Anti-corruption efforts in Vietnam: a social oversight perspective
PGS.TS. Tạ Thị Thanh Tâm
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Tham nhũng như “giặc nội xâm” tại quốc gia nghèo hoặc đang phát triển, cản trở sự đi lên của nền hành chính. Để đẩy lùi tham nhũng, nâng cao tính minh bạch cho nền công vụ, đòi hỏi có sự tham gia của tất cả các lực lượng trong xã hội, trong đó có công dân và các tổ chức với hoạt động giám sát xã hội. Trên cơ sở nhìn nhận thực trạng hoạt động giám sát xã hội của công dân và các tổ chức ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những tồn tại, hạn chế, từ đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường sự giám sát xã hội trong phòng, chống tham nhũng khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: Giám sát xã hội; phòng, chống tham nhũng; tổ chức xã hội; tính minh bạch; nền công vụ.
Abstract: Corruption acts as an “internal enemy” in poor or developing countries, hindering the progress of the administrative system. To combat corruption and enhance transparency in public service, the participation of all sectors of society is required, including citizens and organizations engaged in social oversight. Based on an assessment of the current state of social oversight activities by citizens and organizations in Vietnam in recent years, this article identifies existing issues and limitations and, consequently, proposes several recommendations to strengthen social oversight in the prevention and fight against corruption as the country enters a new era of development.
Keywords: Social oversight; prevention and combating of corruption; civil society organizations; transparency; public service.
1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được triển khai thực hiện quyết liệt ở mọi cấp, mọi ngành. Tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị đối với công tác phòng, chống tham nhũng là không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đối với mọi cán bộ, công chức, viên chức đang đương nhiệm và kể cả người đã nghỉ hưu.
Kế thừa và phát triển những quan điểm của các nhiệm kỳ trước trong công tác phòng, chống tham nhũng, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn hệ thống chính trị, của Nhân dân và toàn xã hội. Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một xã hội “liêm chính, kỷ cương, minh bạch”, phát huy dân chủ, tăng cường kiểm soát quyền lực và tạo điều kiện để Nhân dân tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Đây là định hướng quan trọng nhằm huy động sức mạnh của xã hội trong phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh với các hành vi tham nhũng.
Tuy nhiên, trên thực tế, vai trò giám sát xã hội của công dân, các tổ chức và các chủ thể liên quan trong phòng, chống tham nhũng vẫn chưa được phát huy hết đầy đủ. Việc tham gia giám sát của người dân còn gặp nhiều rào cản về cơ chế, điều kiện bảo đảm và hiệu quả phản hồi thông tin, khiến nguồn lực xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng và yêu cầu đặt ra.
2. Khái lược về giám sát xã hội trong phòng, chống tham nhũng
Giám sát xã hội là một hình thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, là một hoạt động gắn với quá trình kiểm soát quyền lực, thực thi công vụ, được thực hiện bởi công dân và các tổ chức trong xã hội nhằm bảo đảm sự liêm chính và minh bạch trong quản trị công hiện đại1. Giám sát xã hội là một cơ chế phi chính thức, góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài bộ máy công quyền2. Có thể khái quát, giám sát xã hội là quá trình theo dõi, phát hiện, phản ánh của công dân, tổ chức xã hội, báo chí đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức khu vực công, nhằm tăng cường tính minh bạch và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật.
Việc thực hiện những quyền, như: quyền phản ánh, quyền tiếp cận thông tin, khiếu nại, tố cáo… là trách nhiệm của công dân, có tác dụng hỗ trợ sự giám sát “từ trên xuống” của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định, góp phần ngăn chặn sự lạm quyền, tham nhũng; đồng thời, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công.
Việc nhận diện sớm các dấu hiệu tham nhũng có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn vi phạm ngay từ giai đoạn đầu. Trên thực tế, nhiều vụ việc tham nhũng được phát hiện thông qua hoạt động giám sát xã hội của người dân, báo chí và các tổ chức xã hội. Những phản ánh, điều tra hoặc thông tin được lan tỏa trên báo chí và mạng xã hội tạo áp lực buộc các cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền phải giải trình, công khai và minh bạch hóa các quyết định, hành vi quản lý trước công chúng. Trong trường hợp người đứng đầu hoặc cán bộ lãnh đạo, quản lý né tránh trách nhiệm giải trình hoặc chậm xử lý các phản ánh của xã hội, dư luận sẽ tạo ra sức ép đáng kể, góp phần nâng cao tính răn đe và phòng ngừa đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực.
