kỳ, cổ vũ các ứng cử viên tiến bộ và tạo điểm tựa dư luận cho đấu tranh nghị trường. Từ hoạt động ấy, báo chí cách mạng Trung Kỳ góp phần vào những kết quả cụ thể của phong trào dân chủ, như tranh cử vào Viện Dân biểu và đấu tranh ngăn chính quyền Trung Kỳ tăng thuế vô lý.

Với báo Dân, chức năng tổ chức của báo chí công khai được thể hiện rõ hơn. Các ghi chép lưu trữ năm 1938 cho thấy, tại trụ sở báo ở Huế đã diễn ra cuộc họp bàn về việc tăng kỳ phát hành, quan hệ với Viện Dân biểu và vai trò của tờ báo trong việc kết nối nghị trường với công luận. Dù được lập từ góc nhìn của cơ quan giám sát thuộc địa, nguồn tư liệu này vẫn cung cấp những dữ kiện đáng chú ý về địa điểm, nội dung bàn bạc và mối liên hệ giữa báo Dân với Viện Dân biểu. Từ đó, có thể nhận thấy báo Dân không chỉ là một cơ quan ngôn luận mà còn là nơi gặp gỡ, trao đổi và điều phối giữa trí thức, báo giới, hoạt động nghị trường và phong trào dân chủ.

Trong mạng lưới ấy, Nguyễn Chí Diểu hiện lên như một mắt xích quan trọng giữa hoạt động công khai, bán công khai và bí mật ở Huế (Nguyễn Hồng Ngọc, 2014)29. Vai trò của ông không nổi bật ở tuyến tranh luận lý luận như Hải Triều, cũng không được thể hiện trực tiếp qua việc tổ chức báo chí dân chủ và vận động nghị trường như Phan Đăng Lưu nhưng lại góp phần cho thấy chiều sâu tổ chức của phong trào. Từ sự phân công và phối hợp đó, có thể nhận thấy, báo chí công khai ở Huế không chỉ là diễn đàn của một số cây bút mà là một bộ phận trong cấu trúc tổ chức công luận, nơi các vai trò lý luận, báo chí và vận động cách mạng được kết nối với nhau.

3.2. Thảo luận

(1) Từ tranh luận lý luận đến cơ chế tổ chức công luận

Các kết quả trên cho thấy, báo chí công khai ở Huế không chỉ phản ánh đời sống trí thức mà còn tham gia tạo ra một cơ chế vận động công luận. Trường hợp Hải Triều đặc biệt có ý nghĩa vì các tranh luận duy tâm hay duy vật, biện chứng pháp, nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh không dừng ở phạm vi học thuật. Những tranh luận ấy chạm đến các vấn đề căn bản hơn: phương pháp nhận thức xã hội, chức năng của văn học và vị trí của trí thức trước đời sống đương thời (Ngô Bằng Linh, 2021)30. Trong điều kiện thuộc địa, khi diễn ngôn chính trị trực diện luôn bị kiểm soát, việc đưa chủ nghĩa duy vật biện chứng vào phê bình văn học và tranh luận báo chí là một cách hợp pháp hóa tương đối diễn ngôn Marxist trong không gian công khai (Đỗ Quang Hưng, 2000)31.

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở nội dung từng cuộc tranh luận mà ở cách tranh luận được đặt vào môi trường báo chí. Qua báo chí, những vấn đề triết học và mỹ học bước ra khỏi phạm vi sách vở để đi vào đời sống công luận. Từ Hải Triều đến Phan Đăng Lưu, từ hiệu sách Hương Giang đến Hội nghị Báo giới Trung Kỳ, báo chí Huế dần trở thành nơi kết nối người viết, người đọc, giới làm báo, các đầu mối tổ chức và phong trào dân chủ (Nguyễn Thành, 1984)32. Nhờ đó, lý luận không tồn tại như diễn ngôn trừu tượng mà được chuyển hóa thành phản biện xã hội và thành năng lực định hướng dư luận.

Trường hợp báo Dân giúp nhìn rõ hơn cách báo chí công khai vận hành trong thực tế. Các ghi chép lưu trữ năm 1938 cho biết tại trụ sở báo ở Huế đã diễn ra cuộc họp bàn về việc tăng kỳ phát hành, quan hệ với Viện Dân biểu và vai trò kết nối giữa nghị trường với công luận (Service de la Sûreté en Annam, 1938)33. Dù được lập từ góc nhìn của cơ quan mật thám thuộc địa, nguồn này vẫn gợi ra một thực tế đáng chú ý: báo chí công khai ở Huế không chỉ là nơi đăng tải quan điểm mà còn là điểm gặp giữa báo giới, trí thức, nghị trường và phong trào dân chủ.

(2) Nét riêng của báo chí Huế trong không gian báo chí ba miền

Đặt trong không gian báo chí ba miền, Huế cần được nhìn ở vị trí riêng, nhưng không theo hướng so sánh với Hà Nội hay Sài Gòn. Ở Bắc Kỳ, nhất là Hà Nội, báo chí thập niên 30 thế kỷ XX gắn với đời sống văn học – đô thị, Thơ mới và dòng báo chính trị công khai trong cao trào dân chủ. Ở Nam Kỳ, đặc biệt Sài Gòn, báo chí đô thị thể hiện sự đa dạng khuynh hướng chính trị, trong đó báo La Lutte (Đấu tranh) là một diễn đàn đáng chú ý của nhiều xu hướng trong những năm đầu thập niên 30 thế kỷ XX. Trên bình diện Đông Dương, sự nới lỏng tương đối dưới thời Mặt trận Bình dân Pháp và sự phát triển của báo chí ở ba kỳ đã tạo thêm điều kiện cho các hoạt động công khai, dù cơ chế kiểm soát thuộc địa vẫn không mất đi.

