Phát triển năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên các nhà trường quân đội hiện nay

Developing lecturers’ creative thinking competence in military educational institutions today

Nguyễn Văn Hoài
Hoàng Yến Nga
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục – đào tạo trong các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích những vấn đề lý luận về năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên, đánh giá thực trạng năng lực này trong đội ngũ giảng viên các nhà trường quân đội hiện nay, đồng thời, đề xuất các yêu cầu cơ bản cần đáp ứng để phát triển năng lực tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo trong quân đội hiện nay.

Từ khóa: Năng lực tư duy sáng tạo; giảng viên; nhà trường quân đội; phát triển năng lực; chất lượng giáo dục – đào tạo.

Abstract: Lecturers’ creative thinking competence is a key factor determining the quality of education and training in military educational institutions. This article analyzes theoretical issues concerning lecturers’ creative thinking competence, assesses the current state of this competence among lecturers in military educational institutions, and proposes fundamental requirements that need to be met in order to develop creative thinking competence, thereby contributing to improving the quality of education and training in the military today.

Keywords: Creative thinking competence; lecturers; military educational institutions; competence development; quality of education and training.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực, yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo trong quân đội đặt ra ngày càng cao. Các nhà trường quân đội có sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, sĩ quan có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn giỏi, khả năng thích ứng và sáng tạo cao, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Để thực hiện sứ mệnh đó, đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định, trong đó năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên được xem là “chìa khóa” để không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và góp phần xây dựng môi trường học tập dân chủ, khoa học, hiện đại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên ở các nhà trường quân đội hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết.

2. Một số vấn đề lý luận về năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên các nhà trường quân đội

Tư duy sáng tạo là hình thức tư duy bậc cao của con người, cho phép tạo ra những sản phẩm mới về chất, những cách giải quyết vấn đề mới, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn. Nói về năng lực tư duy sáng tạo không đơn thuần là nói khả năng tìm ra cái mới mà còn là khả năng nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, kết hợp các tri thức, kinh nghiệm, phương pháp, phẩm chất cá nhân để tìm ra những giải pháp tối ưu. Nếu kết quả của tư duy đúng đắn, con người sẽ tìm ra chân lý, soi sáng hành động của mình. V. I. Lênin đã chỉ rõ: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”1. Năng lực tư duy sáng tạo là tổng hòa những thuộc tính của chủ thể, biểu hiện khả năng nhận thức và giải quyết sáng tạo các vấn đề lý luận, thực tiễn đạt hiệu quả cao trên cơ sở huy động tổng hợp tri thức, kinh nghiệm, phương pháp, phẩm chất cá nhân trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định.

Thống nhất theo quan điểm trên có thể hiểu, năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên ở các nhà trường quân đội là tổng hòa những thuộc tính của chủ thể giảng viên, biểu hiện ở khả năng huy động tổng hợp tri thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy biện chứng, kỹ năng sư phạm và phẩm chất cá nhân để phát hiện và giải quyết tốt vấn đề nảy sinh trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các nhà trường quân đội. Năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên ở các nhà trường trong quân đội không chỉ là năng lực tư duy nói chung mà còn gắn liền với bối cảnh, điều kiện, yêu cầu đặc thù của hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong môi trường quân đội. Giảng viên quân đội không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn phải rèn luyện cho học viên tác phong quân sự, bản lĩnh chiến đấu, kỹ năng chỉ huy; vì vậy, tư duy sáng tạo của họ phải thể hiện được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố sư phạm và yếu tố quân sự.

Thứ nhất, nội dung tri thức đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học quân sự, khoa học giáo dục, khoa học xã hội và nhân văn. Giảng viên ở các nhà trường trong quân đội không chỉ cần nắm vững kiến thức chuyên ngành mà còn phải am hiểu chiến lược quân sự, nghệ thuật tác chiến, đặc điểm tâm lý chiến đấu. Họ phải có khả năng tích hợp tri thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề phức tạp, có sự kết hợp tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận trong giảng dạy và huấn luyện, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”2.

Thứ hai, phương pháp tư duy chủ đạo là tư duy biện chứng duy vật, kết hợp với tư duy hệ thống, tư duy tình huống trong điều kiện tác chiến hiện đại. Giảng viên cần rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp, dự báo và ra quyết định nhanh chóng trong môi trường có nhiều yếu tố bất định. Điều này đặc biệt quan trọng khi giảng dạy các học phần về chiến thuật, chiến dịch, nghệ thuật tác chiến… nơi mỗi tình huống đều có thể phát sinh những yếu tố bất ngờ.

Thứ ba, kỹ năng sư phạm phải gắn liền với kỹ năng chỉ huy, quản lý bộ đội. Phong cách, tác phong của giảng dạy của giảng viên ở các nhà trường trong quân đội thường đòi hỏi sự chính xác, kỷ luật, dứt khoát nhưng vẫn linh hoạt, khơi gợi được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học viên. Giảng viên giỏi không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là tấm gương về tác phong quân sự, là người chỉ huy mẫu mực trên bục giảng.

Thứ tư, phẩm chất cá nhân bao gồm bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, lòng yêu nghề, say mê nghiên cứu, dám nghĩ dám làm, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, giảng viên ở các nhà trường trong quân đội còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lập trường, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

3. Thực trạng năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên các nhà trường quân đội

Những năm qua, công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ở các nhà trường quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm chỉ đạo sát sao. Nhờ đó, năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên từng bước được nâng lên, đáp ứng cơ bản yêu cầu nhiệm vụ: giảng viên được tuyển chọn kỹ lưỡng, chặt chẽ, có phẩm chất cá nhân tốt, bảo đảm đạt tiêu chuẩn đào tạo ở các trường trong quân đội. Quy trình tuyển chọn, bồi dưỡng bài bản đã tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, có nền tảng đạo đức, tác phong quân sự chuẩn mực, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh; có phẩm chất chính trị tốt, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Giảng viên có tri thức sáng tạo tương đối toàn diện và đã thành hệ thống; được đào tạo cơ bản từ các học viện đầu ngành, như: Học viện Chính trị, Học viện Quốc phòng, Học viện Lục quân, Học viện Hải quân…; thường xuyên được cập nhật kiến thức mới qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng. Hệ thống tri thức từ cơ bản đến chuyên sâu, từ lý luận đến thực tiễn được sắp xếp logic, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sáng tạo. Đặc biệt, nhiều giảng viên có trình độ sau đại học, có khả năng nghiên cứu độc lập, tiếp cận và làm chủ tri thức mới.

Theo kết quả điều tra, khảo sát ở các nhà trường, 91,5% giảng viên có trình độ sau đại học3. Kỹ năng sáng tạo trong chuyên môn của nhiều giảng viên trong việc vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn trong giảng dạy tương đối thuần thục, linh hoạt. Họ không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy, chủ động xây dựng bài giảng điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các tình huống thực tế phong phú, giúp học viên dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng. Qua điều tra, khảo sát có 94% giảng viên ở các nhà trường có phương pháp giảng dạy, xây dựng bài giảng điện tử rất phù hợp và phù hợp4. Nhiều giảng viên đã có những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong giảng dạy, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo, được cấp trên công nhận và nhân rộng…

Bên cạnh những kết quả đạt được, năng lực tư duy sáng tạo của một bộ phận giảng viên vẫn còn những hạn chế nhất định, thể hiện qua việc vận dụng tri thức sáng tạo về lý luận vào thực tiễn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học của một số giảng viên có thời điểm chưa thuần thục, linh hoạt. Sự kết nối giữa “lý luận sách vở” và “thực tiễn cuộc sống” đôi khi còn khoảng cách. Qua điều tra, khảo sát vẫn còn có 8,2% giảng viên ở các nhà trường chưa vận dụng thuần thục, linh hoạt lý luận vào thực tiễn giảng dạy, nghiên cứu khoa học5.