Bên cạnh đó, với tư cách là đối tượng trực tiếp thụ hưởng hoặc chịu sự tác động của các chính sách, pháp luật, người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội thường là những chủ thể sớm nhận diện được những bất cập, sơ hở hoặc khoảng trống trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Thông qua các hoạt động phản ánh, kiến nghị và giám sát, họ cung cấp những thông tin quan trọng giúp Nhà nước kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện thể chế, cơ chế phòng, chống tham nhũng.
Không chỉ góp phần phát hiện và ngăn ngừa tham nhũng, giám sát xã hội còn có ý nghĩa củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền và pháp luật. Khi các ý kiến phản ánh, kiến nghị của người dân được tiếp nhận, xem xét và xử lý nghiêm túc, người dân sẽ cảm nhận được trách nhiệm và tính minh bạch của bộ máy nhà nước, từ đó tăng cường sự đồng thuận xã hội. Ngược lại, nếu thiếu các kênh để công dân bày tỏ ý kiến hoặc những phản ánh về tiêu cực không được quan tâm giải quyết, tâm lý thờ ơ, vô cảm trước các hiện tượng tiêu cực có thể gia tăng, thậm chí dẫn đến việc coi những hành vi sai phạm như một hiện tượng bình thường trong đời sống xã hội. Đây là nguy cơ cần được nhận diện và khắc phục trong quá trình xây dựng xã hội liêm chính, minh bạch và thượng tôn pháp luật.
Trong phòng, chống tham nhũng, các phương diện cần được giám sát thường là các hoạt động liên quan đến việc sử dụng tài chính công; việc quản lý đất đai, phê duyệt dự án, cấp giấy phép đầu tư, xây dựng, đền bù giải tỏa, tái định cư…; việc cung ứng dịch vụ công; việc tuyển dụng, phát triển nhân sự, hay giám sát công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức.
Có thể nói, giám sát xã hội là một trong những cách thức thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng một nền quản trị liêm chính, dân chủ và vì dân.
3. Thực trạng hoạt động giám sát xã hội trong phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam
Một là, giám sát việc sử dụng ngân sách nhà nước.
Theo VCCI năm 2023, kết quả xếp hạng một số nội dung về giám sát ngân sách, minh bạch ngân sách, sự tham gia của công chúng ở Việt Nam đều tăng điểm so với năm 2021 và cao hơn mức trung bình toàn cầu, trong đó, giám sát ngân sách tăng 2 điểm; minh bạch ngân sách tăng 7 điểm, sự tham gia của công chúng cũng tăng 2 điểm3. Tuy nhiên, nhiều bộ, ngành vẫn chưa đáp ứng tốt các yêu cầu về công khai, minh bạch và cập nhật thông tin, tài liệu, làm hạn chế khả năng tiếp cận thông tin và thực hiện quyền giám sát của người dân.
Trong bối cảnh đó, vai trò của báo chí, mạng xã hội và các phương thức giám sát xã hội ngày càng trở nên quan trọng trong việc phát hiện những dấu hiệu thiếu minh bạch và lãng phí trong quản trị công. Thực tiễn cho thấy, khi các vấn đề liên quan đến đầu tư công, mua sắm tài sản công hoặc sử dụng ngân sách nhà nước bị báo chí và cộng đồng mạng phản ánh, nhiều cơ quan, địa phương đã phải rà soát lại quy trình thẩm định, phê duyệt dự án, đồng thời, công khai thông tin và ngân sách đầu tư để giải trình trước dư luận. Điều này cho thấy, giám sát xã hội không chỉ góp phần phát hiện các nguy cơ tham nhũng, lãng phí mà còn tạo áp lực thúc đẩy trách nhiệm giải trình và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
Hai là, giám sát việc quản lý đất đai, phê duyệt dự án, cấp giấy phép.
