Định hướng xây dựng mô hình quản trị phát triển xã hội của Việt Nam trên nền tảng số

Towards a digital platform-based social development governance model for Vietnam

GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với quá trình chuyển đổi số quốc gia đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Công nghệ số không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh mà còn tác động mạnh mẽ đến cách thức tổ chức, quản lý và vận hành xã hội. Trong bối cảnh đó, quản trị phát triển xã hội cần được đổi mới theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu, công nghệ số cùng sự tham gia rộng rãi của người dân nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm công bằng xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững. Tại Việt Nam, việc triển khai các chương trình chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số đã tạo nền tảng quan trọng cho việc hình thành mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn còn nhiều thách thức như khoảng cách số giữa các vùng miền, sự phân tán dữ liệu, hạn chế về hạ tầng công nghệ, năng lực số của người dân và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu cùng những vấn đề mới phát sinh liên quan đến an toàn dữ liệu, quyền riêng tư và đạo đức số. Trước thực tế đó đòi hỏi Việt Nam phải xác định rõ định hướng xây dựng mô hình quản trị phát triển xã hội phù hợp với điều kiện phát triển đất nước.

Từ khóa: Mô hình quản trị; phát triển xã hội; nền tảng số.

Abstract: The Fourth Industrial Revolution, together with the national digital transformation, is bringing about profound changes in every aspect of social life. Digital technology is not only transforming production and business practices but is also having a profound impact on how society is organized, managed, and operated. In this context, social development governance must be modernized based on data, digital technology, and broad public participation to enhance management efficiency, ensure social equity, and promote sustainable development. In Vietnam, the implementation of national digital transformation programs and the development of a digital government, digital economy, and digital society have laid an important foundation for establishing a digital-based social development governance model. However, practical experience shows that many challenges remain, such as the digital divide between regions, data fragmentation, limitations in technological infrastructure, and the digital capabilities of citizens and government officials that do not yet meet requirements, as well as new issues arising related to data security, privacy, and digital ethics. Given these realities, Vietnam must clearly define the direction for building a social development governance model suited to the country’s development conditions.

Keywords: Social development governance model, digital platform.

1. Đặt vấn đề

Mô hình quản trị là cách thức tổ chức, vận hành và phối hợp các yếu tố cấu thành của quá trình quản trị, bao gồm: môi trường, chủ thể, đối tượng, nội dung và phương thức quản trị. Trên cơ sở đó, định hướng xây dựng mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần xác định trên ba phương diện then chốt: môi trường quản trị xã hội lai, đối tượng quản trị và phương thức quản trị. Đây là ba phương diện mà thực trạng cho thấy còn nhiều khoảng cách lớn nhất giữa yêu cầu và năng lực hiện có, đồng thời, có ý nghĩa quyết định trong việc khắc phục tình trạng lệch pha cấu trúc.

Tư tưởng xuyên suốt của định hướng xây dựng mô hình là chuyển từ mô hình quản lý hành chính, phân ngành và lãnh thổ sang một mô hình quản trị tích hợp, đa chủ thể, vận hành trên nền tảng dữ liệu và có năng lực thích ứng, dự báo. Đây là bước chuyển từ quản lý xã hội trên nền tảng số sang quản trị phát triển xã hội trong kỷ nguyên số theo nghĩa đầy đủ. Mô hình mới không phủ định mô hình cũ mà kế thừa những giá trị bền vững của nó như vai trò định hướng của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa và lấy con người làm trung tâm; đồng thời, bổ sung những năng lực mới mà kỷ nguyên số đòi hỏi.

2. Định hướng xây dựng mô hình quản trị phát triển xã hội

2.1. Mô hình quản trị trong môi trường xã hội lai

Môi trường quản trị phát triển xã hội trong kỷ nguyên số là một môi trường xã hội lai, nơi đan xen ba tầng thực tại là tầng vật lý, tầng số và tầng sinh học. Trong môi trường này, dữ liệu và nền tảng vận hành như hệ thần kinh trung ương của xã hội, truyền tải và điều phối các luồng thông tin, dịch vụ và quyết định. Con người không còn chỉ là thực thể sinh học mà đồng thời là công dân dữ liệu, hiện diện cùng lúc ở thực tại vật chất và thực tại số. Hiện nay, không gian xã hội lai ở Việt Nam đã hình thành về mặt hiện tượng và nhận thức nhưng vẫn thiếu các cơ chế điều phối và tích hợp tương xứng, làm hạn chế hiệu quả của quản trị. Do đó, định hướng mô hình quản trị trong môi trường xã hội lai trước hết phải khắc phục được sự thiếu hụt các cơ chế điều phối và tích hợp này.

