(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 29/6/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản trị thích ứng trong khu vực công: thách thức và giải pháp”. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Trưởng Khoa Hành chính học chủ trì Hội thảo. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến tới các Phân hiệu của Học viện.

Hội thảo có sự tham dự của các đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài Học viện: TS. Bùi Phương Đình – Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công; PGS.TS. Ngô Phúc Hạnh, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Tài chính; TS. Nguyễn Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng; ThS. Nguyễn Đức Minh, Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Hội đồng tư vấn cải cách Thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ; PGS.TS. Ngô Thành Can, nguyên Phó Trưởng khoa, Khoa Tổ chức và Quản lý nhân sự, Học viện Hành chính Quốc gia; TS. Chu Xuân Khánh, nguyên Trưởng Khoa Quản lý và Phát triển Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia; cùng đông đảo giảng viên, học viên, sinh viên Khoa Hành chính học.

Phát biểu chỉ đạo Hội thảo, TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công khẳng định, thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển với những biến động nhanh chóng, sâu rộng và khó dự báo hơn bao giờ hết. Những tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, biến đổi khí hậu, các rủi ro phi truyền thống, dịch bệnh, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia cùng những thay đổi trong cấu trúc kinh tế – xã hội đang đặt ra yêu cầu mới đối với quản trị quốc gia và quản trị công.
Trong bối cảnh đó, khả năng thích ứng ngày càng trở thành một năng lực cốt lõi của hệ thống quản trị công hiện đại. Một nền quản trị hiệu quả không chỉ cần bảo đảm tính ổn định, kỷ cương và tuân thủ pháp luật mà còn phải có khả năng dự báo, học hỏi, điều chỉnh và phản ứng linh hoạt trước những thay đổi của môi trường phát triển. Vì vậy, quản trị thích ứng không chỉ là sự phản ứng trước các biến động mà còn là năng lực chủ động nhận diện cơ hội, quản trị rủi ro và tạo lập các điều kiện cho phát triển bền vững.
Định hướng nội dung thảo luận, TS. Bùi Phương Đình mong muốn các đại biểu tham gia Hội thảo tập trung trao đổi, làm rõ bốn vấn đề trọng tâm: (1) Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của quản trị thích ứng trong khu vực công; (2) Nhận diện đầy đủ những cơ hội, thách thức và rào cản đối với quản trị thích ứng trong khu vực công ở Việt Nam hiện nay; (3) Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm thúc đẩy quản trị thích ứng trong khu vực công; (4) Nghiên cứu và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về quản trị thích ứng phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải cho biết, trong thời gian qua, nhiều cơ quan, tổ chức trong khu vực công ở Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực trong việc ứng dụng công nghệ số, cải tiến quy trình quản lý, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công và tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình quản trị. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, như: năng lực thích ứng của một số cơ quan, tổ chức còn chưa đồng đều; khả năng dự báo và quản trị rủi ro còn hạn chế; cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp chưa thực sự hiệu quả; việc khai thác dữ liệu và ứng dụng công nghệ mới trong quản trị còn gặp nhiều khó khăn. Những vấn đề này đòi hỏi cần có những nghiên cứu chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực thích ứng của khu vực công trong bối cảnh mới.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Hội thảo được tổ chức với mong muốn tạo ra một diễn đàn để các nhà khoa học, các nhà quản lý và những người hoạt động thực tiễn cùng trao đổi, chia sẻ và luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản trị thích ứng trong khu vực công. Thông qua Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải hy vọng sẽ tiếp nhận được những kết quả nghiên cứu mới, những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị và các đề xuất, kiến nghị khoa học nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận, nâng cao hiệu quả quản trị khu vực công ở Việt Nam, đồng thời, phục vụ thiết thực cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy và phát triển đội ngũ giảng viên của Khoa Hành chính học nói riêng và Học viện Hành chính và Quản trị công nói chung.