Tham nhũng trong lĩnh vực đất đai, đặc biệt là tình trạng “tham nhũng chính sách” thường gây ra những hệ lụy kinh tế – xã hội sâu sắc, kéo dài và rất khó khắc phục. Chính vì vậy, bên cạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, pháp luật hiện hành còn chú trọng phát huy vai trò giám sát của các tổ chức chính trị – xã hội và người dân trong quá trình xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật về đất đai.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2024, công dân có quyền phản ánh, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, phát triển quỹ đất và việc thực hiện các chính sách đất đai ở địa phương4. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để người dân tham gia giám sát hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, góp phần phát hiện và ngăn ngừa các hành vi tiêu cực, tham nhũng.
Trên thực tế, nhiều địa phương, như TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã triển khai công khai thông tin về quy hoạch sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư và các quyết định có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cộng đồng thông qua nhiều hình thức như phát thanh, truyền hình, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân hoặc công bố tại các cuộc họp nhân dân định kỳ. Việc mở rộng công khai, minh bạch thông tin không chỉ tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền giám sát mà còn góp phần hạn chế nguy cơ phát sinh tham nhũng, lợi ích nhóm và các sai phạm trong quản lý đất đai.
Ba là, về giám sát việc cung ứng dịch vụ công.
Ở nhiều quốc gia đang phát triển, tình trạng sách nhiễu và “tham nhũng vặt” thường xảy ra trong quá trình cung ứng dịch vụ công, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân, doanh nghiệp. Vì vậy, các hoạt động của chính quyền địa phương, như: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy phép kinh doanh, giải quyết thủ tục hành chính hay thực hiện chính sách an sinh xã hội cần được đặt dưới sự giám sát thường xuyên của các tổ chức xã hội và công dân nhằm hạn chế tiêu cực, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tra cứu thủ tục hành chính, theo dõi tiến độ giải quyết hồ sơ và tham gia giám sát hoạt động của cơ quan công quyền, tháng 11/2024, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai Ứng dụng Công dân số (App Công dân số). Với 12 nhóm tính năng chính, ứng dụng không chỉ hỗ trợ tiếp cận dịch vụ công mà còn cho phép người dân đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan giải quyết thủ tục hành chính, phản ánh các sự cố hạ tầng kỹ thuật và những vấn đề liên quan đến an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội5. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc mở rộng các kênh giám sát xã hội thông qua nền tảng số.
Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã trở thành cấp chính quyền gần dân nhất và trực tiếp cung ứng nhiều dịch vụ công hơn trước. Mặc dù việc triển khai chính phủ điện tử và dịch vụ công trực tuyến đã đạt được những kết quả tích cực, song mức độ tham gia của người dân vẫn còn hạn chế. Theo kết quả PAPI năm 2023, tỷ lệ người dân sử dụng Cổng Dịch vụ công quốc gia chỉ đạt khoảng 8,3%, trong khi tỷ lệ sử dụng Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh chỉ khoảng 7,6%; nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế về kỹ năng số của người dân và điều kiện hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng đều6. Điều này cho thấy tiềm năng giám sát xã hội trên môi trường số vẫn chưa được khai thác đầy đủ.
Thực tiễn cũng cho thấy, vai trò quan trọng của giám sát xã hội trong phát hiện và đấu tranh với các hành vi tham nhũng trong cung ứng dịch vụ công. Điển hình là vụ án Việt Á trong lĩnh vực y tế, khi doanh nghiệp đã chi khoảng 82 tỷ đồng hối lộ cho nhiều cán bộ, lãnh đạo nhằm trúng các gói thầu cung cấp bộ xét nghiệm Covid-19. Vụ án đặc biệt nghiêm trọng này đã dẫn đến việc nhiều lãnh đạo, trong đó có Bộ trưởng Bộ Y tế bị xử lý hình sự7.
Những vụ việc như vậy cho thấy, sự giám sát của người dân, các tổ chức xã hội và báo chí có vai trò quan trọng trong việc phát hiện sai phạm, thúc đẩy minh bạch hóa hoạt động công vụ và góp phần ngăn ngừa, đẩy lùi tham nhũng trong quá trình cung ứng dịch vụ công.
Bốn là, về giám sát việc tuyển dụng, phát triển nhân sự và thanh tra, xử lý kỷ luật.
Công tác tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm và phát triển nhân sự có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ tiêu cực như chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm người thân quen, lợi ích nhóm hoặc lợi dụng công tác cán bộ để vụ lợi cá nhân. Vì vậy, bên cạnh hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, sự tham gia giám sát của công dân, báo chí và các tổ chức xã hội đối với quy trình tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ là hết sức cần thiết nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp tuyển dụng không đúng tiêu chuẩn, bố trí nhân sự không phù hợp hoặc lợi dụng việc điều động, luân chuyển để né tránh trách nhiệm, thanh tra và kiểm tra.
