Chính sách phát triển kinh tế tư nhân: góc nhìn từ lý thuyết thể chế

Private sector development policy: an institutional theory perspective

Trần Văn Mộng
Trường Đại học Thủ Dầu Một

(Quanlynhanuoc.vn) – Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ khu vực này phát triển, đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW. Bài viết vận dụng khung lý thuyết thể chế để phân tích thực trạng chính sách phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, khung chính sách đã có chuyển biến tích cực nhưng vẫn tồn tại khoảng trống thể chế chủ yếu ở khâu thực thi và vai trò kiến tạo của Nhà nước. Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng thực thi và xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, giúp kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững.

Từ khóa: Chính sách công; kinh tế tư nhân; lý thuyết thể chế; môi trường kinh doanh.

Abstract: The private sector is a key driver of Vietnam’s economy, making significant contributions to GDP growth, employment generation, and innovation. The Party and the State have promulgated various policies to support the development of this sector, particularly Resolution No. 68-NQ/TW. This article applies an institutional theory framework to analyze the current state of private sector development policies in Vietnam. The findings indicate that the policy framework has improved significantly; however, institutional gaps remain, particularly in policy implementation and the State’s developmental and facilitating role. The article proposes several solutions to improve institutional arrangements, enhance implementation quality, and foster a transparent and equitable business environment, thereby enabling the private sector to become a true driver of sustainable economic growth.

Keywords: Public policy; private sector; institutional theory; business environment.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập sâu rộng, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Với đặc trưng dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, kinh tế tư nhân đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm cho phần lớn lực lượng lao động và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nhiều ngành, lĩnh vực. Phát triển kinh tế tư nhân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nhiều chính sách đã được ban hành mang tính đột phá, chủ yếu xoay quanh việc hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền sở hữu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hỗ trợ cụ thể cho doanh nghiệp tư nhân.

Tuy nhiên, các chính sách phát triển kinh tế tư nhân vẫn còn một số hạn chế, như: hệ thống pháp luật chưa đồng bộ; thay đổi chính sách nhanh; thiếu liên kết chuỗi giá trị; nguồn nhân lực chất lượng cao hạn chế và một số vấn đề về môi trường kinh doanh, đạo đức doanh nghiệp cũng như năng lực cạnh tranh quốc gia còn yếu, khiến cho doanh nghiệp tư nhân chưa phát huy hết tiềm năng làm động lực tăng trưởng (MPI, 2025)1. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá thực trạng chính sách phát triển kinh tế tư nhân tiếp cận từ lý thuyết thể chế không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn có giá trị thực tiễn cao, góp phần nhận diện các khoảng trống chính sách, đánh giá hiệu quả thực thi và xác định các ràng buộc thể chế đang cản trở sự phát triển của khu vực tư nhân.

Bài viết vận dụng khung lý thuyết thể chế để nhận diện vấn đề và sử dụng phương pháp định tính theo hướng phân tích, tổng hợp để phân tích có hệ thống thực trạng chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, nghiên cứu kỳ vọng cung cấp bằng chứng khoa học và đề xuất các giải pháp nhằm hỗ trợ quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân.

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1. Tổng quan về chính sách

Theo Thiều Thị Thu Thảo (2022)2, chính sách là một hệ thống các quyết định và biện pháp có chủ đích của cơ quan nhà nước nhằm giải quyết những vấn đề công cộng cụ thể. Theo Dương Viết Long (2021)3, chính sách không chỉ là tập hợp văn bản pháp lý mà còn bao gồm cơ chế hành chính – thực thi và mạng lưới các chủ thể tham gia. James Anderson (2003)4 cho rằng, chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân. Vũ Cao Đàm (2011)5 cho rằng, chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy đối tượng thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý đề ra. Từ những quan điểm trên cho thấy, chính sách là hệ thống các quyết định và biện pháp có chủ đích của cơ quan nhà nước, được thể chế hóa và tổ chức thực thi thông qua nhiều chủ thể nhằm điều phối nguồn lực xã hội, tạo giá trị công và giải quyết các vấn đề công cộng cũng như đạt mục tiêu phát triển.