Đặc trưng đầu tiên của mô hình quản trị trong môi trường xã hội lai là tính tích hợp. Khác với mô hình quản lý truyền thống vốn phân chia theo ngành, lĩnh vực và địa bàn, mô hình quản trị mới đòi hỏi tích hợp dữ liệu, tích hợp quy trình và tích hợp dịch vụ trên một nền tảng chung. Dữ liệu phải được liên thông giữa các ngành, các cấp và các hệ thống để trở thành một hạ tầng điều phối thống nhất. Khảo sát của đề tài cho thấy đây chính là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay: có 4,60 điểm đồng thuận với nhận định thiếu liên thông và đồng bộ giữa các cơ sở dữ liệu dẫn đến hệ quả chậm xử lý liên ngành với 4,62 điểm, mức cao nhất trong nhóm hệ quả1. Việc khai trương Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 vào tháng 8/2025 và việc Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã có 107 triệu dữ liệu công dân, kết nối với 15 bộ, ngành và 34 địa phương đã tạo nền móng kỹ thuật quan trọng cho tính tích hợp này2. Tuy nhiên, việc tích hợp về kỹ thuật phải đi đôi với tích hợp về thể chế và quy trình thì mới phát huy được hiệu quả.

Đặc trưng thứ hai là tính thời gian thực. Trong môi trường xã hội lai, các vấn đề xã hội phát sinh, lan truyền và biến đổi với tốc độ rất nhanh. Một thông tin sai lệch có thể lan rộng trong vài giờ; một biến động xã hội có thể hình thành trong vài ngày. Mô hình quản trị truyền thống vận hành theo chu kỳ báo cáo định kỳ và quy trình hành chính tuần tự không còn phù hợp với nhịp độ của không gian số. Khảo sát của đề tài cho thấy đội ngũ cán bộ nhận thức rõ yêu cầu này, với 4,36 điểm đồng thuận về việc cần phản ứng chính sách nhanh hơn trước đây3. Mô hình quản trị mới phải có khả năng theo dõi, phân tích và phản ứng theo thời gian thực, dựa trên các hệ thống giám sát liên tục và các công cụ phân tích dữ liệu tức thời. Đây là sự chuyển đổi từ quản trị theo chu kỳ sang quản trị theo dòng chảy.

Đặc trưng thứ ba là tính phối hợp đa chủ thể trong một cơ chế vận hành thống nhất. Môi trường xã hội lai có sự tham gia của nhiều chủ thể với vai trò và nguồn lực khác nhau: Nhà nước có thẩm quyền pháp lý, doanh nghiệp nắm giữ nền tảng và dữ liệu, tổ chức xã hội có khả năng kết nối cộng đồng, người dân là chủ thể tạo ra dữ liệu và thụ hưởng dịch vụ. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, các chủ thể này có vai trò khác nhau nhưng chưa được kết nối trong một cơ chế vận hành thống nhất, dẫn đến tình trạng bất cân xứng quyền lực và phối hợp kém hiệu quả. Mô hình quản trị trong môi trường xã hội lai phải thiết lập được một cơ chế điều phối đa chủ thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò trung tâm nhưng không độc quyền, các chủ thể khác được trao quyền tham gia thực chất và được ràng buộc trách nhiệm tương ứng.

Đặc trưng thứ tư là tính bảo đảm các giá trị nhân văn và đạo đức trong không gian lai. Khi dữ liệu và thuật toán ngày càng chi phối hành vi con người, mô hình quản trị phải bảo đảm rằng công nghệ phục vụ con người chứ không thay thế hay điều khiển con người. Điều này phù hợp với tinh thần của mô hình xã hội siêu thông minh hướng tới con người. Mô hình quản trị trong môi trường xã hội lai cần lồng ghép các nguyên tắc đạo đức số vào thiết kế hệ thống, bảo đảm minh bạch của thuật toán trong các quyết định ảnh hưởng đến quyền lợi người dân, bảo vệ quyền tự quyết và phẩm giá của công dân dữ liệu. Đây là chiều cạnh nhân văn không thể thiếu của một mô hình quản trị hiện đại.

