Bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam

Ensuring the right of access to public services in the context of digital transformation in Vietnam

Trần Vũ Mai Linh
Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn ACC

(Quanlynhanuoc.vn) Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức cung ứng dịch vụ công, giúp mở rộng cơ hội thực hiện quyền tiếp cận dịch vụ công của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều nghịch lý và thách thức, đặc biệt là nguy cơ gia tăng rào cản đối với các nhóm yếu thế, vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận về quyền tiếp cận dịch vụ công và phân tích thực trạng bảo đảm quyền này trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và phát triển dịch vụ công trực tuyến, Việt Nam vẫn cần giải quyết bài toán về khoảng cách số và quyền riêng tư. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, thu hẹp khoảng cách số, nâng cao năng lực quản trị nhà nước và tăng cường bảo vệ quyền con người trên môi trường số, hướng tới một nền hành chính số lấy người dân làm trung tâm.

Từ khóa: Quyền tiếp cận dịch vụ công; chuyển đổi số; Chính phủ số; quyền con người; khoảng cách số.

Abstract: Digital transformation is bringing about fundamental changes in the delivery of public services, expanding opportunities for citizens and businesses to exercise their right of access to public services. However, this process also presents a number of paradoxes and challenges, particularly the risk of creating new barriers for vulnerable groups, as well as concerns regarding personal data protection and cybersecurity. This article clarifies the theoretical foundations of the right of access to public services and analyzes the current state of ensuring this right in the context of digital transformation in Vietnam. Although significant achievements have been made in institutional reform, the development of national databases, and the expansion of online public services, Vietnam still faces challenges related to the digital divide and the protection of privacy rights. Based on these findings, the article proposes solutions to improve the legal framework, narrow the digital divide, enhance state governance capacity, and strengthen the protection of human rights in the digital environment, thereby contributing to the development of a citizen-centered digital administration.

Keywords: Right of access to public services; digital transformation; digital government; human rights; digital divide.

1. Đặt vấn đề

Trong Nhà nước pháp quyền hiện đại, quyền con người và quyền công dân không chỉ được bảo đảm bằng việc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật mà còn được hiện thực hóa thông qua khả năng tiếp cận các dịch vụ công do Nhà nước cung cấp. Từ đăng ký hộ tịch, cấp giấy tờ nhân thân, giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội đến giải quyết thủ tục hành chính và tiếp cận thông tin. Vì vậy, quyền tiếp cận dịch vụ công ngày càng được nhìn nhận không đơn thuần là vấn đề tổ chức cung ứng dịch vụ hành chính, mà là một biểu hiện cụ thể của quyền được thụ hưởng thành quả quản trị nhà nước, phản ánh trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm mọi công dân đều có cơ hội bình đẳng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu mà không bị phân biệt đối xử.

Những năm gần đây, chuyển đổi số đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong phương thức cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam. Việc phát triển Chính phủ số, cơ sở dữ liệu quốc gia, định danh điện tử, cổng dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, tăng cường tính công khai, minh bạch và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân và doanh nghiệp. Không gian thực hiện quyền của công dân vì thế cũng được mở rộng vượt ra ngoài giới hạn của phương thức hành chính truyền thống, cho phép người dân tiếp cận các dịch vụ công mọi lúc, mọi nơi thông qua môi trường số. Tuy nhiên, chính quá trình số hóa các dịch vụ công cũng hàm chứa một nghịch lý là: trong khi công nghệ số giúp gia tăng khả năng tiếp cận dịch vụ công đối với bộ phận dân cư có điều kiện về hạ tầng, thiết bị và kỹ năng số thì đồng thời cũng có nguy cơ tạo ra những rào cản mới đối với các nhóm yếu thế. Điều này cho thấy chuyển đổi số không mặc nhiên đồng nghĩa với việc mở rộng quyền tiếp cận dịch vụ công; nếu thiếu các cơ chế bảo đảm phù hợp, chính quá trình chuyển đổi số có thể làm gia tăng bất bình đẳng trong việc thực hiện quyền của công dân. Đây là một nghịch lý quản trị cần được lý giải cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.

