Nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn ở Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình

Scientific research and practical approval at Ninh Binh Province Political School

ThS. Đinh Thị Phương
Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung phân tích thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn tại Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn sau hợp nhất (từ tháng 7/2025). Trên cơ sở thực hiện các tiêu chí xây dựng trường chính trị chuẩn mức 2 theo Quy định số 396-QĐ/TW của Ban Bí thư, đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, đáp ứng tiêu chí trường chính trị chuẩn mức 2.

Từ khóa: Nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn; Trường Chính trị Ninh Bình; chuẩn mức 2.

Abstract: This article analyzes the current state of scientific research activities and summarizes practical experiences at the Ninh Binh Provincial Political School in the post-merger period (from July 2025). Based on the criteria for building a Level 2 standard political school according to Regulation No. 396-QĐ/TW of the Party Central Committee, the author assesses the achievements, identifies limitations, and proposes solutions to improve the quality of scientific research and meet the criteria for a Level 2 standard political school.

Keywords: Scientific research; summarizing practical experience; Ninh Binh Political School; Level 2 standard.

1. Đặt vấn đề

Sau khi thực hiện hợp nhất ba trường chính trị của các tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam vào ngày 01/7/2025, Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu cao hơn về tổ chức, chức năng và chất lượng hoạt động. Việc sớm đạt chuẩn mức 1 ngay sau hợp nhất không chỉ khẳng định nền tảng ban đầu mà còn đặt ra áp lực tiếp tục hoàn thiện để hướng tới mục tiêu đạt chuẩn mức 2 vào năm 2028. Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn được xác định là tiêu chí quyết định, phản ánh trực tiếp năng lực học thuật, khả năng tham mưu và đóng góp của nhà trường đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Do vậy, việc đánh giá đúng thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Theo Quy định số 393-QĐ/TW ngày 05/01/2026 của Ban Bí thư, trường chính trị cấp tỉnh được xác định là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tỉnh ủy, thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn. Trong đó, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được xác định rất rõ: “tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương”. Nội hàm của nhiệm vụ này đòi hỏi nhà trường phải chủ động phát hiện, phân tích các vấn đề thực tiễn nảy sinh, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc hoạch định, hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền địa phương. Như vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học vừa mang tính lý luận, vừa mang tính ứng dụng trực tiếp, gắn chặt với yêu cầu phát triển của địa phương ở từng giai đoạn.

Nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động của trường chính trị, tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Thông qua nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng viên không chỉ củng cố, phát triển tri thức lý luận mà còn có điều kiện kiểm chứng, bổ sung và cập nhật những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý ở địa phương. Quá trình tổng kết thực tiễn giúp hệ thống hóa kinh nghiệm, phát hiện quy luật, từ đó chuyển hóa thành nội dung giảng dạy mang tính khái quát và giá trị ứng dụng cao. Đồng thời, hoạt động này còn góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận, khả năng phân tích chính sách và năng lực tham mưu của giảng viên. Vì vậy, chất lượng nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn không chỉ phản ánh trình độ học thuật của nhà trường mà còn là thước đo quan trọng đối với hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong bối cảnh hiện nay.

Căn cứ Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Ban Bí thư (thay thế Quy định số 11-QĐ/TW trước đây), các tiêu chí đối với hoạt động nghiên cứu khoa học trong xây dựng trường chính trị đạt chuẩn mức 2 được xác định với yêu cầu cao, mang tính chuẩn hóa và định lượng rõ ràng. Trước hết, về quy mô và tần suất nhiệm vụ khoa học, nhà trường phải chủ trì hoặc tham gia thực hiện tối thiểu 06 nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh trở lên trong chu kỳ 5 năm (đối với đơn vị có trên 70 cán bộ), qua đó khẳng định năng lực tổ chức và triển khai nghiên cứu ở cấp độ địa phương. Bên cạnh đó, yêu cầu tổ chức ít nhất 01 hội thảo khoa học cấp Bộ hoặc tương đương không chỉ phản ánh năng lực học thuật mà còn thể hiện khả năng kết nối và lan tỏa tri thức trong hệ thống các trường chính trị.