Trong tương quan ấy, nét riêng của Huế không nằm trước hết ở quy mô thị trường báo chí mà ở chức năng kết nối. Báo chí Huế vừa là nơi tranh luận lý luận, vừa là phương tiện vận động báo giới, vừa tác động đến Viện Dân biểu Trung Kỳ, vừa gắn với các yêu sách dân sinh. Điều kiện kiểm soát kép của chính quyền bảo hộ và Nam triều buộc hoạt động báo chí ở Huế phải thận trọng, linh hoạt và dựa nhiều vào mạng lưới trí thức địa phương. Chính trong giới hạn ấy, báo chí Huế tạo nên một hình thức hoạt động đặc thù: hợp pháp về hình thức, phản biện về nội dung và có khả năng tổ chức công luận.

Từ góc nhìn đó, đóng góp của trí thức Huế trong giai đoạn 1933 – 1939 không chỉ là tham gia viết báo hay tranh luận trên báo chí. Điều quan trọng hơn là họ làm cho báo chí trở thành một không gian công luận có định hướng. Hải Triều mở rộng mặt trận lý luận; Phan Đăng Lưu gắn báo chí với tổ chức dân chủ; Nguyễn Chí Diểu và các đầu mối bí mật bảo đảm chiều sâu liên kết của phong trào. Nhìn từ cấu trúc ấy, báo chí công khai ở Huế là nơi lý luận, công luận và vận động dân chủ gặp nhau, qua đó tạo nên một hình thức tham gia cách mạng đặc thù của trí thức Huế trước năm 1945.

4. Kết luận

Báo chí công khai giai đoạn 1933 – 1939 cho thấy, trí thức Huế đã tham gia vào đời sống chính trị Trung Kỳ bằng một con đường khá đặc biệt: con đường của tranh luận lý luận, tổ chức công luận và vận động dân chủ. Báo chí Huế trong giai đoạn này không chỉ là nơi truyền tải tin tức hay sinh hoạt văn chương, mà từng bước trở thành một không gian công khai tương đối, nơi các vấn đề tư tưởng, dân sinh và dân chủ được đưa ra thảo luận, kết nối và lan tỏa.

Trong không gian ấy, Hải Triều tiêu biểu cho nỗ lực đưa các vấn đề lý luận Marxist vào diễn đàn báo chí thông qua những cuộc tranh luận về duy tâm hay duy vật, nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh. Phan Đăng Lưu cho thấy, khả năng biến báo chí dân chủ thành phương tiện vận động chính trị, gắn báo giới với Viện Dân biểu và các yêu sách xã hội cụ thể. Nguyễn Chí Diểu, tuy không nổi bật trên tuyến tranh luận công khai nhưng giúp nhận diện chiều sâu tổ chức của phong trào qua mối liên hệ giữa hoạt động công khai, bán công khai và bí mật.

Từ trường hợp Huế, có thể rút ra rằng, đóng góp của trí thức không chỉ nằm ở từng bài báo hay từng cuộc tranh luận riêng lẻ. Điều quan trọng hơn là họ đã góp phần biến báo chí công khai thành một bộ phận của hoạt động cách mạng hợp pháp và bán hợp pháp trước năm 1945. Cách nhìn này giúp nối lại ba mạch thường được khảo cứu tách rời: lịch sử báo chí Huế, lịch sử trí thức Marxist và phong trào dân chủ ở Trung Kỳ.

Chú thích:
1, 13, 15. Nguyễn Xuân Hoa (2013). Lịch sử báo chí Huế. NXB Thuận Hóa, tr. 44, 52, 53.
2, 14, 24, 27. Nguyễn Thị Thùy Nhung (2024). Báo chí cách mạng công khai ở Huế, 1936 – 1939. Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6/2024, tr. 86, 87, 88, 89 – 91.
3, 16, 25. Trần Thị Thanh Huyền (2019). Báo chí cách mạng Trung Kỳ, 1936 – 1939. Tạp chí Khoa học xã hội Miền Trung, số 6 (62), tr.51-52, 52-53, 55-56.
4, 18, 20. Hải Triều (2014). Hải Triều toàn tập (Phạm Hữu Toàn sưu tầm, biên soạn). H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 5, 15, 61.
5, 19, 22, 30. Ngô Bằng Linh (2021). Tranh luận về tư tưởng triết học ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tạp chí Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh, số 4(272), tr. 1, 2, 6, 7.
6, 28, 32. Nguyễn Thành (1984). Báo chí cách mạng Việt Nam, 1925 – 1945. H. NXB Khoa học Xã hội, tr.179-180.
7, 21, 31. Đỗ Quang Hưng (Chủ biên) (2000). Lịch sử báo chí Việt Nam, 1865-1945. H. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 189-191.
8. Nguyễn Thị Thuý Hằng (2016). Báo chí chính trị và đời sống chính trị ở Việt Nam, 1925 – 1945. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
9, 26, 29. Nguyễn Hồng Ngọc (2014). Trí thức Thừa Thiên Huế trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tr. 44 – 45.
10, 12, 17, 33. Service de la Sûreté en Annam (1938). Confidential Note on the Meeting Held at the Office of the Newspaper Dân in Hue, no. 1662, Fonds Résidence supérieure de l’Annam, National Archives Center No. IV, 7/9/1938, tờ 2-5.
11. Edwards, M. Kathryn (2020). An Indochinese Dominion: L’Effort indochinois and Autonomy in a Global Context, 1936-1939. French Politics, Culture & Society, 38(2), pp. 9-34.
23. Phạm Phú Phong (2016). Lý luận, phê bình văn học ở Huế, 1930-1945: nhìn qua các chân dung phê bình. Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3/2016, tr. 39.