2. Cơ sở lý luận bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công trong bối cảnh chuyển đổi số

2.1. Quyền tiếp cận dịch vụ công

Trong khoa học pháp lý, quyền tiếp cận dịch vụ công chưa được thừa nhận như một quyền hiến định độc lập. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc quyền này không có giá trị trong hệ thống bảo đảm quyền con người và quyền công dân. Trái lại, dưới góc độ Nhà nước pháp quyền và quản trị công hiện đại, quyền tiếp cận dịch vụ công cần được nhìn nhận như một quyền có tính chất công cụ,giữ vai trò kết nối giữa các quyền được Hiến pháp ghi nhận với khả năng hiện thực hóa các quyền đó trong đời sống xã hội. Nói cách khác, đây không phải là một quyền tồn tại độc lập, mà là phương thức để các quyền hiến định được thực thi trên thực tế thông qua hoạt động cung ứng dịch vụ của Nhà nước.

Về bản chất, quyền tiếp cận dịch vụ công là khả năng của mọi cá nhân, tổ chức được tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng các dịch vụ công do Nhà nước trực tiếp cung cấp hoặc ủy quyền cung cấp trên cơ sở bình đẳng, công khai, thuận tiện và không bị phân biệt đối xử. Nội hàm của quyền này không chỉ bao gồm quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước cung ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật, mà còn bao hàm khả năng tiếp cận thực tế đối với các dịch vụ đó. Điều này có nghĩa quyền chỉ thực sự được bảo đảm khi người dân có đủ điều kiện để sử dụng dịch vụ, không bị cản trở bởi các rào cản về thủ tục, khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế, năng lực tiếp cận thông tin hay những hạn chế khác phát sinh trong quá trình thực hiện quyền. Do đó, đánh giá mức độ bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công không chỉ dựa trên việc Nhà nước đã thiết lập hệ thống dịch vụ, mà còn phải xem xét việc mọi chủ thể trong xã hội có khả năng tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ đó một cách bình đẳng hay không.

Bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công không dừng lại ở việc ban hành các quy định pháp luật hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ. Theo cách tiếp cận dựa trên quyền con người, Nhà nước đồng thời phải thực hiện ba nhóm nghĩa vụ cơ bản: tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền. Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi cơ quan nhà nước không được đặt ra các rào cản hành chính hoặc kỹ thuật làm hạn chế khả năng tiếp cận hợp pháp của người dân. Nghĩa vụ bảo vệ yêu cầu Nhà nước xây dựng cơ chế pháp lý nhằm ngăn ngừa các hành vi xâm phạm quyền tiếp cận dịch vụ công từ các chủ thể cung ứng dịch vụ hoặc từ việc lạm dụng công nghệ số. Quan trọng hơn, nghĩa vụ bảo đảm thực hiện đặt lên vai Nhà nước trách nhiệm chủ động thiết lập các điều kiện cần thiết để mọi người dân đều có khả năng tiếp cận dịch vụ công trên thực tế, bao gồm phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực số của người dân, thiết kế dịch vụ theo hướng thân thiện, dễ tiếp cận và hỗ trợ các nhóm yếu thế. Vì vậy, hiệu quả quản lý nhà nước không chỉ được đánh giá bằng số lượng dịch vụ công được số hóa mà còn bằng mức độ bảo đảm khả năng tiếp cận thực tế của mọi công dân đối với các dịch vụ đó.

2.2. Tác động của chuyển đổi số đối với việc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công

Chuyển đổi số không đơn thuần làm thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ công mà còn làm thay đổi điều kiện thực hiện quyền tiếp cận dịch vụ công của người dân. Nếu trước đây việc bảo đảm quyền này chủ yếu phụ thuộc vào mạng lưới cơ quan hành chính, thủ tục và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thì trong môi trường số, khả năng thực hiện quyền còn chịu tác động trực tiếp của hạ tầng công nghệ, dữ liệu số, nền tảng số và năng lực số của cả Nhà nước lẫn người dân. Do đó, tác động của chuyển đổi số cần được nhìn nhận theo hai chiều: mở rộng cơ hội thực hiện quyền, đồng thời, tạo ra những thách thức mới đối với việc bảo đảm tính bình đẳng trong tiếp cận.