Đáng chú ý, chuẩn mức 2 nhấn mạnh tính ứng dụng của nghiên cứu thông qua chỉ tiêu có tối thiểu 2 báo cáo kiến nghị, tư vấn chính sách được cơ quan Đảng, chính quyền địa phương tiếp nhận và sử dụng. Đây là tiêu chí có tính “định tính cao”, đòi hỏi sản phẩm nghiên cứu không dừng lại ở công bố học thuật mà phải chuyển hóa thành luận cứ phục vụ trực tiếp cho quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Đồng thời, yêu cầu về công bố khoa học được quy định chặt chẽ theo từng ngạch giảng viên; theo đó, giảng viên cao cấp phải có ít nhất 4 bài báo khoa học, giảng viên chính có 3 bài và giảng viên có 2 bài đăng trên các tạp chí có mã số ISSN hoặc tạp chí nước ngoài. Những tiêu chí này đặt ra áp lực nâng cao tính đồng bộ về số lượng, chất lượng và tính ứng dụng của hoạt động nghiên cứu khoa học, qua đó phản ánh rõ nét yêu cầu chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa đội ngũ giảng viên trong bối cảnh hiện nay.

2. Thực trạng nghiên cứu khoa học tại Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình

Kể từ thời điểm hợp nhất (01/7/2025) đến nay, hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn của Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình đã có những chuyển biến tích cực, từng bước thích ứng với yêu cầu mới trong lộ trình xây dựng trường chuẩn mức 2. Những kết quả bước đầu đạt được gắn liền với quá trình kiện toàn tổ chức, ổn định bộ máy và phát huy nguồn lực của đội ngũ.

(1) Về đội ngũ cán bộ, viên chức và giảng viên (tính đến tháng 3/2026).

Sau khi sáp nhập ba trường chính trị của các tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam, bộ máy tổ chức của nhà trường đã được hình thành với quy mô 102 cán bộ, viên chức, trong đó đội ngũ giảng viên gồm 81 người, chiếm 79,4%. Tỷ lệ này phản ánh sự tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ chuyên môn, tạo nền tảng quan trọng cho việc phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học.

(2) Về trình độ chuyên môn.

Đội ngũ giảng viên có 3 tiến sĩ (3,7%) và 78 thạc sĩ (96,3%); đồng thời, nhà trường đang tích cực cử 18 giảng viên tham gia đào tạo trình độ tiến sĩ, trong đó có 6 trường hợp bắt đầu học sau hợp nhất. Điều này cho thấy sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nghiên cứu theo hướng chuẩn hóa và lâu dài. Xét về chức danh nghề nghiệp, giảng viên chính chiếm tỷ lệ 67,9% (55 người), giảng viên chiếm 32,1% (26 người), góp phần bảo đảm tính ổn định và tính kế thừa của đội ngũ. Bên cạnh đó, trình độ lý luận chính trị của giảng viên cơ bản đáp ứng yêu cầu, với 80 người đạt trình độ cao cấp và 19 người đạt trình độ trung cấp, tạo nền tảng vững chắc cho việc triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với nhiệm vụ chính trị của nhà trường.

Trong năm 2025, các hoạt động chuyên môn của nhà trường đã được triển khai đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng, nhà trường đã tổ chức 33 lớp Trung cấp lý luận chính trị với 1.826 học viên, 22 lớp bồi dưỡng với 2.870 học viên và phối hợp quản lý 04 lớp Cao cấp lý luận chính trị với 225 học viên. Tổng số giờ giảng đạt 23.620 giờ, vượt 4.500 giờ so với kế hoạch tỉnh giao, cho thấy cường độ hoạt động chuyên môn cao và khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời là điều kiện thực tiễn quan trọng để giảng viên tích lũy kinh nghiệm, phát hiện vấn đề nghiên cứu và bổ sung nội dung giảng dạy.

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, nhà trường đã hoàn thành 04 đề tài khoa học cấp tỉnh theo đúng tiến độ giai đoạn 2024-2025, đồng thời nghiệm thu 9 đề tài khoa học cấp trường, qua đó từng bước hình thành hệ thống sản phẩm nghiên cứu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Hoạt động hội thảo và xuất bản được duy trì thường xuyên, với 2 hội thảo khoa học cấp tỉnh và 11 hội thảo cấp trường được tổ chức, cùng với việc xuất bản 2 cuốn sách chuyên khảo và phát hành 9 số “Thông tin lý luận và thực tiễn”. Đây là những kênh quan trọng để trao đổi học thuật, lan tỏa tri thức và công bố kết quả nghiên cứu.

Công bố khoa học tiếp tục có chuyển biến tích cực, với 21 bài viết đăng trên các tạp chí có mã số ISSN và 76 bài viết đăng trên trang thông tin điện tử của nhà trường, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và khẳng định vai trò học thuật của đội ngũ giảng viên. Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu thực tế được chú trọng, với 6 đoàn cán bộ, giảng viên và 19 lớp đi khảo sát tại cơ sở, tập trung vào các mô hình chính quyền địa phương hai cấp, qua đó tạo nguồn tư liệu thực tiễn phong phú phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy.