Với tham luận “Quản trị thích ứng trong khu vực công trước tác động của trí tuệ nhân tạo (AI): Cơ hội và thách thức đối với năng lực ra quyết định của công chức”, PGS.TS. Ngô Phúc Hạnh nhận định,trước những biến động ngày càng phức tạp của môi trường quản trị hiện đại, mô hình quản trị truyền thống dựa trên kiểm soát theo cấp bậc và quy trình cứng nhắc không còn phù hợp. Thay vào đó, quản trị thích ứng đang trở thành xu hướng tất yếu, nhấn mạnh khả năng học hỏi, điều chỉnh chính sách linh hoạt và ra quyết định dựa trên dữ liệu nhằm nâng cao năng lực ứng phó với những thay đổi nhanh chóng của môi trường. Trong bối cảnh đó, AI không chỉ là công cụ hỗ trợ kỹ thuật mà đang trở thành yếu tố quan trọng làm thay đổi phương thức vận hành của nền hành chính và quá trình hoạch định chính sách công.
PGS.TS. Ngô Phúc Hạnh chỉ ra những cơ hội nổi bật AI mang lại cho năng lực ra quyết định của công chức. Thứ nhất, AI thúc đẩy quá trình ra quyết định dựa trên bằng chứng thông qua việc phân tích dữ liệu đa nguồn theo thời gian thực, giúp giảm sự phụ thuộc vào cảm tính và nâng cao chất lượng hoạch định chính sách. Thứ hai, AI góp phần tự động hóa các công việc hành chính mang tính lặp lại như tổng hợp dữ liệu, xử lý hồ sơ hay dự thảo văn bản, từ đó giúp công chức có thêm thời gian tập trung vào các hoạt động mang tính chiến lược như phân tích chính sách, đối thoại và xử lý các vấn đề phức tạp. Thứ ba, AI nâng cao năng lực dự báo và quản trị rủi ro bằng cách mô phỏng các kịch bản phát triển, hỗ trợ cơ quan nhà nước chuyển từ trạng thái phản ứng bị động sang chủ động phòng ngừa và thích ứng với các biến động kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội cũng có các thách thức lớn trong quá trình ứng dụng AI vào quản trị công, gồm: (1) Nguy cơ phụ thuộc quá mức vào công nghệ, khiến công chức giảm khả năng tư duy phản biện và dễ chấp nhận các kết quả do AI đề xuất mà không đánh giá đầy đủ tính phù hợp với bối cảnh thực tiễn; (2) Khoảng cách về năng lực số khi nhiều công chức chưa được trang bị kiến thức về dữ liệu và thuật toán để có thể kiểm định hoặc phản biện các khuyến nghị do AI tạo ra; (3) Các vấn đề liên quan đạo đức và trách nhiệm giải trình, bởi khi quyết định hành chính được hỗ trợ hoặc tự động hóa bởi AI thì việc xác định trách nhiệm pháp lý giữa công chức và hệ thống công nghệ trở nên phức tạp, trong khi tính thiếu minh bạch của các thuật toán có thể ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với cơ quan nhà nước.
Từ những phân tích trên, PGS.TS. Ngô Phúc Hạnh đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực ra quyết định của công chức trong kỷ nguyên AI, gồm: hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng khung đạo đức AI trong khu vực công; bảo đảm nguyên tắc AI chỉ đóng vai trò hỗ trợ, còn con người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với quyết định hành chính; đổi mới chương trình đào tạo công chức theo hướng phát triển năng lực số, tư duy dữ liệu và kỹ năng đánh giá kết quả do AI tạo ra; kiến nghị xây dựng cơ chế thử nghiệm chính sách có kiểm soát (sandbox) để khuyến khích đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường liên thông dữ liệu quốc gia và mở rộng hợp tác giữa cơ quan nhà nước, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ nhằm phát triển các giải pháp AI phù hợp với điều kiện quản trị của Việt Nam.

Tham luận tại Hội thảo, PGS.TS. Ngô Thành Can làm rõ các đặc trưng cơ bản của quản trị thích ứng, bao gồm: quản trị dựa trên sự tham gia và hợp tác của nhiều chủ thể; học hỏi thông qua thực hành và thử nghiệm chính sách; tổ chức theo mô hình mạng lưới và phân quyền linh hoạt; phản hồi nhanh trước những thay đổi của môi trường; đồng thời xây dựng nguồn nhân lực có tư duy đổi mới, chấp nhận rủi ro trong phạm vi kiểm soát và làm chủ công nghệ số. Theo ông, đây là những đặc điểm giúp nền hành chính nâng cao khả năng thích ứng trước các thách thức mới như chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, khủng hoảng xã hội hay những thay đổi nhanh chóng của môi trường phát triển. Trên cơ sở đó, PGS.TS. Ngô Thành Can phân tích vai trò mới của đội ngũ cán bộ, công chức trong mô hình quản trị thích ứng. Trong bối cảnh thay đổi liên tục, đội ngũ công chức cũng cần trở thành những người dẫn dắt thay đổi, truyền cảm hứng, tạo dựng niềm tin và hỗ trợ cộng đồng thích ứng với các biến động của môi trường quản trị. Xuất phát từ yêu cầu trên, ông đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu quản trị thích ứng, gồm: xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với vị trí việc làm và khung năng lực; phát triển hệ sinh thái số phục vụ đào tạo (digital training ecosystem); đổi mới nội dung theo hướng phát triển tư duy chiến lược, quản trị dữ liệu, quản trị rủi ro, kỹ năng chuyển đổi số và trí tuệ cảm xúc; hiện đại hóa phương pháp đào tạo thông qua học tập trải nghiệm và cá nhân hóa; hoàn thiện cơ chế đánh giá, giám sát sau đào tạo và tạo điều kiện để công chức được rèn luyện trong các môi trường thực tiễn có nhiều thách thức.