Ở phương diện tích cực, chuyển đổi số góp phần mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận dịch vụ công. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến giúp người dân có thể thực hiện nhiều thủ tục hành chính mà không phụ thuộc vào thời gian và địa điểm, qua đó giảm đáng kể chi phí giao dịch và thời gian thực hiện quyền. Dữ liệu số và các nền tảng dùng chung giúp đơn giản hóa quy trình xử lý hồ sơ, hạn chế việc yêu cầu người dân cung cấp lặp lại thông tin, đồng thời, nâng cao tính minh bạch trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính. Người dân có thể theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ, giám sát hoạt động của cơ quan công quyền và phản ánh những bất cập trong quá trình cung ứng dịch vụ. Bên cạnh đó, việc khai thác dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) từng bước tạo điều kiện để cá thể hóa dịch vụ công, cung cấp các dịch vụ phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ và trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước. Xét dưới góc độ quyền con người, những thay đổi này góp phần mở rộng khả năng thực hiện quyền của công dân và tăng cường mức độ tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu.

3. Thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam
3.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, thể chế về chuyển đổi số từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng pháp lý cho việc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công. Một trong những thành tựu quan trọng nhất là Việt Nam đã từng bước hình thành hệ thống thể chế tương đối đồng bộ về chuyển đổi số. Trên cơ sở Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; tiếp đó là Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia (Đề án 06).

Đặc biệt, việc Quốc hội thông qua Luật Giao dịch điện tử năm 2023 và Luật Dữ liệu năm 2024 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động trên môi trường số. Thực tiễn cho thấy, hành lang pháp lý này đã mang lại hiệu quả rõ rệt: từ năm 2021 đến nay, các cơ quan quản lý đã cắt giảm, đơn giản hóa gần 3.000 quy định kinh doanh và phân cấp cho địa phương gần 700 thủ tục hành chính, tạo nền tảng vững chắc để chuyển từ nền hành chính quản lý sang nền quản trị phục vụ1.
Thứ hai, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống định danh điện tử đã tạo nền tảng hạ tầng số cho việc thực hiện quyền tiếp cận dịch vụ công. Một bước tiến có tính đột phá trong bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công là việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống định danh điện tử quốc gia. Theo thống kê về kết quả triển khai Đề án 06, tính đến cuối năm 2024, cơ sở dữ liệu quốc gia đã kích hoạt thành công trên 57,9 triệu tài khoản định danh điện tử VNeID2.

Đây được coi là “hạ tầng dữ liệu” của Chính phủ số, cho phép các cơ quan nhà nước khai thác thông tin thống nhất thay vì yêu cầu người dân xuất trình hoặc kê khai lặp lại nhiều loại giấy tờ, đồng thời, nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành như bảo hiểm xã hội, thuế, hộ tịch, đăng ký doanh nghiệp, giáo dục, y tế… đã được kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ giải quyết thủ tục hành chính. Đây là tiền đề quan trọng để triển khai nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng” trong quản lý nhà nước. Song song với đó, hệ thống định danh điện tử VNeID được triển khai trên phạm vi toàn quốc đã tạo ra phương thức xác thực điện tử thống nhất cho người dân khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến.
Thứ ba, dịch vụ công trực tuyến được mở rộng cả về phạm vi, chất lượng và mức độ sử dụng. Việc vận hành Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính các cấp đã tạo bước chuyển rõ nét trong phương thức cung cấp dịch vụ công của Nhà nước. Tính đến đầu năm 2025, Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp hơn 4.500 dịch vụ công trực tuyến, chiếm hơn 70% tổng số thủ tục hành chính. Đặc biệt, việc triển khai toàn trình 23/25 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06 đã giúp tiết kiệm cho Nhà nước và xã hội khoảng 3.500 tỷ đồng mỗi năm3.