2.2. Tổng quan về kinh tế tư nhân và vai trò của kinh tế tư nhân

Theo Đỗ Phú Trần Tình và Nguyễn Văn Nên (2025)6, kinh tế tư nhân bao gồm: kinh tế các thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Theo Trần Văn Mộng (2025)7, kinh tế tư nhân hoạt động theo nguyên tắc thị trường nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, thành phần có cả doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 50%. Mặc khác, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra.

Kinh tế tư nhân có vai trò rất quan trọng trong tạo việc làm và tăng thu nhập ở các quốc gia cũng như thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, mở rộng thị trường và giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Phát triển kinh tế tư nhân thuộc bộ tứ chiến lược phát triển đất nước trong tình hình mới bên cạnh các chiến lược8. Kinh tế tư nhân không chỉ giúp mở rộng sản xuất, thương mại, dịch vụ mà còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ làm chủ thị trường nội địa mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế9.

Với những nhận định trên cho thấy, kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng của kinh tế quốc gia, hình thành trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, hoạt động vì lợi nhuận dưới sự quản lý của Nhà nước, góp phần vào GDP và tạo việc làm cho xã hội.

2.3. Lý thuyết thể chế trong đánh giá chính sách

Lý thuyết thể chế trong đánh giá chính sách có nền tảng từ kinh tế học thể chế mới, tiêu biểu là công trình của Douglass Cecil North (1991)10. Theo đó, thể chế được hiểu là “những ràng buộc do con người tạo ra nhằm định hình tương tác chính trị, kinh tế và xã hội”, bao gồm các quy tắc chính thức (luật pháp, chính sách, hiến pháp) và các quy tắc phi chính thức (chuẩn mực, tập quán, niềm tin). Trong tiếp cận này, chính sách công được xem là một bộ phận của thể chế và hiệu quả chính sách phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng thể chế chi phối việc thiết kế và thực thi chính sách. Phát triển theo hướng khoa học chính sách, Jon Pierre và B. Guy Peters (2020)11 cho rằng, đánh giá chính sách cần tập trung vào mức độ phù hợp thể chế, tức là sự tương thích giữa nội dung chính sách, cấu trúc tổ chức nhà nước và năng lực thực thi. Do đó, khi vận dụng vào đánh giá chính sách công, lý thuyết thể chế nhấn mạnh các tiêu chí, như: tính minh bạch của pháp luật; sự ổn định và nhất quán của chính sách; năng lực thực thi và cưỡng chế; mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong phân bổ nguồn lực.

3. Thực trạng chính sách phát triển kinh tế tư nhân dưới góc nhìn từ lý thuyết thể chế

3.1. Tính minh bạch của pháp luật

Thực tiễn đã có rất nhiều nghiên cứu bàn về tính minh bạch của chính sách công tại Việt Nam và đặc biệt là chính sách phát triển kinh tế tư nhân đều cho thấy, chính sách đang hướng tới sự minh bạch hơn thông qua việc hoàn thiện thể chế, đối thoại, cải cách thủ tục và chuyển đổi số. Tính minh bạch trong chính sách phát triển kinh tế tư nhân còn được nhấn mạnh là yếu tố then chốt, chuyển dịch từ ưu đãi sang tạo môi trường công bằng, rõ ràng, tôn trọng tự chủ doanh nghiệp, với mục tiêu hài hòa lợi ích, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, hướng tới phát triển bền vững và tạo đột phá. Thực tế, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo ra khoảng 85% việc làm trong nền kinh tế12. Đến cuối năm 2024, cả nước có khoảng 940.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó hơn 97% là doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân13. Ngoài ra, việc đề cao vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và sự tham gia ngày càng thực chất vào quá trình xây dựng, phản biện chính sách góp phần nâng cao chất lượng thể chế và tính minh bạch của môi trường kinh doanh.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, để khu vực này phát triển bền vững cần một tư duy mới, như: minh bạch, công bằng và tôn trọng quyền tự chủ của doanh nghiệp thay vì chỉ dừng ở chính sách ưu đãi. Minh bạch trong hành chính và công khai thông tin là trọng tâm nhưng thực tế vẫn thiếu hiệu quả như chỉ số PAPI các năm đã phản ánh. Báo cáo PAPI 2023 cho thấy chỉ số nội dung “Công khai, minh bạch trong việc ra quyết định ở địa phương” chỉ đạt khoảng 5,35/10 điểm trên phạm vi toàn quốc (UNDP, 2024)14. Đồng thời, Báo cáo PCI 2024 ghi nhận, chỉ số thành phần “tính minh bạch” đạt 6,37/10 điểm cho thấy, doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin quy hoạch, đất đai và các văn bản điều hành (VCCI, 2025)15. Hiện nay, việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế pháp luật để nâng cao tính minh bạch của chính quyền địa phương được đánh giá cao, nhưng hiệu quả thực thi các thể chế pháp luật trong lĩnh vực này vẫn chưa cao (Giải, 2022)16.

3.2. Sự ổn định và nhất quán của chính sách

Các chủ trương coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế được khẳng định liên tục qua nhiều nhiệm kỳ, tạo ra tín hiệu chính sách ổn định và dự đoán được cho thị trường. Hệ thống chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động được ban hành theo hướng kế thừa, hạn chế sự đảo chiều đột ngột, góp phần củng cố niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Bên cạnh đó, quá trình hoàn thiện pháp luật kinh tế nhìn chung tuân theo lộ trình cải cách rõ ràng, gắn với các mục tiêu phát triển trung và dài hạn, thay vì các can thiệp ngắn hạn mang tính tình thế. Sự nhất quán này giúp giảm rủi ro chính sách, tạo môi trường thể chế tương đối ổn định, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của nền kinh tế. Điều này được phản ánh qua việc số lượng doanh nghiệp đang hoạt động tăng từ khoảng 714.000 doanh nghiệp năm 2020 lên khoảng 940.000 doanh nghiệp năm 2024, trong khi vốn đầu tư thực hiện của khu vực ngoài nhà nước liên tục chiếm trên 55% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Cục Thống kê, 2025)17.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng cho thấy, thể chế và môi trường kinh doanh chưa thực sự đồng bộ, minh bạch. Có tới gần 37% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng, việc thực hiện thủ tục hành chính vẫn mất nhiều thời gian hơn quy định và khoảng 29% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận đất đai (VCCI, 2025)18. Việc tiếp cận vốn và các nguồn lực đầu vào như đất đai, công nghệ, thông tin, đặc biệt là các nguồn vốn mạo hiểm, vốn dài hạn cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số còn nhiều khó khăn, gây hạn chế sự phát triển bứt phá của khu vực này.

3.3. Khả năng thực thi và cưỡng chế pháp luật

Công tác cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước và tăng cường trách nhiệm của cơ quan thực thi đã góp phần nâng cao tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Việc tăng cường thanh tra, kiểm tra gắn với nguyên tắc công khai, minh bạch giúp bảo đảm hiệu lực của pháp luật; đồng thời, hạn chế tình trạng tùy tiện trong áp dụng chính sách, qua đó, củng cố niềm tin của khu vực kinh tế tư nhân vào môi trường pháp lý. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), đến năm 2024, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt trên 48%, trong khi tỷ lệ hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường mạng ở cấp bộ đạt trên 90% và cấp tỉnh đạt trên 80%, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp19.