Để vận hành mô hình quản trị trong môi trường xã hội lai, cần xây dựng một kiến trúc tổng thể gồm ba lớp gắn kết chặt chẽ. Lớp hạ tầng và dữ liệu bao gồm hạ tầng số, các cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng số dùng chung và các công cụ phân tích. Lớp thể chế và quy trình bao gồm khung pháp lý, cơ chế phối hợp liên ngành, quy trình ra quyết định dựa trên dữ liệu và cơ chế giám sát, đánh giá. Lớp chủ thể và tương tác bao gồm các kênh tham gia của người dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội, cùng các cơ chế phản hồi và đồng kiến tạo. Ba lớp này phải được thiết kế đồng bộ, bởi nếu chỉ phát triển lớp hạ tầng mà không đổi mới lớp thể chế thì sẽ rơi vào tình trạng có công cụ nhưng thiếu cơ chế sử dụng, đúng như nghịch lý nhận thức và thực hành mà khảo sát của đề tài đã chỉ ra.

Mô hình quản trị trong môi trường xã hội lai đòi hỏi tư duy thiết kế thể chế phải vượt qua sự phân tách cứng nhắc giữa không gian thực và không gian số. Trong thực tiễn, hầu hết các quan hệ xã hội ngày nay đều diễn ra đồng thời trên cả hai không gian, đan xen và tác động qua lại với nhau. Một chính sách an sinh có thể được thiết kế trên cơ sở dữ liệu số nhưng được thực hiện thông qua mạng lưới cán bộ cơ sở; một dịch vụ công có thể được khởi tạo trực tuyến nhưng cần sự hỗ trợ trực tiếp đối với những người gặp khó khăn. Do đó, mô hình quản trị phù hợp là mô hình tích hợp, trong đó các quy trình, công cụ và năng lực được thiết kế để vận hành liền mạch trên cả hai không gian, lấy trải nghiệm và lợi ích của người dân làm điểm hội tụ.

Quản trị môi trường xã hội lai còn đặt ra yêu cầu mới về năng lực dự báo và ứng phó với những rủi ro mang tính hệ thống. Trong không gian lai, một sự kiện phát sinh trên không gian số có thể nhanh chóng lan tỏa và tác động đến trật tự xã hội trong không gian thực, và ngược lại. Thông tin sai lệch, tin đồn, các trào lưu cực đoan hay những biến động tâm lý xã hội có thể được khuếch đại với tốc độ và quy mô chưa từng có. Vì vậy, mô hình quản trị cần được trang bị năng lực giám sát, cảnh báo sớm và phản ứng nhanh, dựa trên việc phân tích dữ liệu lớn và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng. Năng lực này phải được xây dựng trên nền tảng tôn trọng quyền tự do thông tin và quyền riêng tư của công dân, tránh nguy cơ lạm dụng công cụ giám sát làm tổn hại đến các giá trị dân chủ và quyền con người.

2.2. Định hướng về đối tượng quản trị

Đối tượng quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số đang chuyển từ trạng thái ổn định sang trạng thái động, lai và khó phân loại. Trong mô hình quản lý truyền thống, đối tượng quản trị được xác định rõ ràng theo ngành, lĩnh vực và địa bàn, gắn với các thực thể vật chất và quan hệ xã hội tương đối ổn định. Tuy nhiên, trong môi trường số, đối tượng quản trị ngày càng mang tính phi vật thể, biến động nhanh và liên thông giữa nhiều không gian, làm cho các công cụ quản lý dựa trên phân loại tĩnh trở nên kém hiệu quả. Định hướng về đối tượng quản trị, vì vậy, phải dựa trên một cách tiếp cận mới, chuyển từ quản trị theo đối tượng ổn định sang quản trị theo hiện tượng động.

Thứ nhất, mô hình quản trị mới phải mở rộng và tái định nghĩa phạm vi đối tượng quản trị. Bên cạnh các lĩnh vực xã hội truyền thống như giáo dục, y tế, lao động, việc làm và an sinh xã hội, đối tượng quản trị nay bao gồm các thực thể và hiện tượng mới của không gian số: dữ liệu cá nhân và dữ liệu công, hành vi số của công dân, lao động trên các nền tảng, các cộng đồng số, các tương tác trên mạng xã hội, và các hệ thống ra quyết định tự động dựa trên thuật toán. Khảo sát của đề tài cho thấy đội ngũ cán bộ đã nhận diện được sự mở rộng này, với 4,63 điểm đồng thuận về việc đối tượng quản trị mở rộng, đa dạng và phức tạp hơn, và 4,57 điểm về việc lĩnh vực quản trị phát triển xã hội rộng, đa tầng, đa diện4. Việc dữ liệu công và dữ liệu cá nhân được 67,4% ý kiến xác định là đối tượng quản trị trung tâm cho thấy nhận thức về vai trò của dữ liệu như một đối tượng quản trị mới đã tương đối phổ biến.

Trường hợp lao động trên các nền tảng là một minh chứng điển hình cho tính lai của đối tượng quản trị mới. Lực lượng lao động này vừa mang tính quan hệ lao động, vừa mang tính quan hệ nền tảng; vừa tồn tại trong không gian số, vừa có tác động trực tiếp đến đời sống vật lý. Các công cụ pháp lý hiện hành về quan hệ lao động được thiết kế cho mô hình lao động truyền thống, chưa bao quát được dạng quan hệ này, dẫn đến khoảng trống trong bảo vệ quyền lợi và an sinh. Khảo sát của đề tài cho thấy đây là một vấn đề xã hội cấp bách, với 4,50 điểm đồng thuận về khó khăn trong bảo vệ quyền lợi an sinh cho lao động nền tảng, và 4,31 điểm về việc thiếu khung pháp lý cho nhóm lao động này5. Định hướng về đối tượng quản trị, vì vậy, phải bao gồm việc xây dựng các khung pháp lý mới, linh hoạt và phù hợp với bản chất lai của các đối tượng và hiện tượng xã hội số.

Thứ hai, mô hình quản trị mới phải đặt người dân, công dân số vào vị trí trung tâm vừa là đối tượng phục vụ vừa là chủ thể tham gia. Đây là một điểm then chốt phân biệt quản trị hiện đại với quản lý truyền thống. Trong khảo sát, người dân là trung tâm và là đối tượng phục vụ nhận 4,31 điểm đồng thuận và nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm đạt 4,75 điểm, một trong những mức cao nhất6. Tuy nhiên, công dân số được đặt ở vị trí trung tâm trong nội dung chính sách nhưng chưa thực sự trở thành chủ thể có quyền lực dữ liệu và khả năng tham gia tương xứng. Định hướng về đối tượng quản trị phải khắc phục khoảng cách giữa diễn ngôn và thực chất này, bằng cách bảo đảm quyền dữ liệu của công dân, mở rộng các kênh tham gia thực chất và thiết kế dịch vụ từ nhu cầu thực của người dân.

Thứ ba, định hướng về đối tượng quản trị phải tính đến sự thay đổi của bản đồ đối tượng sau khi tổ chức lại đơn vị hành chính. Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025, với việc không tổ chức cấp huyện và sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp xã, đã làm thay đổi căn bản cấu trúc không gian quản trị7. Cấp xã, phường mới có quy mô lớn hơn, đảm nhận nhiều chức năng hơn và trở thành cấp trực tiếp cung ứng dịch vụ công cho người dân. Điều này đặt ra yêu cầu thiết kế lại hệ thống dữ liệu và dịch vụ theo cấu trúc hành chính mới, đồng thời tăng cường năng lực số cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, những người trực tiếp tiếp xúc và phục vụ người dân trên nền tảng số. Đối tượng quản trị, trong bối cảnh này, phải được tổ chức lại theo nguyên tắc lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm dịch vụ được cung ứng liền mạch bất kể sự thay đổi về tổ chức bộ máy.

Định hướng về đối tượng quản trị đòi hỏi một sự chuyển đổi về tư duy nhận diện và phân loại đối tượng. Thay vì cố gắng áp đặt các khuôn phân loại cứng nhắc lên những thực thể và hiện tượng vốn có bản chất động và lai, mô hình quản trị mới cần xây dựng các công cụ nhận diện linh hoạt dựa trên dữ liệu, có khả năng cập nhật liên tục và thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của đối tượng. Đây là điều kiện để Nhà nước không bị động, bất ngờ trước sự xuất hiện của các đối tượng và hiện tượng xã hội mới, và để chính sách luôn bám sát thực tiễn vận động của đời sống xã hội.

Định hướng về đối tượng quản trị trong điều kiện chuyển đổi số cần đặc biệt chú trọng đến những nhóm xã hội mới xuất hiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế nền tảng. Lực lượng lao động nền tảng, bao gồm tài xế công nghệ, người giao hàng, người làm việc tự do trên các ứng dụng số, đang gia tăng nhanh chóng cả về quy mô và vai trò kinh tế, song lại nằm ngoài phạm vi điều chỉnh đầy đủ của hệ thống an sinh truyền thống. Đây là một khoảng trống quản trị cần được nhận diện và khắc phục thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý, xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên, và thiết kế các cơ chế an sinh phù hợp với đặc thù linh hoạt của hình thức lao động này. Việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhóm lao động nền tảng không chỉ là yêu cầu công bằng xã hội mà còn là điều kiện để duy trì sự ổn định và bền vững của thị trường lao động trong nền kinh tế số8.