Những kết quả này cho thấy, chuyển đổi số không chỉ làm tăng số lượng dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mà còn từng bước thay đổi phương thức thực hiện quyền tiếp cận dịch vụ công từ mô hình “đến cơ quan hành chính” sang mô hình “dịch vụ đến với người dân”. Sự nỗ lực này cũng được quốc tế ghi nhận khi Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) năm 2024 của Việt Nam do Liên Hợp quốc đánh giá đã xếp hạng 71/193 quốc gia, tăng 15 bậc so với năm 20224.
Thứ tư, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước từng bước được tăng cường, góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công. Một trong những hạn chế lớn của nền hành chính truyền thống là tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu liên thông giữa các cơ quan nhà nước. Chuyển đổi số đã tạo điều kiện từng bước khắc phục tình trạng này thông qua việc phát triển nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia và kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Điều này góp phần hiện thực hóa chủ trương cải cách thủ tục hành chính theo hướng giảm giấy tờ, giảm thời gian và giảm chi phí tuân thủ. Việc liên thông dữ liệu cũng tạo điều kiện triển khai nhiều dịch vụ công liên thông, như liên thông đăng ký khai sinh – đăng ký thường trú – cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; liên thông đăng ký khai tử – xóa đăng ký thường trú – giải quyết chế độ mai táng phí và trợ cấp tử tuất. Đây là những mô hình cải cách hành chính có ý nghĩa thiết thực, giúp người dân chỉ cần thực hiện một lần khai báo nhưng có thể hoàn thành đồng thời nhiều thủ tục hành chính liên quan. Việc tăng cường chia sẻ dữ liệu đã góp phần hiện thực hóa nguyên tắc thuận tiện, bình đẳng và không phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ công, đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước dựa trên dữ liệu.
Thứ năm, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong cung cấp dịch vụ công từng bước được nâng cao trên môi trường số. Chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ công mà còn tạo ra cơ chế tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính các cấp, người dân có thể tra cứu quy trình giải quyết, theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ, thực hiện thanh toán trực tuyến, nhận kết quả điện tử và phản ánh, kiến nghị về chất lượng cung cấp dịch vụ công.

Việc số hóa toàn bộ quá trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đã làm giảm đáng kể việc tiếp xúc trực tiếp giữa người dân với công chức thực thi công vụ, qua đó hạn chế nguy cơ phát sinh tiêu cực, nhũng nhiễu và tăng cường khả năng giám sát của xã hội đối với hoạt động hành chính. Đồng thời, dữ liệu số cũng tạo điều kiện để các cơ quan quản lý đánh giá hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính thông qua các chỉ số định lượng thay vì chỉ dựa trên báo cáo hành chính truyền thống.
3.2. Những hạn chế, thách thức
Một là, quyền về dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư đang đứng trước nguy cơ bị xâm phạm ngày càng lớn. Trong môi trường số, dữ liệu cá nhân trở thành nguồn tài nguyên quan trọng phục vụ quản trị nhà nước, phát triển kinh tế số và cung cấp dịch vụ số. Tuy nhiên, cùng với quá trình số hóa mạnh mẽ, nguy cơ lộ lọt dữ liệu là một thách thức hiện hữu và cực kỳ nghiêm trọng tại Việt Nam. Theo Báo cáo của Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA) năm 2024, có tới 66,24% người dùng internet tại Việt Nam xác nhận thông tin cá nhân của họ từng bị sử dụng trái phép. Số liệu khảo sát cũng chỉ rõ nguyên nhân chính gây lộ lọt thông tin đến từ việc người dân cung cấp dữ liệu khi mua hàng trực tuyến (chiếm 73,99%) và chia sẻ trên mạng xã hội (chiếm 62,13%)5.

Vấn đề cốt lõi không chỉ là nguy cơ mất an toàn thông tin mà là việc quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân chưa được bảo đảm đầy đủ. Khi dữ liệu cá nhân trở thành “tài sản số” có giá trị kinh tế nhưng người dân chưa thực sự có quyền quyết định đối với việc thu thập, sử dụng và chia sẻ dữ liệu của mình thì quyền riêng tư trên môi trường số vẫn mới được bảo vệ ở mức hình thức nhiều hơn là thực chất.
Hai là, khoảng cách số vẫn làm hạn chế khả năng tiếp cận và thụ hưởng bình đẳng các quyền con người trên môi trường số. Một trong những mục tiêu quan trọng của chuyển đổi số là bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận các dịch vụ số và các dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng tiếp cận công nghệ số giữa các nhóm dân cư còn tồn tại khoảng cách đáng kể. Mặc dù tỷ lệ phủ sóng băng rộng và điện thoại thông minh tăng nhanh, song tại nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chất lượng hạ tầng số vẫn còn hạn chế; khả năng tiếp cận internet tốc độ cao chưa đồng đều, đặc biệt là người cao tuổi, người nghèo và nhóm yếu thế, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến cũng như tiếp cận các dịch vụ thiết yếu trên môi trường số.