Một số giảng viên, nhất là giảng viên trẻ chưa có nhiều biện pháp mới, phương pháp tư duy sáng tạo mới, cách làm hay để khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học; thường có xu hướng làm theo lối mòn, theo khuôn mẫu có sẵn, thiếu sự chủ động tìm tòi, cải tiến; còn bộc lộ hạn chế về mặt tâm lý sư phạm, thiếu nhanh nhạy trong tiếp cận tri thức mới, kỹ năng sư phạm chưa được tốt. Qua điều tra, khảo sát còn có 6% giảng viên ở các nhà trường có phương pháp giảng dạy, xây dựng bài giảng điện tử chưa phù hợp6.

Nguyên nhân của những hạn chế là do: (1) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đôi khi còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, ít có cơ hội để giảng viên trải nghiệm các tình huống sư phạm đa dạng. Các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm thường diễn ra trong thời gian ngắn, mang tính hình thức, chưa thực sự trang bị cho giảng viên những kỹ năng sư phạm hiện đại; (2) Cơ chế khuyến khích sáng tạo, khen thưởng những đổi mới trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học chưa thực sự mạnh mẽ, hấp dẫn, rõ ràng. Nhiều giảng viên có sáng kiến, cải tiến nhưng chưa được ghi nhận và động viên kịp thời; chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với công sức đầu tư cho đổi mới sáng tạo; (3) Giảng viên còn phải tham gia nhiều hoạt động khác như công tác Đảng, công tác chính trị, quản lý học viên, sinh hoạt đơn vị… Thời gian dành cho nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp giảng dạy bị thu hẹp, ít có thời gian đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới; (4) Nhận thức của một bộ phận giảng viên về tầm quan trọng của tư duy sáng tạo còn hạn chế, ngại thay đổi, ngại rủi ro; chưa thấy được yêu cầu bức thiết phải đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác giáo dục – đào tạo ở các nhà trường trong quân đội.

3. Một số yêu cầu và giải pháp

Thứ nhất, nâng cao khả năng kết hợp tư duy hành động trực quan và tư duy lý luận trong giảng dạy của giảng viên.

Tư duy hành động trực quan là khả năng xử lý tình huống nhanh, dựa trên kinh nghiệm, cảm nhận trực tiếp, thường được huy động trong các hoạt động thực hành, thao trường, diễn tập. Tư duy lý luận là khả năng phân tích, khái quát, hệ thống hóa, rút ra quy luật, nguyên lý. Hai loại tư duy này không đối lập mà bổ trợ cho nhau. Trong giảng dạy ở nhà trường quân đội, giảng viên cần vừa có khả năng lý luận sâu sắc để truyền thụ những vấn đề nền tảng, vừa có khả năng trực quan, linh hoạt để xử lý các tình huống thực tiễn, đặc biệt là các tình huống sát với thực tiễn chiến đấu.

Yêu cầu giảng viên phải thường xuyên tham gia thực tế cơ sở, dự các cuộc diễn tập, nắm bắt những khó khăn, vướng mắc của đơn vị, từ đó đưa vào bài giảng những minh họa sinh động, cụ thể; đồng thời, phải rèn luyện khả năng khái quát hóa từ những kinh nghiệm thực tiễn để nâng tầm lý luận. Sự kết hợp nhuần nhuyễn này giúp bài giảng vừa có chiều sâu khoa học, vừa có tính ứng dụng cao, khơi dậy tư duy sáng tạo của cả người dạy và người học. Việc nâng cao khả năng kết hợp cũng đòi hỏi phải có cơ chế, chính sách phù hợp tạo điều kiện cho giảng viên đi thực tế cơ sở, tham gia các cuộc diễn tập, hội thi; bố trí thời gian hợp lý để giảng viên có thể vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu thực tiễn; khuyến khích giảng viên xây dựng các bài giảng tình huống, các mô hình mô phỏng gắn với thực tiễn chiến đấu..