Cùng với việc nhận diện các nhóm đối tượng mới, định hướng quản trị cần khắc phục tư duy phân loại tĩnh và chuyển sang cách tiếp cận động, đa chiều đối với đối tượng quản trị. Trong môi trường số, mỗi cá nhân có thể đồng thời thuộc nhiều nhóm khác nhau và vị thế của họ có thể thay đổi nhanh chóng theo hoàn cảnh. Một người có thể vừa là người lao động, vừa là người thụ hưởng chính sách, vừa là chủ thể cung cấp dịch vụ trên nền tảng số. Cách tiếp cận quản trị phù hợp là dựa trên dữ liệu cá nhân hóa, có khả năng nhận diện chính xác nhu cầu và hoàn cảnh thực tế của từng người, từ đó cung cấp dịch vụ và hỗ trợ phù hợp. Tuy nhiên, việc cá nhân hóa này phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền riêng tư, minh bạch về mục đích sử dụng dữ liệu và bảo đảm rằng người dân luôn giữ quyền kiểm soát đối với thông tin của mình.

2.3. Định hướng về phương thức quản trị

Phương thức quản trị là cách thức mà chủ thể quản trị tác động lên đối tượng quản trị để đạt được mục tiêu. Phương thức quản trị phát triển xã hội của Việt Nam hiện nay đang chuyển đổi về công cụ nhưng chưa chuyển đổi về logic: các công nghệ như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và Internet vạn vật đã được ứng dụng nhưng quản trị vẫn chủ yếu dựa trên quy trình, thủ tục và phản ứng chính sách, thay vì dựa trên phân tích dữ liệu, mô hình dự báo và điều chỉnh linh hoạt. Định hướng về phương thức quản trị, vì vậy, phải hoàn tất bước chuyển đổi về logic, từ quản trị dựa trên thủ tục sang quản trị dựa trên dữ liệu và dự báo.

Định hướng cốt lõi đầu tiên là chuyển sang quản trị dựa trên dữ liệu. Đây là yêu cầu nhận được sự đồng thuận rất cao của đội ngũ cán bộ, với 84,2% ý kiến ưu tiên phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, và nhận định chuyển từ hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu đạt 4,64 điểm9. Quản trị dựa trên dữ liệu có nghĩa là các quyết định chính sách được xây dựng trên cơ sở phân tích dữ liệu thực tế thay vì dựa chủ yếu vào kinh nghiệm và cảm tính. Dữ liệu cho phép xác định chính xác nhu cầu xã hội, phân bổ nguồn lực hợp lý, giám sát hiệu quả thực thi và đánh giá tác động chính sách một cách khách quan. Tuy nhiên, khảo sát cũng cho thấy một nghịch lý đáng lưu ý: trong khi nhận thức về tầm quan trọng của quản trị dựa trên dữ liệu rất cao, thì thực tế quyết định quản lý chủ yếu dựa trên số liệu phân tích chỉ đạt 3,45 điểm10. Khoảng cách giữa nhận thức và thực hành này chính là vấn đề mà định hướng phương thức quản trị phải tập trung giải quyết.

Định hướng cốt lõi thứ hai là phát triển năng lực dự báo và quản trị phòng ngừa. Hiện nay, năng lực dự báo hạn chế là một điểm yếu khiến phương thức quản trị vẫn chủ yếu mang tính phản ứng sau sự kiện. Trong một xã hội số vận hành theo logic thời gian thực và rủi ro lan truyền nhanh, quản trị phản ứng luôn ở thế bị động và phải trả giá cao hơn so với quản trị phòng ngừa. Định hướng phương thức quản trị mới phải xây dựng được năng lực dự báo các xu hướng xã hội, phát hiện sớm các rủi ro và khủng hoảng, từ đó chủ động phòng ngừa và can thiệp từ sớm, từ xa. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong phân tích dự báo, mô phỏng kịch bản và cảnh báo sớm là công cụ then chốt để hiện thực hóa định hướng này. Khảo sát của đề tài cho thấy đây là một dư địa lớn, khi ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong dự báo và hoạch định chính sách nhận được 93,9% ý kiến ưu tiên cao nhưng thực tế triển khai còn hạn chế.

Định hướng cốt lõi thứ ba là phát triển phương thức quản trị thích ứng và thử nghiệm. Trong điều kiện các hiện tượng xã hội số phát triển nhanh và khó dự đoán, không thể chờ có đầy đủ thông tin và khung pháp lý hoàn chỉnh rồi mới hành động. Phương thức quản trị thích ứng cho phép thử nghiệm chính sách trong phạm vi và thời gian giới hạn, đánh giá kết quả, học hỏi và điều chỉnh trước khi nhân rộng. Cơ chế khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát là một công cụ quan trọng của phương thức này. Tuy nhiên, đây lại là điểm yếu rõ rệt nhất hiện nay: trong khảo sát, thể chế thử nghiệm chính sách và quản trị thích ứng chỉ đạt 16% ý kiến lựa chọn, mức thấp nhất trong nhóm các phương thức quản trị11. Tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, loại bỏ tư duy không quản được thì cấm, chính là cơ sở chính trị và pháp lý để phát triển mạnh mẽ phương thức quản trị thử nghiệm và thích ứng này12.

Định hướng cốt lõi thứ tư là phát triển phương thức quản trị xuyên biên giới và điều tiết nền tảng. Một trong những giới hạn lớn nhất của phương thức quản trị truyền thống dựa trên lãnh thổ là khó khăn trong xử lý các vấn đề mang tính xuyên biên giới, như các nền tảng số toàn cầu và dòng dữ liệu xuyên quốc gia. Khảo sát của đề tài xác định đây là một trong những điểm nghẽn nặng nề nhất, với 4,57 điểm đồng thuận về việc thiếu cơ chế điều tiết nền tảng xuyên biên giới13. Các nền tảng xuyên quốc gia đang chi phối mạnh mẽ không gian thông tin trong nước, đặt ra yêu cầu cấp bách về xây dựng năng lực và cơ chế điều tiết phù hợp, vừa bảo đảm chủ quyền số quốc gia, vừa tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, vừa bảo vệ quyền lợi người dùng trong nước. Phương thức quản trị mới phải kết hợp giữa công cụ pháp lý, công cụ kỹ thuật và hợp tác quốc tế để điều tiết hiệu quả khu vực này.

Định hướng về phương thức quản trị phải bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa phương thức số và phương thức truyền thống, giữa công nghệ và con người. Công nghệ là công cụ mạnh mẽ nhưng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của con người trong quản trị, đặc biệt trong các quyết định có liên quan đến quyền lợi, phẩm giá và số phận của người dân. Phương thức quản trị mới cần xác định rõ những lĩnh vực có thể tự động hóa và những lĩnh vực cần giữ vai trò quyết định của con người, bảo đảm rằng trí tuệ nhân tạo và các hệ thống tự động luôn được đặt dưới sự giám sát và trách nhiệm của con người. Sự kết hợp hài hòa này là điều kiện để phương thức quản trị vừa hiện đại, hiệu quả, vừa giữ được tính nhân văn và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, nơi trình độ số của các nhóm dân cư và các vùng miền còn có sự khác biệt đáng kể.

Ba định hướng về môi trường, đối tượng và phương thức quản trị nêu trên tạo thành một mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số có tính chỉnh thể. Mô hình này lấy môi trường xã hội lai làm không gian vận hành, lấy việc nhận diện linh hoạt các đối tượng và hiện tượng động làm cơ sở, và lấy phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, dự báo và thích ứng làm cách thức tác động. Điểm thống nhất xuyên suốt của mô hình là khắc phục tình trạng lệch pha cấu trúc giữa xã hội số và hệ thống quản trị, đưa hệ thống quản trị vận hành cùng nhịp với xã hội số. Mô hình này không thể được hiện thực hóa nếu thiếu một hệ giải pháp đồng bộ, đó là nội dung của phần tiếp theo.

Định hướng đổi mới phương thức quản trị đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản từ quản lý dựa trên thủ tục hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng.

Phương thức quản trị thử nghiệm và thích ứng cần được khẳng định như một định hướng quan trọng trong bối cảnh thực tiễn biến đổi nhanh và nhiều bất định. Thay vì chờ đợi một khung pháp lý hoàn chỉnh trước khi triển khai, cách tiếp cận thử nghiệm có kiểm soát cho phép thí điểm các giải pháp mới trong phạm vi và thời gian xác định, đánh giá kết quả thực tế và điều chỉnh kịp thời trước khi nhân rộng. Phương thức này đặc biệt phù hợp với lĩnh vực quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, nơi mà công nghệ và quan hệ xã hội thay đổi liên tục, khiến cho các khung pháp lý cứng nhắc dễ trở nên lạc hậu. Tinh thần đổi mới tư duy quản lý theo hướng kiến tạo phát triển, sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong giới hạn cho phép và lấy hiệu quả thực tế làm thước đo, chính là nền tảng để phát triển mạnh mẽ phương thức quản trị thử nghiệm và thích ứng trong thời gian tới.

3. Đề xuất cấu trúc của mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số ở Việt Nam

Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số của Việt Nam có thể được thiết kế theo cấu trúc nhiều tầng, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa thể chế, dữ liệu, công nghệ và các chủ thể xã hội. Đây là mô hình quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, lấy người dân làm trung tâm, lấy công nghệ số làm công cụ và lấy hiệu quả phát triển xã hội bền vững làm mục tiêu hướng tới.

3.1. Tầng thể chế số nền tảng bảo đảm cho quản trị xã hội số

Tầng thể chế số đóng vai trò là nền tảng định hướng và điều chỉnh toàn bộ hoạt động quản trị phát triển xã hội trên môi trường số. Tầng này bao gồm hệ thống chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chế vận hành và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong quản lý xã hội. Trong điều kiện chuyển đổi số, thể chế không chỉ tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ mà còn bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong môi trường số.

Việc hoàn thiện thể chế số cần tập trung vào xây dựng khung pháp lý về dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân, định danh điện tử, chia sẻ dữ liệu công, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số. Đồng thời, cần đổi mới phương thức quản lý theo hướng từ quản lý hành chính truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu và tương tác số, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia nhiều hơn vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách.

3.2. Tầng dữ liệu số trái tim của mô hình quản trị xã hội số

Dữ liệu là nguồn tài nguyên chiến lược và là cơ sở để các chủ thể quản trị đưa ra quyết định chính xác, kịp thời và hiệu quả. Tầng dữ liệu số bao gồm hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong các lĩnh vực dân cư, giáo dục, y tế, lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, môi trường và các lĩnh vực khác có liên quan đến phát triển xã hội.

Trong mô hình quản trị xã hội số, các cơ sở dữ liệu cần được kết nối, liên thông và chia sẻ theo nguyên tắc thống nhất, đồng bộ và an toàn. Khi dữ liệu được tích hợp trên phạm vi toàn quốc, các cơ quan quản lý có thể theo dõi sát diễn biến các vấn đề xã hội, nhận diện sớm các nguy cơ phát sinh và xây dựng các chính sách phù hợp với từng nhóm dân cư, từng địa phương và từng giai đoạn phát triển. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hình thành các hệ thống phân tích, dự báo và cảnh báo sớm các vấn đề xã hội dựa trên trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn.

3.3. Tầng nền tảng công nghệ số công cụ vận hành hệ thống quản trị xã hội

Tầng công nghệ số là bộ phận trực tiếp hỗ trợ quá trình vận hành của mô hình quản trị xã hội. Tầng này bao gồm hạ tầng số, các nền tảng quản trị số, hệ thống điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, chuỗi khối và các công nghệ mới khác. Đây là môi trường kỹ thuật cho phép các hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ xã hội và tương tác giữa các chủ thể được thực hiện nhanh chóng, minh bạch và hiệu quả hơn.

Trong thời gian tới, Việt Nam cần ưu tiên xây dựng các nền tảng số dùng chung phục vụ quản trị phát triển xã hội trên phạm vi quốc gia, đồng thời phát triển các nền tảng chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội, việc làm, giảm nghèo, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng. Thông qua các nền tảng này, dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực, các dịch vụ xã hội được cung cấp trực tuyến và các cơ quan quản lý có thể giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách một cách chính xác hơn.

3.4. Tầng xã hội số trung tâm của quá trình quản trị

Tầng xã hội số là tầng cao nhất và cũng là mục tiêu cuối cùng của mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số. Tầng này bao gồm người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và các chủ thể tham gia vào đời sống xã hội trên môi trường số. Trong mô hình mới, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình quản trị thông qua các nền tảng tương tác số.

Thông qua các ứng dụng và nền tảng số, người dân có thể tiếp cận dịch vụ công, phản ánh các vấn đề xã hội, đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng chính sách, giám sát hoạt động của cơ quan công quyền và tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng. Điều này góp phần hình thành mô hình quản trị xã hội theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, việc phát triển xã hội số đòi hỏi phải nâng cao năng lực số cho toàn dân, hình thành văn hóa số, kỹ năng số và ý thức công dân số. Đây là yếu tố quyết định để bảo đảm mọi người dân đều có khả năng tham gia và hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi số, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển xã hội bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.

3.5. Cơ chế liên kết và vận hành giữa các tầng của mô hình

Bốn tầng của mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau. Thể chế số tạo khuôn khổ pháp lý cho việc xây dựng và khai thác dữ liệu; dữ liệu số cung cấp nguồn thông tin cho các nền tảng công nghệ vận hành; công nghệ số tạo môi trường kết nối và xử lý dữ liệu; trong khi xã hội số vừa là chủ thể tham gia vừa là đối tượng thụ hưởng kết quả quản trị.

Sự liên kết đồng bộ giữa các tầng sẽ hình thành một hệ sinh thái quản trị xã hội số thống nhất, trong đó mọi hoạt động quản lý được thực hiện dựa trên dữ liệu, các quyết định chính sách được hỗ trợ bởi công nghệ hiện đại và người dân được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Đây cũng là hướng đi phù hợp để Việt Nam từng bước xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại số.

4. Kết luận

Mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần được xây dựng theo hướng lấy con người làm trung tâm, lấy dữ liệu làm nguồn lực chiến lược, lấy công nghệ số làm công cụ và lấy sự tham gia của người dân làm động lực phát triển. Việc hình thành một hệ sinh thái quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số đồng bộ, bao gồm thể chế số, dữ liệu số, nền tảng công nghệ số và xã hội số, sẽ tạo điều kiện để các cơ quan quản lý chuyển từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang quản trị thông minh dựa trên dữ liệu và bằng chứng thực tiễn. Qua đó, chất lượng hoạch định chính sách được nâng cao, việc cung cấp dịch vụ xã hội hiệu quả hơn, đồng thời tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng tham gia của người dân trong các hoạt động quản trị xã hội.

Đối với Việt Nam, việc xây dựng mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần được triển khai đồng bộ với quá trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế và chính sách về chuyển đổi số; phát triển hạ tầng số và hệ sinh thái dữ liệu quốc gia; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ số mới trong quản lý xã hội; đồng thời nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ quản lý và người dân. Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu, quyền riêng tư và đạo đức số nhằm xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh và đáng tin cậy.

Trong giai đoạn tới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và quá trình chuyển đổi số quốc gia, mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số sẽ trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển xã hội bao trùm, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và các nhóm dân cư, bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của chuyển đổi số. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam xây dựng một xã hội số nhân văn, hiện đại, phát triển bền vững và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đến năm 2045.

Chú thích:
1. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Hệ quả chậm xử lý liên ngành do thiếu liên thông cơ sở dữ liệu đạt 4,62 điểm, mức cao nhất trong nhóm.
2. Trung tâm Dữ liệu quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với hơn 107 triệu công dân, kết nối với 15 bộ, ngành và 34 địa phương.
3. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Mức đồng thuận về yêu cầu phản ứng chính sách nhanh hơn trước đây đạt 4,36 điểm.
4. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Các nhận định về tính rộng, đa tầng, đa diện của lĩnh vực quản trị phát triển xã hội đạt 4,57 điểm.
5. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Mức đồng thuận về việc thiếu khung pháp lý bảo vệ quyền lợi an sinh cho lao động nền tảng đạt 4,31 điểm.
6. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm đạt 4,75 điểm, một trong những mức cao nhất.
7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) họp từ ngày 10/4 đến ngày 12/4/2025 tại Thủ đô Hà Nội, sau khi xem xét và thảo luận các tờ trình, đề án và báo cáo của Bộ Chính trị, căn cứ kết quả biểu quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
8. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Mức đồng thuận về việc thiếu khung pháp lý bảo vệ quyền lợi an sinh cho lao động nền tảng đạt 4,31 điểm.
9. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Nhận định về chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu đạt 4,64 điểm.
10. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Trong khi nhận thức về quản trị dựa trên dữ liệu rất cao, thực tế quyết định quản lý chủ yếu dựa trên số liệu phân tích chỉ đạt 3,45 điểm.
11. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Phương thức thử nghiệm chính sách và quản trị thích ứng chỉ đạt 16% ý kiến lựa chọn, mức thấp nhất.
12. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
13. Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài. Mức đồng thuận về việc thiếu cơ chế điều tiết các nền tảng xuyên biên giới đạt 4,57 điểm.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
3. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
5. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
6. Việt Nam xây dựng nền quản trị quốc gia dựa vào chuyển đổi số, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – những bất cập về thể chế hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/12/viet-nam-xay-dung-nen-quan-tri-quoc-gia-dua-vao-chuyen-doi-so-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-nhung-bat-cap-ve-the-che-hien-nay/