Dưới góc nhìn kinh tế tư nhân, ThS. Nguyễn Đức Minh phân tích thực trạng quản trị thích ứng trong khu vực công ở Việt Nam, qua đó làm rõ khoảng cách giữa tốc độ thay đổi của môi trường phát triển và năng lực phản ứng của hệ thống quản lý nhà nước. Theo đó, “khoảng cách thích ứng” của khu vực công hiện nay không xuất phát từ sự thiếu hụt quy định pháp luật mà từ sự lệch pha giữa tốc độ thay đổi của thực tiễn với chu kỳ xây dựng và thực thi chính sách, với 5 biểu hiện nổi bật sau: (1) Công nghệ mới xuất hiện nhanh hơn khả năng điều chỉnh của hệ thống pháp luật, điển hình là các lĩnh vực như thiết bị bay không người lái (UAV), AI hay các mô hình kinh doanh số; (2) Quá trình thực thi chính sách còn chậm do nhiều quy trình hành chính chưa được số hóa toàn diện, dẫn đến sự chênh lệch giữa tốc độ vận hành của nền kinh tế số với quy trình xử lý hồ sơ hành chính truyền thống; (3) Các vấn đề phát triển ngày càng mang tính liên ngành trong khi bộ máy quản lý vẫn vận hành chủ yếu theo cơ cấu ngành dọc, khiến quá trình phối hợp giữa các cơ quan còn nhiều bất cập và thiếu đầu mối chịu trách nhiệm tổng thể; (4) Việc chuyển từ mô hình quản lý dựa trên tuân thủ sang quản lý dựa trên rủi ro còn gặp nhiều khó khăn do thiếu công cụ phân tích dữ liệu phục vụ đánh giá rủi ro; (5) Năng lực quản trị dữ liệu của khu vực công vẫn chưa theo kịp tốc độ số hóa của nền kinh tế, khiến nhiều quyết định quản lý vẫn dựa chủ yếu vào báo cáo định kỳ thay vì dữ liệu thời gian thực.
ThS. Nguyễn Đức Minh khẳng định, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống pháp luật mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi khả năng phản ứng nhanh, điều phối hiệu quả và ra quyết định kịp thời của bộ máy quản lý nhà nước. Vì vậy, cải cách thể chế trong giai đoạn tới cần được hiểu không chỉ là sửa đổi quy định pháp luật mà còn là quá trình nâng cao năng lực quản trị của khu vực công thông qua đổi mới phương thức điều hành, ứng dụng dữ liệu và công nghệ, tăng cường phối hợp liên ngành và phát triển đội ngũ cán bộ có tư duy thích ứng.
Xoay quanh chủ đề quản trị thích ứng trong khu vực công, Hội thảo nhận được nhiều ý kiến chia sẻ từ các chuyên gia, nhà khoa học với các tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. TS. Nguyễn Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng, phân tích kinh nghiệm quốc tế về quản trị thích ứng trong 3 lĩnh vực tiêu biểu: ứng phó với biến đổi khí hậu của Na Uy; quản trị công nghệ và chuyển đổi số của Estonia và Singapore; kinh nghiệm cải cách tổ chức bộ máy của Trung Quốc. TS. Chu Xuân Khánh nêu lên tầm quan trọng của quản trị thích ứng không chỉ đối với cả hệ thống mà từng tổ chức công cũng phải có năng lực quản trị thích ứng, từ đó dẫn đến yêu cầu phải xây dựng một nền tảng số dùng chung phục vụ quản trị trong khu vực công. PGS.TS. Nguyễn Thị Vân Hương phân tích vai trò của lãnh đạo thích ứng trong khu vực công. TS. Phùng Thị Phong Lan nêu lên những yêu cầu chuyển đổi tư duy mang tính nền tảng trong khu vực công ở Việt Nam. TS. Trương Quốc Việt đưa ra khung năng lực thích ứng của cán bộ, công chức; đồng thời phân tích khoảng cách năng lực thích ứng của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam trong bối cảnh biến động, phức tạp, bất định.
Kết luận Hội thảo, PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Hải khẳng định tính cấp thiết của quản trị thích ứng khi không chỉ là một xu thế mà đã trở thành một yêu cầu khách quan đối với khu vực công của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam ở giai đoạn hiện nay. Quản trị thích ứng không chỉ là đặc quyền của khu vực công mà là cần thiết với bất kì tổ chức nào, song khu vực công với sứ mệnh đặc biệt phục vụ nhân dân, phục vụ cộng đồng đã khiến cho quản trị thích ứng trong khu vực công có tầm quan trọng và ý nghĩa hơn bao giờ hết. Với những kết quả nghiên cứu, đóng góp, kiến nghị và đề xuất từ các đại biểu tham gia Hội thảo, PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Hải tin tưởng đây sẽ là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ nghiên cứu khoa học cũng như đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng và tham mưu chính sách của Học viện Hành chính và Quản trị công trong thời gian tới.

Đinh Hương