Tuy nhiên, việc triển khai chính sách ở nhiều nơi còn thiếu đồng bộ, phụ thuộc vào năng lực và cách hiểu của từng cơ quan, dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các địa phương. Một số quy định chậm được hướng dẫn, làm giảm hiệu lực thực thi trong thực tế. Trong báo cáo PCI 2024 cho thấy, có khoảng 42% doanh nghiệp vẫn cho rằng, có sự khác biệt đáng kể trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương, trong khi gần 30% doanh nghiệp phản ánh hiện tượng chồng chéo trong hoạt động thanh tra, kiểm tra20.

3.4. Mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường

Mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong chính sách phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng cân bằng và hỗ trợ lẫn nhau. Nhà nước ngày càng tập trung vào vai trò kiến tạo phát triển, hoàn thiện thể chế, định hướng chiến lược và khắc phục các tồn tại của thị trường, thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất – kinh doanh. Trong khi đó, thị trường được thừa nhận đầy đủ hơn là cơ chế phân bổ nguồn lực chủ yếu, tạo động lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả kinh tế. Cách tiếp cận này góp phần cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển và tham gia sâu hơn vào quá trình tăng trưởng kinh tế quốc gia. Đến năm 2024, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 56% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 30% tổng thu ngân sách nhà nước (Ban Kinh tế Trung ương, 2024)21.

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong chính sách phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế như: ở một số lĩnh vực, sự can thiệp hành chính của Nhà nước còn khá sâu, làm giảm tính linh hoạt của cơ chế thị trường và đôi khi gây méo mó tín hiệu giá. Vai trò kiến tạo chưa được thực hiện đồng đều giữa các cấp, dẫn đến tình trạng vừa thiếu điều tiết hiệu quả, vừa can thiệp chưa đúng mức (MPI, 2025)22. Ngoài ra, ranh giới giữa quản lý nhà nước và hoạt động của doanh nghiệp vẫn chưa thật sự rõ ràng, ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh bình đẳng và làm giảm hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện tính minh bạch của pháp luật trong phát triển kinh tế tư nhân.

Cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính thể chế nhằm tạo lập môi trường kinh doanh công bằng và có khả năng dự đoán. Trước hết, chính sách cần được xây dựng trên tư duy mới, coi minh bạch, công bằng và tôn trọng quyền tự chủ của doanh nghiệp là nguyên tắc nền tảng, thay vì chỉ tập trung vào các biện pháp ưu đãi hành chính. Điều này giúp doanh nghiệp tư nhân chủ động hơn trong hoạt động sản xuất – kinh doanh và giảm sự phụ thuộc vào quan hệ không chính thức.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công khai, minh bạch trong hoạt động hành chính nhà nước, đặc biệt ở cấp địa phương thông qua việc chuẩn hóa và công bố rộng rãi các quy trình, tiêu chí và kết quả giải quyết thủ tục hành chính trên nền tảng số. Đồng thời, cần thực hiện đầy đủ yêu cầu của Nghị quyết số 68-NQ/TW về bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản và quyền tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển; công khai các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, danh mục dự án đầu tư, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp và các chính sách ưu đãi trên môi trường số để giảm bất đối xứng thông tin giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Cùng với đó, cần tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá độc lập đối với việc thực thi các quy định về minh bạch, gắn trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ với kết quả thực hiện. Khi tính minh bạch của pháp luật được cải thiện cả về thiết kế và thực thi, chính sách phát triển kinh tế tư nhân sẽ tạo dựng được môi trường pháp lý ổn định, đáng tin cậy và thuận lợi cho sự phát triển bền vững của khu vực này.

Thứ hai, nâng cao năng lực thực thi và cưỡng chế pháp luật trong phát triển kinh tế tư nhân.

Cần chuẩn hóa quy trình triển khai chính sách và ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành, qua đó, khắc phục tình trạng mỗi địa phương áp dụng theo cách hiểu khác nhau, làm suy giảm tính thống nhất của pháp luật. Việc xây dựng các hướng dẫn thực thi chi tiết, rõ ràng sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào năng lực cá nhân của cán bộ thực thi và hạn chế tình trạng áp dụng tùy tiện. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ thực thi thông qua đào tạo, đánh giá định kỳ và gắn kết quả thực hiện chính sách với trách nhiệm công vụ.

Theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ doanh nghiệp, giảm thanh tra, kiểm tra chồng chéo, tăng cường hậu kiểm dựa trên quản trị rủi ro và dữ liệu số. Đồng thời, cần ưu tiên triển khai các cơ chế hỗ trợ thực chất cho doanh nghiệp tư nhân, như: cơ chế thử nghiệm chính sách đối với các mô hình kinh doanh mới, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Việc ứng dụng công nghệ số trong giám sát thực thi và thanh tra sẽ góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; đồng thời, tăng tính nghiêm minh và hiệu quả cưỡng chế pháp luật.

Thứ ba, hoàn thiện mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường theo hướng kiến tạo phát triển. Nhà nước cần giảm dần các biện pháp can thiệp hành chính trực tiếp vào hoạt động sản xuất – kinh doanh, đặc biệt trong những lĩnh vực mà khu vực tư nhân có khả năng tham gia hiệu quả. Việc này sẽ giúp khôi phục vai trò phân bổ nguồn lực của thị trường, hạn chế méo mó tín hiệu giá và nâng cao tính linh hoạt của hoạt động kinh tế. Bên cạnh đó, cần thống nhất cách hiểu và cách thực hiện vai trò Nhà nước kiến tạo ở các cấp chính quyền thông qua việc ban hành các nguyên tắc và hướng dẫn rõ ràng về phạm vi điều tiết và hỗ trợ thị trường. Đồng thời, cần làm rõ ranh giới giữa chức năng quản lý nhà nước và hoạt động của doanh nghiệp bằng cách tách bạch nhiệm vụ quản lý, giám sát với hoạt động kinh doanh, bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế.

Theo định hướng của Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nhà nước cần xây dựng các cơ chế đặc thù để hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, có khả năng dẫn dắt các ngành kinh tế trọng điểm và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; mở rộng khả năng tiếp cận đất đai, tín dụng, vốn trung và dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đổi mới sáng tạo và các nguồn lực khoa học, công nghệ cho doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, cần khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và các cơ sở nghiên cứu nhằm hình thành các cụm liên kết ngành, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuỗi giá trị có năng lực cạnh tranh quốc tế. Việc tăng cường đối thoại chính sách và hợp tác công – tư cũng là giải pháp quan trọng giúp Nhà nước nắm bắt kịp thời tín hiệu thị trường, từ đó điều chỉnh chính sách phù hợp hơn với nhu cầu của khu vực kinh tế tư nhân và nâng cao hiệu quả chính sách phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay.

5. Kết luận

Trên cơ sở vận dụng lý thuyết thể chế trong đánh giá chính sách, bài viết đã phân tích thực trạng chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay, tập trung vào thuộc tính thể chế cốt lõi: tính minh bạch của pháp luật; sự ổn định và nhất quán của chính sách; năng lực thực thi và cưỡng chế pháp luật; mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế tư nhân đã có nhiều đổi mới tích cực, thể hiện rõ quan điểm coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, song hiệu quả thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và kỳ vọng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những “điểm nghẽn thể chế” trong khâu thực thi, tính minh bạch và cách thức Nhà nước can thiệp vào thị trường hơn là do thiếu vắng chính sách hỗ trợ. Do đó, việc hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ mở rộng ưu đãi sang nâng cao chất lượng thể chế, bảo đảm tính minh bạch, nhất quán và khả năng thực thi hiệu quả. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và củng cố niềm tin của doanh nghiệp tư nhân mà còn tạo nền tảng thể chế vững chắc để khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững, đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Chú thích:
1, 22. MPI (2025). Private economy – A breakthrough driving force for a prosperous and powerful Vietnam. https://vids.mpi.gov.vn/en/research-activities/private-economy-a-breakthrough-driving-force-for-a-prosperous-and-powerfu
2. Thiều Thị Thu Thảo (2022). Chính sách công nghệ thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới. Luận án tiến sĩ ngành Quản lý khoa học công nghệ, Trường Đại học Xã hội và Nhân văn.
3. Dương Viết Long (2021). Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới. Luận văn thạc sĩ ngành Chính sách công. Học viện Khoa học xã hội.
4. James Anderson (2003). Public Policy Analysis-An Introduce. Prentice Hall.
5. Vũ Cao Đàm (2011). Giáo trình khoa học chính sách. H. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Đỗ Phú Trần Tình và Nguyễn Văn Nên (2025). Kinh tế tư nhân tại Việt Nam, hiện trạng và định hướng phát triển. NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
7. Trần Văn Mộng (2025). Chính sách phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam trong bối cảnh mới. Tạp chí Công Thương, số 21, tr. 50 – 56.
8. Thủ tướng: Kinh tế tư nhân cần đặt trong “bộ tứ chiến lược”. https://tuoitre.vn/thu-tuong-kinh-te-tu-nhan-can-dat-trong-bo-tu-chien-luoc-20250414202406268.htm
9. Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng. https://tienphong.vn/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-mot-viet-nam-thinh-vuong-post1725769.tpo
10. Douglass Cecil North (1991). Institutions. https://pubs.aeaweb.org/doi/pdfplus/10.1257/jep.5.1.97
11. Guy Peters Jon Pierre (2020). Governance, Politics and the State. Bloomsbury Publishing.
12, 21. Ban Kinh tế Trung ương (2024). Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về phát triển kinh tế tư nhân.
13, 17. Tổng cục Thống kê (2025). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2025.
14. United Nations Development Programme. (2024). The Viet Nam Provincial Governance and Public Administration Performance Index (PAPI) 2023.
15, 18, 20. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. (2025). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2024.
16. Nguyễn Quang Giải (2022). Tính minh bạch trong chính quyền địa phương tại Việt Nam. Tạp chí SciPap, số 13 (1564). doi:https://doi.org/10.46585/sp30021564
19. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025). Báo cáo tổng kết chuyển đổi số quốc gia năm 2024.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
2. Chu trình minh bạch, trách nhiệm giải trình, tham nhũng và hiệu quả quản lý nhà nước: Bằng chứng từ Việt Nam. https://vjol.info.vn/index.php/KTQD/article/view/18340/16231
3. Phát triển kinh tế tư nhân: Khẩn trương hướng dẫn chi tiết chính sách hỗ trợ đất đai, pháp lý; sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Retrieved from Báo điện tử Chính phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-khan-truong-huong-dan-chi-tiet-chinh-sach-ho-tro-dat-dai-phap-ly-sua-luat-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-119251221121407795.htm.
4. Phát triển mạnh kinh tế tư nhân – chìa khóa để tăng trưởng 2 con số. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-trien-manh-kinh-te-tu-nhan-chia-khoa-de-tang-truong-2-con-so-119250308134537913.html
5. Phát triển kinh tế tư nhân: Cần môi trường minh bạch hơn là ưu đãi. https://daidoanket.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-can-moi-truong-minh-bach-hon-la-uu-dai-10305918.html
6. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/05/nhung-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-tai-viet-nam/
7. Carol H. Weiss (1997). How can theory-based evaluation make greater headway? https://ideas.repec.org/a/sae/evarev/v21y1997i4p501-524.html
8. Huey T Chen. (2012). Theory-Driven Evaluations. NXB SAGE Publications, Inc.
9. Katherine Knutson & Henry Adebisi (2023). Policy cycle theory. https://mlpp.pressbooks.pub/introtouspublicpolicy/chapter/chapter-1-2-what-is-public-policy