Theo báo cáo của Chính phủ năm 2022, qua kiểm tra gần 100.000 trường hợp liên quan đến công tác cán bộ, các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều sai phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm từ năm 2020 đến giữa năm 2022 và thu hồi hơn 1.200 quyết định liên quan đến công tác này8. Kết quả cho thấy, hiệu quả của cơ chế kiểm tra, giám sát chính thức trong việc phát hiện và xử lý vi phạm về công tác cán bộ. Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý công vụ, ngày 20/10/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 20/10/2023 về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ, đồng thời khuyến khích các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân tham gia giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức.
Thực tiễn cho thấy, nhiều vụ việc sai phạm trong công tác cán bộ được phát hiện từ phản ánh của cử tri và dư luận xã hội. Năm 2023, cử tri thành phố Vũng Tàu đã phản ánh việc giới thiệu nhân sự chưa đủ tiêu chuẩn để bầu giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường tại Phường 12. Trên cơ sở phản ánh này, cơ quan có thẩm quyền đã xem xét lại quy trình nhân sự nhằm bảo đảm đúng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định9. Điều đó cho thấy, giám sát xã hội có thể trở thành kênh thông tin quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
Bên cạnh giám sát công tác tuyển dụng và phát triển nhân sự, giám sát xã hội còn có vai trò quan trọng trong việc theo dõi tính khách quan, nghiêm minh của hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức vi phạm. Thực tế ở một số địa phương vẫn xảy ra tình trạng buông lỏng quản lý, chậm xử lý các vi phạm về đất đai, trật tự xây dựng hoặc sử dụng tài sản công; nhiều trường hợp chỉ được xem xét, xử lý sau khi có phản ánh từ cử tri, báo chí hoặc dư luận xã hội10.
Kết quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng những năm gần đây tiếp tục cho thấy mức độ nghiêm trọng của các hành vi vi phạm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, trong năm 2024, các cấp ủy và ủy ban kiểm tra đã kiểm tra hàng nghìn tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; nhiều tổ chức đảng và đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó có cả cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý11. Tại Gia Lai, chỉ riêng trong năm 2024 đã có hơn 417 đảng viên và 4 tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật12. Những con số cho thấy, yêu cầu tăng cường giám sát quyền lực và kiểm soát hoạt động công vụ vẫn là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.
Nhìn chung, hoạt động giám sát xã hội thời gian qua đã góp phần phát hiện nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực và sai phạm trong công tác cán bộ. Kết quả đó có được nhờ hệ thống pháp luật về giám sát xã hội trong phòng, chống tham nhũng từng bước được hoàn thiện; vai trò của công dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội được khẳng định trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; đồng thời các quyền và công cụ giám sát của người dân tiếp tục được mở rộng trong Luật Đất đai năm 2024.
Tuy nhiên, hoạt động giám sát xã hội vẫn còn những hạn chế nhất định. Một số cơ quan nhà nước chưa bảo đảm đầy đủ tính công khai, minh bạch trong hoạt động và cung cấp thông tin; việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị và tố cáo của người dân ở một số nơi còn mang tính hình thức; đầu mối tiếp nhận và trách nhiệm xử lý thông tin chưa thật sự rõ ràng, gây khó khăn cho công dân khi thực hiện quyền giám sát. Bên cạnh đó, không ít người dân vẫn e ngại khi phản ánh, tố cáo tham nhũng do lo ngại bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình, trong khi cơ chế bảo vệ người tố giác ở một số trường hợp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.
4. Một số khuyến nghị nhằm phát huy hoạt động giám sát xã hội, góp phần phòng, chống tham nhũng
4.1. Hoàn thiện khung pháp lý
Hiện nay, các quy định về cho phép khuyến khích giám sát xã hội nhằm phòng, chống tham nhũng được luật hóa trong Hiến pháp năm 2013, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Thanh tra năm 2022, nhưng vẫn còn thiếu tính hệ thống, từ đó gây cản trở việc giám sát, phản ánh của công dân và tổ chức xã hội trước các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng. Do vậy, khung pháp lý liên quan đến giám sát xã hội trong phòng, chống tham nhũng cần tiếp tục được hoàn thiện.
Thứ nhất, các quy định về phòng, chống tham nhũng thông qua giám sát xã hội cần được bổ sung vào Luật Phòng, chống tham nhũng bằng chương/mục riêng. Những mục, điều khoản này cần quy định rõ về đối tượng giám sát, hình thức giám sát và nghĩa vụ giải trình của cơ quan có sử dụng ngân sách nhà nước hoặc cung ứng dịch vụ công.
Thứ hai, cần luật hóa các quy định về xử lý tội che giấu hành vi tham nhũng, gây khó khăn, cản trở việc giám sát xã hội của công dân, tổ chức đối với tham nhũng trong Luật Phòng, chống tham nhũng.
Thứ ba, để tăng cường sự chủ động, mạnh dạn, không sợ bị trù dập của công dân trong việc phản ánh, tố cáo tham nhũng, cần quy phạm hóa cơ chế bảo vệ người tố cáo, người phản ánh tiêu cực và giám sát viên, đồng thời quy định những chế tài đủ mạnh để xử lý đối với các hành vi đe dọa người tố cáo trong Luật Tố cáo và Luật Phòng, chống tham nhũng. Có thể quy định việc áp dụng mã số định danh cho người phản ánh, người tố cáo, nhằm gia tăng sự an toàn cho họ.
4.2. Thúc đẩy minh bạch và tiếp cận thông tin
Nguyên tắc “dân là gốc”, lấy sự tín nhiệm và mức độ hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là một trong những điểm nhấn quan trọng trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát của xã hội nhằm phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Khi quyền lợi, tiếng nói và kỳ vọng của người dân được tôn trọng, hoạt động giám sát xã hội không còn mang tính hỗ trợ hay ngoại vi mà trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo đảm sự vận hành hiệu quả của nền quản trị quốc gia.
Để tăng cường quyền tiếp cận thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân và các tổ chức xã hội thực hiện chức năng giám sát, cần tiếp tục hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin theo hướng mở rộng danh mục thông tin bắt buộc công khai. Trong đó, cần bổ sung các thông tin liên quan đến báo cáo thanh tra, kết luận kiểm tra, xử lý kỷ luật, hồ sơ đấu thầu, đầu tư công và các lĩnh vực có nguy cơ phát sinh tham nhũng. Đồng thời, dữ liệu giữa các lĩnh vực như đầu tư công, ngân sách, đất đai, đấu thầu và cấp phép cần được kết nối, đồng bộ và cập nhật thường xuyên. Luật cũng nên quy định rõ quyền tiếp cận dữ liệu mở của công dân và tổ chức để phục vụ nghiên cứu, đánh giá và giám sát công tác phòng, chống tham nhũng. Bên cạnh đó, thông tin về quá trình tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị, tố cáo liên quan đến tham nhũng, tiêu cực cần được tích hợp và công khai trên Cổng thông tin quốc gia về phòng, chống tham nhũng.
Cùng với việc mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, cần tăng cường trách nhiệm công khai, minh bạch của các cơ quan nhà nước. Theo đó, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước cần quy định rõ hơn nguyên tắc minh bạch thông tin, đồng thời bổ sung chế tài xử lý đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân cố tình trì hoãn, hạn chế hoặc không thực hiện việc công khai các thông tin thuộc diện phải công khai theo quy định của pháp luật.
4.3. Gia tăng năng lực giám sát xã hội cho công dân, báo chí, truyền thông và các tổ chức
Để báo chí phát huy hiệu quả vai trò giám sát trong phòng, chống tham nhũng, trước hết cần bảo đảm đầy đủ quyền tiếp cận thông tin của nhà báo theo quy định của pháp luật. Khi hoạt động khai thác dữ liệu, tiếp cận hồ sơ, tài liệu và các nguồn dữ liệu mở của phóng viên điều tra đối với cơ quan, tổ chức có liên quan được thực hiện thuận lợi, không bị cản trở hoặc hạn chế trái pháp luật, báo chí mới có điều kiện thực hiện tốt chức năng phát hiện, phản ánh và giám sát các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ nhà báo trong quá trình tác nghiệp, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin và giải trình trước các vấn đề do báo chí phản ánh. Bên cạnh đó, cần luật hóa cơ chế buộc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải phản hồi, trả lời trong thời hạn nhất định đối với các vụ việc, dấu hiệu sai phạm trong thực thi công vụ được báo chí phát hiện và kiến nghị xử lý.