Trong quá trình triển khai Đề án 06, nhiều địa phương phản ánh tình trạng người cao tuổi, người dân vùng sâu, vùng xa hoặc người không có điện thoại thông minh gặp khó khăn khi thực hiện các thủ tục hành chính trực tuyến, đăng ký tài khoản định danh điện tử hoặc sử dụng ứng dụng VNeID. Không ít trường hợp vẫn phải nhờ cán bộ cơ sở hoặc người thân hỗ trợ thực hiện các giao dịch số. Điều này cho thấy việc chuyển đổi số chưa hoàn toàn đồng nghĩa với việc mọi người dân đều có năng lực bình đẳng trong việc thực hiện quyền của mình trên môi trường số. Khoảng cách số không chỉ là khoảng cách về thiết bị hay hạ tầng mà còn là khoảng cách về năng lực số, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và khả năng thích ứng với công nghệ. Nếu không có các chính sách hỗ trợ phù hợp, quá trình số hóa các dịch vụ công có thể vô tình tạo ra rào cản mới đối với một bộ phận người dân trong việc tiếp cận các quyền cơ bản.
Ba là, việc cân bằng giữa bảo đảm quyền con người với yêu cầu bảo đảm an ninh mạng và trật tự xã hội vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Không gian mạng vừa là môi trường thực hiện quyền con người, vừa là môi trường tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, an toàn xã hội. Các hành vi lừa đảo trực tuyến, phát tán thông tin sai sự thật, tấn công mạng, kích động bạo lực, xâm phạm an ninh quốc gia ngày càng diễn biến phức tạp. Các hình thức giả mạo cơ quan nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp viễn thông và sử dụng công nghệ AI để lừa đảo ngày càng phổ biến. Đồng thời, nhiều nền tảng xuyên biên giới tiếp tục là môi trường phát tán thông tin sai sự thật, tin giả và nội dung vi phạm pháp luật với tốc độ lan truyền rất nhanh. Vì vậy, Nhà nước cần tăng cường các biện pháp quản lý không gian mạng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế pháp luật về dịch vụ công số theo hướng lấy quyền con người làm trung tâm. Một trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế hiệu quả bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công trong thời gian qua là hệ thống pháp luật chưa được hoàn thiện đồng bộ theo yêu cầu của chuyển đổi số. Mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh về giao dịch điện tử, chuyển đổi số, định danh điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân và cải cách thủ tục hành chính, song các quy định này vẫn được xây dựng theo từng lĩnh vực riêng lẻ, thiếu sự kết nối trong một khung pháp lý thống nhất về quyền của công dân trong môi trường số.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng xác lập đầy đủ các nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong cung cấp dịch vụ công số. Trọng tâm là cụ thể hóa quyền tiếp cận dịch vụ công trên môi trường số thông qua việc quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng, tính minh bạch của quy trình xử lý hồ sơ, trách nhiệm giải trình đối với các quyết định hành chính được hỗ trợ bởi công nghệ số và cơ chế khiếu nại, khắc phục khi quyền của người dân bị ảnh hưởng bởi các lỗi kỹ thuật hoặc quyết định tự động.
Thứ hai, thu hẹp khoảng cách số nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ công một cách bình đẳng. Khoảng cách số đang trở thành rào cản lớn đối với việc thực hiện quyền tiếp cận dịch vụ công của một bộ phận người dân, đặc biệt là người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa và những người có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Nếu không có các chính sách hỗ trợ phù hợp, quá trình chuyển đổi số có thể tạo ra những hình thức bất bình đẳng mới trong việc tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu. Để khắc phục tình trạng này, trước hết cần tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng số đồng bộ giữa các vùng, ưu tiên mở rộng vùng phủ internet băng rộng, mạng di động tốc độ cao và các điểm truy cập công cộng tại khu vực miền núi, biên giới, hải đảo.