Thứ hai, kết hợp năng lực nhạy cảm nắm bắt, xử lý thông tin và năng lực tổ chức thực hành giảng dạy, nghiên cứu khoa học của giảng viên.

Trong kỷ nguyên số, thông tin được sinh ra với tốc độ nhanh chóng. Giảng viên ở các nhà trường trong quân đội không chỉ cần tiếp cận thông tin mà còn phải biết chọn lọc, đánh giá độ tin cậy, phát hiện những tri thức mới có giá trị phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu, như định hướng trong Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/1/2026 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội yêu cầu việc “khai thác, sử dụng hiệu quả dữ liệu số”7. Năng lực nhạy cảm nắm bắt, xử lý thông tin bao gồm: khả năng thu thập từ nhiều nguồn, khả năng phát hiện vấn đề then chốt, khả năng phân tích đa chiều, khả năng dự báo xu hướng… Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở nhận thức thôi chưa đủ, giảng viên phải có năng lực tổ chức thực hành giảng dạy và nghiên cứu khoa học, tức là biến những thông tin, tri thức đã xử lý thành bài giảng hấp dẫn, thành đề tài nghiên cứu có giá trị, thành tài liệu học tập hữu ích. Do đó, phải xây dựng cơ chế khuyến khích giảng viên thường xuyên cập nhật thông tin qua các kênh chính thống, tham gia các hội thảo, tọa đàm; đồng thời, tạo điều kiện về thời gian, kinh phí, cơ sở vật chất để họ thực hành giảng dạy theo hướng hiện đại, tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, viết bài báo, sách chuyên khảo.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, giảng viên cần được trang bị kỹ năng khai thác, xử lý và sử dụng thông tin trên môi trường số; biết sử dụng các phần mềm, công cụ trực tuyến phục vụ giảng dạy; biết xây dựng bài giảng điện tử, học liệu số, tổ chức dạy học trực tuyến. Đây là những yêu cầu mới đặt ra đối với năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên trong thời đại công nghệ số.

Thứ ba, kết hợp giữa tư duy quân sự với tư duy chính trị của giảng viên.

Đây là yêu cầu mang tính đặc thù của giảng viên ở các nhà trường quân đội. Tư duy quân sự là khả năng phân tích, đánh giá, xử lý các vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh, chiến tranh, nghệ thuật tác chiến, tổ chức, huấn luyện bộ đội. Tư duy chính trị là khả năng nhận thức đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.

Một giảng viên trong quân đội giỏi không thể chỉ giỏi về chuyên môn quân sự mà thiếu bản lĩnh chính trị, hoặc ngược lại, chỉ thuần túy chính trị mà yếu về kỹ thuật, chiến thuật. Sự kết hợp này đòi hỏi giảng viên phải thường xuyên quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, nhất là những văn bản liên quan đến quốc phòng, an ninh; đồng thời, phải biết lồng ghép một cách tự nhiên, không gượng ép các nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng vào các bài giảng quân sự. Khi phân tích một chiến dịch, một trận đánh, cần chỉ rõ ý nghĩa chính trị – xã hội, tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Sự kết hợp này giúp học viên vừa có tư duy chiến thuật sắc bén, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Cần tăng cường công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ; tổ chức các buổi sinh hoạt chính trị, học tập nghị quyết, thảo luận về tình hình thời sự, chính trị trong và ngoài nước; gắn nội dung giảng dạy với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Từ ba yêu cầu nêu trên, có thể đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên ở các nhà trường quân đội hiện nay:

(1) Đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên theo hướng tăng cường thực hành, trải nghiệm thực tiễn, giảm lý thuyết hàn lâm, kinh viện. Đồng thời, cần xây dựng các chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng sư phạm hiện đại, kỹ năng xử lý tình huống sư phạm, kỹ năng thiết kế và tổ chức dạy học tích cực.

(2) Xây dựng môi trường sư phạm dân chủ, cởi mở, khuyến khích giảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những ý tưởng sáng tạo. Trong đó, cần có cơ chế bảo vệ những người dám đổi mới, chấp nhận rủi ro trong giới hạn cho phép.

(3) Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại, phòng học thông minh, hệ thống mô phỏng, thư viện số, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sáng tạo. Đặc biệt, cần đầu tư các phòng thực hành, phòng mô phỏng tác chiến, phòng học tình huống để giảng viên có thể tổ chức các bài giảng sinh động, sát thực tế.

(4) Hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng đối với những giảng viên có thành tích xuất sắc trong đổi mới sáng tạo, có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, có bài giảng hay, phương pháp dạy học hiệu quả, như: tổ chức các cuộc thi “Giảng viên sáng tạo”, “Bài giảng điện tử xuất sắc”, “Sáng kiến cải tiến dạy học” để tạo động lực cạnh tranh lành mạnh.

(5) Tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà trường quân đội với nhau, cũng như với các cơ sở đào tạo dân sự trong và ngoài nước, mở rộng tầm nhìn, tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới. Có thể mời các chuyên gia, giảng viên giỏi đến từ các trường đại học dân sự, các trường quân sự nước ngoài về báo cáo, trao đổi kinh nghiệm.

(6) Xây dựng văn hóa chất lượng trong nhà trường, coi đổi mới sáng tạo là một giá trị cốt lõi, là yêu cầu bắt buộc đối với mọi giảng viên. Đồng thời, đưa tiêu chí đổi mới sáng tạo vào đánh giá, xếp loại chất lượng giảng viên hàng năm.

4. Kết luận

Năng lực tư duy sáng tạo của giảng viên ở các nhà trường quân đội là một phẩm chất nghề nghiệp quan trọng, có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục – đào tạo của nhà trường. Thực trạng hiện nay cho thấy, bên cạnh những ưu điểm đáng ghi nhận, như: tuyển chọn kỹ lưỡng, tri thức toàn diện, kỹ năng vận dụng tương đối thuần thục, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục, như: việc vận dụng lý luận vào thực tiễn chưa linh hoạt, giảng viên trẻ thiếu phương pháp mới, hạn chế về tâm lý sư phạm. Để khắc phục những hạn chế đó, cần đáp ứng ba yêu cầu phát triển cốt lõi: nâng cao khả năng kết hợp tư duy hành động trực quan và tư duy lý luận; kết hợp năng lực xử lý thông tin và năng lực tổ chức thực hành; kết hợp tư duy quân sự với tư duy chính trị. Việc thực hiện đồng bộ các yêu cầu nêu trên sẽ góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên vừa “hồng”, vừa “chuyên”, thực sự là những “kỹ sư tâm hồn”, “người chỉ huy trên bục giảng”, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1. V. I. Lênin toàn tập (2006). Tập 29. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 179.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 274.
3, 4, 5, 6. Tác giả điều tra, khảo sát thực tế tại các nhà trường: Học viện Chính trị, Học viện Hải quân, Trường Sĩ quan Chính trị, tháng 3/2026.
7. Quân ủy Trung ương (2026). Nghị quyết số 290 -NQ/QUTW ngày 07/01/2026 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
3. Nguyễn Văn Lê (2018). Phát triển tư duy sáng tạo cho giảng viên trẻ trong các học viện, trường sĩ quan quân độiTạp chí Giáo dục quốc phòng – an ninh.
4. Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.
5. Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.
6. Trần Hữu Thắng (2021). Năng lực sáng tạo – yếu tố then chốt của người giảng viên trong nhà trường quân đội hiện nayTạp chí Quốc phòng toàn dân số 4/2021.