Trong 3 tháng đầu năm 2026 (tính đến 31/3/2026), các hoạt động này tiếp tục được duy trì với tiến độ tích cực. Nhà trường đang tổ chức giảng dạy 15 lớp Trung cấp lý luận chính trị, trong đó đã mở mới 3 lớp theo kế hoạch năm. Về nghiên cứu khoa học, đã triển khai giao nhiệm vụ 6 đề tài cấp trường, đồng thời tổ chức 2 hội thảo cấp khoa và 1 hội thảo cấp trường. Công tác xuất bản tiếp tục được quan tâm, với việc phát hành Bản tin “Thông tin lý luận và thực tiễn” số 43 và hoàn thiện Tập bài giảng “Thực tiễn kinh nghiệm xây dựng và phát triển tỉnh Ninh Bình” để trình thẩm định. Những kết quả này cho thấy sự gắn kết ngày càng rõ nét giữa hoạt động chuyên môn với nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn, phù hợp với yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn mức 2 trong giai đoạn hiện nay.

(3) Kết quả về chuyển đổi số và xây dựng trường chuẩn.

Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình là đơn vị hợp nhất đầu tiên trong cả nước được công nhận đạt chuẩn mức 1 (ngày 09/12/2025), tạo nền tảng quan trọng cho lộ trình hướng tới chuẩn mức 2. Cùng với đó, chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, với 100% cán bộ, viên chức sử dụng hệ thống điều hành tác nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành. Đội ngũ giảng viên bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thiết kế bài giảng và tài liệu học tập, qua đó hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học. Nhà trường cũng đang triển khai dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung và hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi số” (dự kiến nghiệm thu năm 2029), tạo nền tảng dữ liệu quan trọng phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, khi đối chiếu với tiêu chí IV (nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn) của chuẩn mức 2 theo Quy định số 396-QĐ/TW, hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường vẫn còn khoảng cách đáng kể so với yêu cầu đặt ra; hiện mới đáp ứng 1/6 chỉ tiêu, còn 5/6 chỉ tiêu chưa đạt.

Một, về nội tại hoạt động, công tác tổng kết thực tiễn chưa thực sự trở thành một trục hoạt động nổi bật; việc khai thác, hệ thống hóa và đưa dữ liệu thực tiễn vào giảng dạy còn hạn chế. Số lượng giảng viên có công bố trên các tạp chí có mã số ISSN vẫn còn ở mức thấp, với khoảng 31/83 giảng viên đáp ứng tiêu chí này, cho thấy năng lực công bố khoa học của đội ngũ giảng viên chưa đồng đều.

Hai, các điều kiện bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu khoa học còn có những bất cập nhất định. Hạ tầng cơ sở vật chất chưa được hoàn thiện đồng bộ; một số hạng mục như nhà ăn, nhà nghỉ cán bộ, phòng chức năng còn thiếu. Tổng diện tích khuôn viên hiện đạt 24.908 m², chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu 30.000 m² theo chuẩn mức 2.

Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Quá trình hợp nhất khiến đội ngũ giảng viên có sự chênh lệch về năng lực nghiên cứu, cần thời gian để thích nghi và nâng cao trình độ. Đồng thời, áp lực thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng với khối lượng lớn đã phần nào hạn chế thời gian dành cho nghiên cứu. Ngoài ra, nguồn lực tài chính cho hoạt động nghiên cứu, đặc biệt là hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh và công bố khoa học chất lượng cao, vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các tiêu chí của chuẩn mức 2 trong giai đoạn hiện nay.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực đội ngũ.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học; trong đó, trọng tâm là xây dựng cơ chế khuyến khích, hỗ trợ thiết thực đối với đội ngũ giảng viên, đặc biệt là chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ học thuật. Nhà trường cần ưu tiên nguồn lực để cử cán bộ, giảng viên tham gia đào tạo tiến sĩ theo hướng có kế hoạch, có trọng tâm, gắn với quy hoạch phát triển đội ngũ; phấn đấu đến năm 2028, 100% lãnh đạo nhà trường và ít nhất 50% lãnh đạo khoa có trình độ tiến sĩ. Đồng thời, cần thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng về phương pháp nghiên cứu khoa học, kỹ năng công bố các bài báo trong và ngoài nước, cũng như năng lực số, nhằm nâng cao toàn diện năng lực nghiên cứu của đội ngũ trong bối cảnh chuyển đổi số.

Thứ hai, tăng cường triển khai nhiệm vụ khoa học và nâng cao chất lượng công bố các công trình khoa học.

Nhà trường cần xác định rõ các hướng nghiên cứu trọng tâm, gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Hằng năm, phấn đấu chủ trì hoặc tham gia thực hiện ít nhất 1 đề tài khoa học cấp tỉnh hoặc tương đương, tập trung vào các lĩnh vực có tính thời sự và giá trị thực tiễn cao như mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phát triển kinh tế di sản, xây dựng đô thị di sản. Bên cạnh đó, trước năm 2028, cần tổ chức ít nhất 1 hội thảo khoa học cấp bộ, đồng thời xây dựng và hoàn thiện tối thiểu 2 báo cáo kiến nghị, tư vấn chính sách có giá trị, được các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và sử dụng.

Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế giao chỉ tiêu nghiên cứu và công bố khoa học cụ thể cho từng giảng viên theo vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, bảo đảm không chỉ đạt mà còn vượt các yêu cầu tối thiểu của chuẩn mức 2. Việc nâng cao chất lượng công bố cần gắn với việc lựa chọn tạp chí có uy tín, có mã số ISSN hoặc tạp chí quốc tế, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng nội dung, tránh chạy theo số lượng đơn thuần.

Thứ ba, đổi mới công tác tổng kết thực tiễn và xây dựng mô hình điển hình.

Cùng với nghiên cứu lý luận, cần đặc biệt chú trọng đổi mới công tác tổng kết thực tiễn theo hướng có hệ thống, có chiều sâu và gắn chặt với yêu cầu của địa phương. Nhà trường cần xây dựng và triển khai các mô hình điển hình tiên tiến trong đào tạo và nghiên cứu, phấn đấu đến năm 2027 có các mô hình được cấp có thẩm quyền công nhận, như mô hình “Tuyển chọn – Huấn luyện – Tạo động lực” hay “Lớp học gắn với địa chỉ đỏ”. Đồng thời, cần tăng cường tổ chức các đoàn nghiên cứu thực tế tại cơ sở, giúp giảng viên trực tiếp tiếp cận, phân tích và tổng kết các mô hình thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh triển khai chính quyền địa phương hai cấp.

Thứ tư, hiện đại hóa hạ tầng và đẩy mạnh chuyển đổi số.

Việc phát triển hạ tầng kỹ thuật và chuyển đổi số có ý nghĩa then chốt trong việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học. Nhà trường cần tiếp tục triển khai hiệu quả dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung và Hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi số”, bảo đảm tích hợp và khai thác hiệu quả các nguồn dữ liệu phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu và quản lý. Trong đó, cần sớm hoàn thiện và đưa vào vận hành hệ thống thư viện điện tử liên thông với các trường chính trị khác trước năm 2026, tiến tới nghiệm thu toàn bộ dự án vào năm 2029. Song song với đó, cần có lộ trình mở rộng và hoàn thiện cơ sở vật chất, phấn đấu đến năm 2027 đạt diện tích tối thiểu 30.000 m² theo yêu cầu của chuẩn mức 2, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, học thuật và hợp tác nghiên cứu trong giai đoạn phát triển mới.

4. Kết luận

Hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn giữ vai trò quyết định trong lộ trình xây dựng Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình đạt chuẩn mức 2. Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, song vẫn còn khoảng cách đáng kể so với các tiêu chí đã đặt ra. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, đội ngũ, nhiệm vụ khoa học, tổng kết thực tiễn và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu. Đây không chỉ là điều kiện để đạt chuẩn mà còn góp phần nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu và tham mưu chính sách của nhà trường trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:
1. Ban Bí thư (2026). Quy định số 393-QĐ/TW ngày 05/01/2026 về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trường Chính trị tỉnh, thành phố.
2. Ban Bí thư (2026). Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về trường chính trị chuẩn.
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình (2026). Quy định số 489-QĐ/TU ngày 19/3/2026 về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình.
5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2026). Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG ngày 20/3/2026 ban hành Quy chế quản lý đào tạo, bồi dưỡng của Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
6. Tỉnh ủy Ninh Bình (2026). Đề án số 03-ĐA/TU ngày 26/3/2026 về xây dựng và phát triển Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình đạt chuẩn mức 2 giai đoạn 2026-2030.