Song song với đó, cần có các chương trình hỗ trợ phổ cập kỹ năng số cho người dân, coi đây là một bộ phận của chính sách bảo đảm quyền con người trong thời đại số. Các nền tảng số cần được thiết kế phù hợp với nhiều nhóm đối tượng khác nhau, bảo đảm khả năng tiếp cận đối với người khuyết tật, người cao tuổi và người có trình độ công nghệ hạn chế. Thực chất, thu hẹp khoảng cách số không chỉ là vấn đề phát triển hạ tầng công nghệ mà còn là điều kiện để thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận quyền con người. Một nền hành chính số chỉ thực sự thành công khi mọi công dân đều có khả năng tiếp cận các dịch vụ công mà không bị phân biệt bởi nơi cư trú, trình độ công nghệ hay điều kiện kinh tế.
Thứ ba, nâng cao năng lực quản trị số và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền con người. Chuyển đổi số không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình đổi mới phương thức quản trị nhà nước. Do đó, việc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản trị số của các cơ quan hành chính cũng như chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị số theo hướng tích hợp, liên thông và lấy người dân làm trung tâm. Các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành cần được chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ hiệu quả, hạn chế tình trạng người dân phải cung cấp lặp lại thông tin khi thực hiện nhiều thủ tục hành chính khác nhau.

Đồng thời, cần xây dựng các tiêu chuẩn thống nhất về chất lượng dịch vụ công số, bao gồm thời gian xử lý, khả năng truy cập, mức độ minh bạch và mức độ hài lòng của người dân. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò giám sát của xã hội thông qua việc công khai các chỉ số chất lượng dịch vụ công, mở rộng các kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân và thiết lập cơ chế đánh giá độc lập đối với các nền tảng dịch vụ công trực tuyến. Đây là cơ sở để nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước và tăng cường niềm tin của người dân đối với nền hành chính số.
Thứ tư, tăng cường cơ chế bảo vệ quyền con người trong môi trường số gắn với yêu cầu phát triển bền vững. Trong bối cảnh dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên chiến lược và trí tuệ nhân tạo ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong quản lý nhà nước, việc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công cần được đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ quyền con người trên không gian số. Theo đó, cần xây dựng cơ chế đánh giá tác động quyền con người đối với các chính sách chuyển đổi số và các hệ thống công nghệ được sử dụng trong khu vực công; tăng cường các biện pháp kỹ thuật và an ninh mạng để bảo vệ người dân khi sử dụng dịch vụ công. Bộ Công an cần chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên rà soát, triệt phá các trang web, ứng dụng giả mạo dịch vụ công nhà nước. Đồng thời, các cơ quan quản lý nền tảng cần tích hợp tính năng cảnh báo tự động, xác thực đa yếu tố và liên tục tuyên truyền, hướng dẫn người dân nhận diện các rủi ro khi thao tác trên môi trường số. Quá trình chuyển đổi số cần chuyển từ tư duy “quản lý bằng công nghệ” sang “quản trị vì con người”.

5. Kết luận
Bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ công trong môi trường số không chỉ là yêu cầu trọng tâm của công cuộc cải cách hành chính mà còn là sự hiện thực hóa trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam thời gian qua đã mang lại những bước tiến đột phá về thể chế, cơ sở dữ liệu và dịch vụ trực tuyến. Tuy nhiên, việc thích ứng với mô hình chính quyền cơ sở mới cùng những rủi ro lừa đảo trực tuyến và khoảng cách số đang đặt ra nhiều bài toán lớn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, hạ tầng từ trung ương xuống thẳng cấp cơ sở và tăng cường an ninh mạng chuyên biệt cho dịch vụ công sẽ tạo nền tảng vững chắc để bảo đảm mọi công dân đều được thụ hưởng bình đẳng các dịch vụ thiết yếu.
Chú thích:
1, 2, 3. Văn phòng Chính phủ (2024). Thông báo số 530/TB-VPCP ngày 22/11/2024 thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ tại Hội nghị thúc đẩy triển khai các nhiệm vụ Đề án 06.
4. Liên Hợp quốc (2024). Báo cáo Khảo sát Chính phủ điện tử (E-Government Survey 2024).
5. Hiệp hội An ninh mạng quốc gia – NCA (2024). Báo cáo thực trạng an ninh mạng và lộ lọt dữ liệu cá nhân năm 2024.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Bộ Công an (2025). Báo cáo kết quả triển khai Đề án 06.
3. Chính phủ (2023). Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
4. Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
5. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
6. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
7. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia.