Đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh hiện nay

Innovation in the delivery of public administrative services in the current context

TS. Thiều Thị Thu Hương
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh Việt Nam triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công trở thành yêu cầu cấp thiết để xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ, hiệu quả. Bài viết phân tích cơ sở chính trị – pháp lý, đánh giá kết quả đạt được về cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hành chính và tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ trong thời gian qua. Trên cơ sở đó, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại và đề xuất giải pháp tiếp tục đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, tăng cường ứng dụng công nghệ số, bảo đảm minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả cao hơn.

Từ khóa: Đổi mới dịch vụ hành chính công; cải cách thủ tục hành chính; chính quyền địa phương hai cấp; chuyển đổi số; dịch vụ công trực tuyến.

Abstract: In the context of Vietnam’s implementation of the two-tier local government model and the acceleration of national digital transformation, innovation in the delivery of public administrative services has become an urgent requirement for building a modern, service-oriented, and efficient public administration. This article analyzes the political and legal foundations for such innovation, evaluates the achievements in administrative procedure reform, administrative modernization, and the organization of public administrative service delivery in recent years. Based on this analysis, the article identifies the remaining limitations and proposes solutions to further innovate the delivery of public administrative services by placing citizens and businesses at the center, strengthening the application of digital technologies, and ensuring greater transparency, professionalism, and efficiency.

Keywords: Innovation in the delivery of public administrative services; administrative procedure reform; two-tier local government; digital transformation; online public services.

1. Đặt vấn đề

Đổi mới và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công là một trong những nội dung trọng tâm xuyên suốt tiến trình cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam. Trong suốt quá trình phát triển, từ yêu cầu cải cách thủ tục hành chính theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010, giai đoạn tập trung vào đơn giản hóa thủ tục hành chính, xóa bỏ các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, đến nay, trọng tâm đổi mới đã mở rộng sang cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến toàn trình, dịch vụ hành chính công phi địa giới hành chính và dịch vụ hành chính công dựa trên dữ liệu số… Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện cách mạng về tinh gọn bộ máy và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đã làm thay đổi cấu trúc bộ máy và quy trình thực hiện, trong đó cấp xã trở thành cấp trực tiếp cung ứng phần lớn dịch vụ hành chính công.  

2. Cơ sở chính trị và pháp lý về đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công

Để đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương theo hướng hiện đại, hiệu quả, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã đặt ra yêu cầu rà soát, điều chỉnh, sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động của chính quyền địa phương, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch, chuyên nghiệp; tổ chức thực hiện có hiệu quả mô hình trung tâm phục vụ hành chính công, cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở các cấp.

Xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%,Quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành.

Tiếp đó, tại Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã đặt ra yêu cầu cần phải đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng phục vụ, kiến tạo phát triển, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân, xây dựng nền hành chính lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nếu trước đây nền hành chính chủ yếu thực hiện chức năng quản lý, kiểm soát thì hiện nay phải chuyển mạnh sang chức năng hỗ trợ, phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Đảng xác định nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính trong thời gian tới là “ Đột phá mạnh mẽ về thể chế; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả… cải cách thủ tục hành chính triệt để, bảo đảm hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”1.

Gần đây nhất, Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” đã yêu cầu phân cấp thủ tục hành chính để bảo đảm cấp Bộ chỉ thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý; cắt giảm tối thiểu 30% các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh để bảo đảm cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của năm 2026 so với năm 2024 và cắt giảm 100% điều kiện kinh doanh không cần thiết; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu để bảo đảm cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

Từ những chủ trương của Đảng, Chính phủ đã kịp thời thể chế hóa các yêu cầu, mục tiêu về cải cách hành chính trong đó có đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công. Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 27/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, trong đó yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ được giao bảo đảm hoàn thành mục tiêu đến hết năm 2025: 100% hồ sơ thủ tục hành chính đã giải quyết thành công được số hóa, lưu trữ và có giá trị tái sử dụng; 80% người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính không phải cung cấp lại các thông tin, giấy tờ, tài liệu đã được số hóa; điện tử hóa việc giám sát, đánh giá kết quả giải quyết thủ tục hành chính; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với chất lượng cung cấp dịch vụ công đạt tối thiểu 95%. Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030 với mục tiêu đến năm 2030: (1) 100% thủ tục hành chính, có yêu cầu nghĩa vụ tài chính, được triển khai thanh toán trực tuyến, trong số đó, tỷ lệ giao dịch thanh toán trực tuyến đạt từ 50% trở lên; (2) Tối thiểu 90% thủ tục hành chính của các bộ, ngành, địa phương, có đủ điều kiện, được cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 4, đồng thời, hoàn thành việc tích hợp, cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến mức độ 3 và 4 trên tổng số hồ sơ đạt tối thiểu 80%; (3) 90% số lượng người dân, doanh nghiệp tham gia hệ thống Chính phủ điện tử được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất trên tất cả các hệ thống thông tin của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương; (4) Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính đạt tối thiểu 95%. Trong đó, mức độ hài lòng về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư đạt tối thiểu 90%; (5) Môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu.

Gần đây là Quyết định số 240/QĐ-TTg ngày 04/02/2025 ban hành Kế hoạch cải cách thủ tục hành chính trọng tâm năm 2025 với các nội dung quan trọng, như: cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính; Đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; Tổ chức triển khai thí điểm thành công mô hình Trung tâm phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hướng tới cung cấp dịch vụ toàn trình, cá nhân hóa và dựa trên dữ liệu; gắn kết chặt chẽ giữa cải cách thủ tục hành chính với chuyển đổi số.

Đồng thời, Chính phủ ban hành 28 nghị định về phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền; tổ chức, vận hành thử nghiệm Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã; chỉ đạo rà soát cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất – kinh doanh, cung cấp dịch vụ công trực tuyến nhằm kiên quyết cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, chi phí tuân thủ thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển2.

Để thực hiện các yêu cầu và nhiệm vụ nêu trên, các bộ, ngành đã tham mưu trình Chính phủ cũng ban hành 8 Nghị quyết chuyên đề về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh; bãi bỏ 184 thủ tục hành chính, 890 điều kiện kinh doanh. Theo đó, quá trình thực thi dự kiến sẽ giảm hơn 50% thời gian thực hiện và chi phí tuân thủ cho đối tượng chịu tác động so với năm 20243.

3. Một số kết quả đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công

Một là, về phân cấp, phân quyền giải quyết thủ tục hành chính.

Hoạt động phân cấp từ trung ương cho địa phương được đẩy mạnh, số lượng thủ tục được phân cấp ngày càng gia tăng. Đến tháng 5/2026, tổng số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các bộ, cơ quan ngang bộ còn 1.570 thủ tục, chiếm tỷ lệ  khoảng 44% (không bao gồm các thủ tục hành chính đặc thù của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); địa phương là 56%, tăng khoảng 23% so với trước đây. Một số bộ có kết quả phân cấp cao, như: Bộ Tư pháp phân cấp cho địa phương giải quyết 81,4% thủ tục hành chính, Bộ Nội vụ: 73,8%, Thanh tra Chính phủ: 63%, Bộ Giáo dục và Đào tạo: 62,2%4.

Ngay sau khi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, ở các địa phương, danh mục thủ tục hành chính đã được cập nhật, công khai về hồ sơ, trình tự, thủ tục, các bước thực hiện thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương. Điều này phản ánh xu hướng chuyển đổi từ mô hình quản lý tập trung sang quản trị phân quyền, tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong cung ứng dịch vụ hành chính công.

Hai là, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất – kinh doanh và đời sống người dân. Từ tháng 5/2020 – 3/2025, Chính phủ đã cắt giảm, đơn giản hóa 3.241/15.763 quy định điều kiện kinh doanh tại 275 văn bản quy phạm pháp luật (đạt 20,5%)5.

Tính đến ngày 31/12/2025, đã cắt giảm thủ tục hành chính về điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 bộ; cắt giảm, đơn giản hóa 3.085/4.888 thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất – kinh doanh (dự kiến đạt 63,1%) và cắt giảm 2.371/6.974 điều kiện kinh doanh thuộc ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện (dự kiến đạt 34,9%); thời gian giải quyết thủ tục hành chính dự kiến cắt giảm là 29.308 ngày/89.721 ngày (đạt 32,7% thời gian thực hiện thủ tục hành chính) và cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính khoảng 48,6/120 nghìn tỷ đồng/năm (đạt 40,5%). Theo đó, dự kiến sẽ sửa đổi bổ sung 520 văn bản quy phạm pháp luật để thực thi các phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh6.

Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư theo 19 nghị quyết chuyên đề của Chính phủ và thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định. Tính đến ngày 31/12/2025, các bộ, cơ quan đã cắt giảm, đơn giản hóa 1.056/1.084 thủ tục hành chính, tại 299 văn bản quy phạm pháp luật, đạt 97%; còn 28 thủ tục hành chính tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa tại 13 văn bản quy phạm pháp luật7.

Thực hiện Kết luận số 18-KL/TW, chỉ trong thời gian 15 ngày (từ ngày 14/4/2026 – 29/4/2026) đã phân cấp từ trung ương xuống địa phương 133 thủ tục hành chính, cắt giảm 183 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 393 thủ tục hành chính, cắt giảm 890 điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa 4 điều kiện kinh doanh8.

Về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến thủ tục hành chính nội bộ. Triển khai Quyết định số 1085/QĐ-TTg ngày 15/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính nội bộ trong hệ thống hành chính nhà nước giai đoạn 2022 – 2025, Văn phòng Chính phủ đã hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương thống kê, công bố và công khai thủ tục hành chính nội bộ trên cơ sở dữ liệu quốc gia. Nhiều thủ tục hành chính nội bộ trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Công Thương… đã được cắt giảm, đơn giản hóa, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, viên chức. Đến năm 2026, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 163 thủ tục hành chính nội bộ của 8 bộ, đã thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa đối với 38/163 thủ tục hành chính9. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, viên chức. Hiện các bộ, địa phương tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính nội bộ sau sắp xếp tổ chức và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm hoạt động hành chính thông suốt, hiệu quả.

Ba là, về hiện đại hóa hành chính.

Hiện đại hóa phương thức tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính. Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính ở các cấp chính quyền đạt 100%. Các cơ quan, đơn vị ngành dọc đã chỉ đạo bố trí ở Bộ phận một cửa để tiếp nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, các địa phương đã triển khai dịch vụ tiếp nhận hồ sơ tại nhà, hẹn giờ giải quyết, bố trí quầy ưu tiên và ki-ốt thông minh.

Tiếp nhận và xử lý hồ sơ trực tuyến. Tính từ ngày 01/7/2025 – 28/8/2025, trên cổng Dịch vụ công quốc gia có 7,5 triệu hồ sơ ( trong đó, địa phương 5,5 triệu hồ sơ trực tuyến, chiếm 73,3%; các bộ, ngành: 2 triệu hồ sơ trực tuyến, chiếm 26,7%)10.

Thanh toán trực tuyến phí, lệ phí. Hầu hết các tỉnh, thành phố lớn và các trung tâm hành chính công đều ghi nhận tỷ lệ thanh toán trực tuyến chiếm từ 50% đến hơn 80% tổng số hồ sơ phát sinh. Nhiều địa phương, điển hình như Hà Nội đã áp dụng chính sách miễn 100% phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính khi người dân thực hiện nộp hồ sơ trực tuyến nhằm khuyến khích chuyển đổi số. Các phương thức thanh toán đã được đa dạng hóa, như: chuyển khoản ngân hàng, quét mã vạch hoặc ví điện tử…11.

Số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính: kết quả giải quyết thủ tục hành chính được đẩy mạnh, góp phần tiết kiệm chi phí. Tính đến tháng 8/2025, tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại các bộ, ngành đạt 39,27%, tại địa phương đạt 37,83% (235.660/622.947 hồ sơ). Tỷ lệ hồ sơ cấp kết quả bản điện tử có giá trị pháp lý để tái sử dụng tại các địa phương đạt 39,60% (246.687 kết quả giải quyết thủ tục hành chính /622.947 hồ sơ kết quả cần cấp)12.

Kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước: Thực hiện Thông báo số 19-TB/TGV ngày 09/5/2025 của Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Cổng dịch vụ công quốc gia đã nâng cấp, kết nối thông suốt với 34/34 hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh, đáp ứng yêu cầu triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đóng giao diện Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh từ ngày 01/7/2025, trở thành điểm “một cửa số” tập trung, duy nhất của quốc gia, giao tiếp với người dân, doanh nghiệp trong thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Theo đó, người dân, doanh nghiệp chỉ cần truy cập một địa chỉ duy nhất (dichvucong.gov.vn) để sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Đồng thời, nhiều quy định mới về tổ chức, hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã theo hướng gần dân, phục vụ công dân tốt hơn; đẩy mạnh thực hiện thủ tục hành chính phi địa giới đã mang đến những thay đổi đột phá về tổ chức và giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Bốn là, về tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ hành chính công .

Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia đã thể chế hóa việc thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh, quy định Cổng Dịch vụ công quốc gia là điểm một cửa số duy nhất. Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã của 34 tỉnh, thành phố đã vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, có 32/34 địa phương đã thành lập 3.139 trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã (Hà Nội và Quảng Ninh vận hành theo mô hình trung tâm phục vụ hành chính công một cấp)13.

Công tác tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào ổn định. 34/34 địa phương đã công bố danh mục thủ tục hành chính thực hiện phi địa giới, trong đó có 26 địa phương đã công bố thực hiện 100% đối với thủ tục hành chính thuộc phạm vi giải quyết14.

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song nhìn chung kết quả cung ứng dịch vụ hành chính công tại địa phương chưa đạt như kỳ vọng đặt ra.

(1) Hệ thống thể chế, pháp luật chưa đầy đủ và rõ ràng. Các quy định pháp luật còn thiếu đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo giữa các luật đã gây không ít khó khăn cho việc thực hiện (ví dụ: khoản 10, Điều 23 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định thẩm quyền tuyển dụng giáo viên trên địa bàn cấp xã là của chủ tịch UBND cấp xã, nhưng tại điểm d, khoản 2 Điều 14 Luật Nhà Giáo năm 2025, thẩm quyền này lại thuộc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo); một số nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của một số bộ, ngành có nội dung còn khác so với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và các luật chuyên ngành khác.

Phân cấp, phân quyền gắn với thủ tục hành chính và hướng dẫn trình tự, thủ tục hành chính trong khi các văn bản hướng dẫn và việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính ở một số bộ, ngành và lĩnh vực chưa bảo đảm yêu cầu, dẫn đến vướng mắc khi thực hiện ở địa phương, đặc biệt là trong việc bãi bỏ hay cắt giảm triệt để các thành phần hồ sơ và điều kiện kinh doanh.

(2) Phân cấp trong giải quyết thủ tục hành chính còn nhiều bất cập. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một bước tiến lớn trong cải cách hành chính, tuy nhiên, việc phân cấp đã làm số lượng hồ sơ thuộc thẩm quyền cấp xã tăng 30% trong khi cán bộ, công chức cấp xã chưa đủ số lượng và năng lực phục vụ, dẫn đến quá tải, chậm trễ trong giải quyết thủ tục hành chính.

(3) Quy trình tái cấu trúc thủ tục hành chính chưa triệt để. Việc đơn giản, cắt giảm thủ tục hành chính vẫn còn thiên về rà soát từng quy trình/danh mục thủ tục hơn là tái thiết kế phương thức và năng lực vận hành; thiên về cắt giảm trên giấy tờ hơn là giảm chi phí giao dịch thực tế. Nhiều thủ tục hành chính trên giấy chỉ được quét (scan) lên môi trường trực tuyến mà không được thiết kế, tinh gọn lại quy trình cho phù hợp với phương thức số, dẫn đến hiện tượng “thủ tục hành chính điện tử rườm rà”.

(4) Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến dù tăng trưởng nhưng vẫn chưa đạt kỳ vọng. Trong tháng 01/2026, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đạt 51,09%, trong đó các bộ đạt tỷ lệ 66,87%, các tỉnh đạt tỷ lệ 22,87%15. Tỷ lệ hồ sơ chậm trễ là 14/15 bộ và 100% tỉnh chưa đạt mục tiêu; chậm số hóa và chia sẻ dữ liệu. Tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến, giao dịch thanh toán trực tuyến còn thấp so với số lượng hồ sơ trực tiếp và giao dịch thanh toán bằng tiền mặt. Cơ sở dữ liệu của các ngành và địa phương đang rời rạc, ít liên thông và thiếu cấu trúc chuẩn.  

(5) Triển khai mô hình trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã còn bất cập. Do hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp từ các cơ quan ngành dọc, cán bộ kiêm nhiệm dẫn đến quá tải và bất cập khi áp dụng tại các địa bàn rộng lớn. Việc mở rộng diện tích và dân số sau sáp nhập tỉnh khiến tư duy “phục vụ tại trụ sở vật lý” không còn phù hợp, đòi hỏi một phương thức quản trị phi địa giới hành chính để bảo đảm quyền tiếp cận công bằng cho người dân. Tại các xã miền núi hoặc khu vực chia cắt, việc người dân phải di chuyển xa đến trung tâm xã để làm thủ tục gặp nhiều khó khăn, buộc chính quyền phải duy trì thêm các điểm tiếp nhận phụ.

4. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện khung pháp lý và phân cấp thẩm quyền, sửa đổi các quy định pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, dễ thực hiện; đẩy mạnh việc ban hành các nghị định hướng dẫn phân cấp để rõ ràng hóa thẩm quyền và trách nhiệm trong giải quyết thủ tục hành chính của chính quyền địa phương hai cấp.

Hai là, phân định rõ phân cấp, phân quyền quy định thủ tục hành chính và phân cấp, phân quyền thực hiện thủ tục hành chính, trong đó chỉ phân cấp, phân quyền cho địa phương quy định thủ tục hành chính để thực hiện chính sách đặc thù của địa phương. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm đúng mục tiêu Trung ương tăng cường quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát. Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm, gắn với bảo đảm nguồn lực, phù hợp với năng lực thực hiện nhiệm vụ của từng cấp, từng loại đơn vị hành chính.

Ba là, tiếp tục rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục hành chính chồng chéo, rườm rà, dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho người dân, tổ chức; đẩy mạnh tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số. Tổ chức triển khai có hiệu quả việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị địa phương, hiện đại hóa quản trị, sử dụng dữ liệu dùng chung để cắt giảm thủ tục giấy tờ. Thúc đẩy thanh toán trực tuyến và kinh tế số, việc tích hợp các cổng thanh toán tại các trung tâm phục vụ hành chính công không chỉ là cải cách hành chính mà còn là cốt lõi cho chuyển đổi số xã hội, thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt của người dân.

Năm là, kiện toàn tổ chức, hoạt động của trung tâm phục vụ hành chính công các cấp để tổ chức có hiệu quả việc giải quyết thủ tục hành chính; đẩy mạnh tương tác giữa chính quyền và người dân qua các nền tảng số (app công dân, cổng dịch vụ công…). Bên cạnh đó, cần phải tối ưu hoá hoạt động của trung tâm theo hướng phân định rõ ranh giới giữa “quyền lực công” và “dịch vụ hỗ trợ”, trên cơ sở đó chỉ giữ lại quyền lực cốt lõi (là những hoạt động gắn liền với thẩm quyền hành chính pháp lý, đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến chủ quyền, an ninh, vị thế quốc gia và trật tự an toàn xã hội; đồng thời, đẩy mạnh việc chuyển giao cho khu vực tư các hoạt động/công đoạn mang tính chất tác nghiệp, kỹ thuật, phụ trợ hoặc những dịch vụ mà xã hội có đủ năng lực đảm nhiệm tốt hơn, như: tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả, kiểm định kỹ thuật, sát hạch nghề nghiệp, chuyên môn.

Sáu là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã trực tiếp giải quyết khối lượng lớn thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công trực tuyến nên cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu, thường xuyên về kỹ năng số, sử dụng nền tảng chính phủ điện tử, phân tích dữ liệu và an ninh mạng. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nhân tài công nghệ vào khu vực công thông qua các hình thức, như: tuyển dụng đặc cách, chế độ đãi ngộ cạnh tranh, hợp đồng chuyên gia, luân chuyển cán bộ giữa khu vực nhà nước và doanh nghiệp công nghệ nhằm bổ sung nguồn lực chất lượng cao, hỗ trợ đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong cung ứng dịch vụ hành chính công.

5. Kết luận

Đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công là nhiệm vụ then chốt trong cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh triển khai chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số quốc gia. Bài viết đã làm rõ cơ sở chính trị – pháp lý, đánh giá những kết quả đạt được về cải cách thủ tục, hiện đại hóa hành chính và tổ chức bộ máy, đồng thời chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại.

Để tiếp tục đổi mới hiệu quả, cần tập trung hoàn thiện thể chế, cắt giảm và tái cấu trúc thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu số, kiện toàn trung tâm phục vụ hành chính công các cấp, tăng cường chuyển đổi số và đặc biệt tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực số cho cán bộ cấp xã, kết hợp với xây dựng cơ chế thu hút nhân tài công nghệ vào khu vực công. Do vậy, chỉ khi thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, nền hành chính Việt Nam mới thực sự phục vụ, minh bạch, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 382.
2. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 162/NQ-CP ngày 07/6/2025 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 năm 2025.
3. Tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh bảo đảm thực chất, hiệu quả. https://kiemsat.vn/tiep-tuc-cat-giam-don-gian-hoa-thu-tuc-hanh-chinh-dieu-kien-kinh-doanh-bao-dam-thuc-chat-hieu-qua-76609.html
4. Đảng ủy Chính phủ (2025).  Báo cáo số 59-BC/ĐU ngày 15/9/2025 về đánh giá việc thực hiện pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp.
5, 6, 7, 8, 13, 14. Bộ Tư pháp (2026). Báo cáo kèm theo công văn số 3269/BTP-KSTT ngày 14/5/2026 về thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp.
9, 12. Bộ Nội vụ (2026). Báo cáo sơ kết giai đoạn 2021 – 2025 thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030.
10, 15. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng hồ sơ giải quyết TTHC cả nước tháng 8/2025 tăng 3,26%. https://tcnnld.vn/news/detail/69382/Ty-le-ho-so-truc-tuyen-toan-trinh-tren-tong-ho-so-giai-quyet-TTHC-ca-nuoc-thang-82025-tang-326.html
11. Triển khai các chính sách khuyến khích thực hiện dịch vụ công trực tuyến từ ngày 01/01/2026. https://ttpvhcc.hanoi.gov.vn/loi-ich-khi-su-dung-dvc-truc-tuyen/trien-khai-cac-chinh-sach-khuyen-khich-thuc-hien-dich-vu-cong-truc-tuyen-tu-ngay-01-01-2026-2850251231110640778.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo đánh giá việc thực hiện pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp.
5. Bộ Nội vụ (2026). Báo cáo sơ kết giai đoạn 2021 – 2025 thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030.
6. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030.
7. Chính phủ (2025). Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
8. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP ngày 15/11/2025 quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu.
9. Thủ tướng Chính phủ (2001). Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010.
10. Học viện Hành chính và Quản trị công (2025). Cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo cấp Học viện.
11. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2026). Cung ứng dịch vụ công trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp. Tài liệu tọa đàm cấp Học viện.
12. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định 468/QĐ-TTg ngày 27/3/2021 phê duyệt Đề án đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.
13. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 1085/QĐ-TTg ngày 15/9/2022  ban hành Kế hoạch rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính nội bộ trong hệ thống hành chính nhà nước giai đoạn 2022 – 2025.
14. Đổi mới sáng tạo trong cung ứng dịch vụ hành chính công đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiệu quả. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/09/26/doi-moi-sang-tao-trong-cung-ung-dich-vu-hanh-chinh-cong-dap-ung-yeu-cau-quan-tri-quoc-gia-hieu-qua/