Trong bối cảnh xây dựng chính phủ số và phát triển các nền tảng số phục vụ quản trị quốc gia, hoạt động giám sát xã hội cũng cần được triển khai mạnh mẽ trên môi trường trực tuyến. Các địa phương cần thiết lập và vận hành hiệu quả các đường dây nóng, cổng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị và tố cáo tham nhũng trên nền tảng số; đồng thời giao Mặt trận Tổ quốc các cấp tham gia tiếp nhận, tổng hợp và chuyển thông tin đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý kịp thời.
Kết quả tiếp nhận, xử lý và giải quyết các phản ánh, tố cáo cần được công khai, minh bạch thông qua báo chí, mạng xã hội chính thống hoặc các cuộc đối thoại định kỳ giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội với nhân dân. Việc công khai này không chỉ tạo áp lực xã hội đối với việc xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực mà còn góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền, đồng thời củng cố niềm tin của người dân và các tổ chức xã hội đối với hiệu quả của hoạt động giám sát xã hội.
5. Kết luận
Công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian qua đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị và nâng cao niềm tin của nhân dân. Trong những kết quả đó có sự đóng góp đáng kể của hoạt động giám sát xã hội từ công dân, báo chí, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, phát huy vai trò giám sát của công dân, tổ chức xã hội và báo chí; đồng thời, tăng cường bảo vệ người phản ánh, tố cáo tham nhũng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng. Qua đó, xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, liêm chính, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và thực sự phục vụ nhân dân.
Chú thích:
1. Nguyễn Hồng Thao (2012). Giám sát xã hội và phòng chống tham nhũng. Tạp chí Luật học, số 5/2012.
2. Trần Ngọc Đào (2020). Giám sát xã hội trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, số 9/2020.
3. Việt Nam thay đổi vượt bậc trong công khai, minh bạch ngân sách. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/viet-nam-thay-doi-vuot-bac-trong-cong-khai-minh-bach-ngan-sach-154327.html
4. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024, Điều 231.
5. Ra mắt ứng dụng tương tác giữa chính quyền và người dân Thành phố. https://tphcm.chinhphu.vn/ra-mat-ung-dung-tuong-tac-giua-chinh-quyen-va-nguoi-dan-thanh-pho-101241114165044217.htm
6. Sự tiến bộ trong nhận thức của người dân về các nỗ lực chống tham nhũng tại địa phương và chính quyền điện tử trong bối cảnh lo ngại về tính minh bạch và nền kinh tế. https://www.undp.org/vi/vietnam/press-releases/theo-khao-sat-papi-2023-nguoi-dan-cho-biet-co-cai-thien-trong-no-luc-phong-chong-tham-nhung-va-quan-tri-dien-tu-o-dia-phuong.
7. Việt Á bị cáo buộc chi 82 tỷ đồng hối lộ 6 quan chức như thế nào. https://vnexpress.net/viet-a-bi-cao-buoc-chi-82-ty-dong-hoi-lo-6-quan-chuc-nhu-the-nao-4643394.html
8. Cả nước đã tinh giản hơn 79.000 biên chế trong 5 năm. https://plo.vn/ca-nuoc-da-tinh-gian-hon-79000-bien-che-trong-5-nam-post732817.html
9, 10. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật nghiêm cán bộ vi phạm. https://thanhtra.com.vn/phong-chong-tham-nhung/tin-tuc/can-tang-cuong-kiem-tra-giam-sat-ki-luat-nghiem-can-bo-vi-pham-218168.html
11. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kỷ luật 71 đảng viên trong năm 2024. https://lsvn.vn/trung-uong-bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ky-luat-71-dang-vien-trong-nam-2024-a151649.html
12. Triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa sai phạm. https://baogialai.com.vn/trien-khai-dong-bo-cac-giai-phap-phong-ngua-sai-pham-tieu-cuc-post305445.html
Tài liệu tham khảo:
1. Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 20/10/2023 về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Quốc hội (2015). Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.
4. Quốc hội (2016). Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
5. Quốc hội (2018). Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
6. Quốc hội (2022). Luật Thanh tra năm 2022.
7. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024.



