Achieving progress and social justice – the driving force for stable and sustainable national development in the new era
ThS. Đoàn Thị Duyên
Trường Đại học Tài chính – Marketing
(Quanlynhanuoc.vn) – Tiến bộ và công bằng xã hội là mục tiêu, động lực và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết khẳng định rằng việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội vừa thể hiện tính ưu việt của chế độ, vừa tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định, bền vững. Đồng thời, làm rõ vai trò của tiến bộ và công bằng xã hội trong việc phát huy nguồn lực con người, củng cố đồng thuận xã hội, giảm nghèo, bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng an sinh xã hội, phát huy dân chủ, bảo đảm mọi người dân cùng phát triển hướng tới sự ổn định, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: Tiến bộ; công bằng xã hội; phát triển ổn định; bền vững; kỷ nguyên mới.
Abstract: Social progress and equity are the goals, driving forces, and essence of the socialist regime in Vietnam. This article affirms that achieving social progress and equity demonstrates the superiority of the regime while also creating a foundation for stable and sustainable development. Simultaneously, it clarifies the role of social progress and equity in developing human resources, consolidating social consensus, reducing poverty, ensuring social security, and improving the quality of life. Based on this, it proposes improvements to institutions, human resource development, expanding social security, promoting democracy, and ensuring that all citizens contribute to the development of the country towards stability and sustainability in the new era of development.
Keywords: Progress, social justice; stable and sustainable development; a new era.
1. Đặt vấn đề
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: “Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội… Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện, nghị quyết qua các thời kỳ và ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đổi mới, hội nhập quốc tế. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ, đất nước đứng trước những thời cơ lớn để bứt phá nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức phức tạp: tác động của toàn cầu hóa, mặt tiêu cực của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, những biến động khó lường của tình hình thế giới đang làm xuất hiện nhiều vấn đề xã hội mới như chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực phát triển, nguy cơ tụt hậu của các nhóm yếu thế… Trong bối cảnh đó, việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội sẽ là động lực phát triển ổn định, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Tiến bộ, công bằng xã hội là mục tiêu, động lực và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội vừa là mục tiêu hướng tới, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước, đồng thời là bản chất tốt đẹp, là tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta đang xây dựng. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ: sự phát triển của xã hội không chỉ được đo bằng sự gia tăng của cải vật chất mà còn phải được đánh giá thông qua mức độ giải phóng con người và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi cá nhân. C. Mác và Ph. Ăngghen cho rằng mục tiêu cuối cùng của xã hội cộng sản chủ nghĩa là xây dựng một xã hội mà ở đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (C. Mác – Ph. Ăngghen, Toàn tập, 2005).
Kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam là đem lại độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Người nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011). Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm mọi người dân đều được hưởng những thành quả của sự phát triển.
Trong thời kỳ đổi mới, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng được bổ sung và phát triển. Nếu như trước đây, nhiều quốc gia đặt ưu tiên tuyệt đối cho tăng trưởng kinh tế với quan niệm “tăng trưởng trước, công bằng sau”, thì Đảng xác định phải thực hiện đồng thời cả hai mục tiêu. Quan điểm này được thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đảng khi khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt chẽ với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, để đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, để xã hội thực sự hài hoà, dân chủ, để người dân tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Tiến bộ xã hội thể hiện ở sự cải thiện không ngừng các điều kiện sống của con người, sự phát triển của giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, an sinh xã hội và mức độ văn minh của đời sống xã hội. Công bằng xã hội là sự bảo đảm hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa các nhóm xã hội trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển. Công bằng xã hội không phải là sự bình quân, trao bằng về lợi ích mà là tạo cơ hội bình đẳng để mọi người phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội và được thụ hưởng thành quả tương xứng với sự cống hiến của mình.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội càng có ý nghĩa quan trọng. Kinh tế thị trường tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội và sự phân hóa về điều kiện sống. Do đó, Nhà nước cần thực hiện vai trò điều tiết thông qua hệ thống chính sách kinh tế – xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và các chương trình hỗ trợ phát triển nhằm bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển và không bị bỏ lại phía sau.
Thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh rằng, việc gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là lựa chọn đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Những thành tựu nổi bật trong công tác giảm nghèo, mở rộng hệ thống an sinh xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm quyền con người đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, củng cố niềm tin xã hội và giữ vững ổn định chính trị. Đây chính là cơ sở để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước.
3. Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là động lực thúc đẩy cho sự phát triển ổn định, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới
Trong quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Nếu tăng trưởng kinh tế tạo ra nguồn lực vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội thì việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội lại tạo ra động lực, môi trường và điều kiện để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội góp phần phát huy nguồn lực con người, nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển. Trong mọi thời đại, con người vừa là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất, vừa là mục tiêu được phục vụ trong quá trình phát triển. Khi người dân được tiếp cận công bằng với giáo dục, y tế, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản, họ sẽ có điều kiện nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, phát huy tính sáng tạo và năng lực lao động. Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển con người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2024 đạt khoảng 69%, hoàn thành mục tiêu do Quốc hội đề ra; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị được duy trì dưới 3%. Thu nhập bình quân của người lao động tiếp tục được cải thiện, góp phần nâng cao mức sống và chất lượng nguồn nhân lực của đất nước.
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự đồng thuận xã hội và giữ vững ổn định chính trị. Trong điều kiện kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo là hiện tượng khó tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và các nhóm xã hội ngày càng gia tăng thì sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát sinh mâu thuẫn xã hội, ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị và trật tự, cũng như an toàn xã hội. Vì vậy, việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ nhóm yếu thế không chỉ mang ý nghĩa nhân đạo mà còn là giải pháp quan trọng để duy trì sự ổn định và phát triển của đất nước.
Trong giai đoạn 2021-2025 tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,3% năm 2025; cũng trong giai đoạn này đã chi 1,1 triệu tỷ đồng cho an sinh xã hội (chiếm 17% chi ngân sách nhà nước); hỗ trợ gần 700 nghìn tấn gạo cho người khó khăn; giúp đỡ thường xuyên đối với hơn 3,5 triệu người có công, người yếu thế; thu nhập bình quân hàng tháng lao động tăng từ 5,5 triệu đồng năm 2020 lên 8, 3 triệu đồng năm 2025; hoàn thành cơ bản mục tiêu xoá nhà tạm, nhà dột nát với hơn 334 nghìn căn nhà; triển khai xây dựng 633 nghìn căn nhà ở xã hội; ngân hàng chính sách đã cho vay hơn 10,6 triệu lượt hộ nghèo, hộ cần nghèo(Nhandan.vn). Những kết quả đó góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống nhân dân, thu hẹp khoảng cách phát triển và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Phát triển bền vững không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP mà còn được đánh giá thông qua chất lượng cuộc sống của người dân, mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, khả năng tham gia vào quá trình phát triển và cơ hội thụ hưởng thành quả tăng trưởng của mọi tầng lớp nhân dân. Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tỷ lệ nghèo đa chiều của Việt Nam chỉ còn khoảng 4,1% vào năm 2024, phản ánh hiệu quả của hệ thống chính sách xã hội và việc mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cơ bản. Đồng thời, OECD cũng nhận định rằng, mức độ bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam vẫn được kiểm soát tương đối tốt so với nhiều quốc gia có cùng trình độ phát triển.
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những thành tựu trong công tác giảm nghèo, bảo đảm quyền con người, mở rộng an sinh xã hội và thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên Hợp quốc đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam, từ một quốc gia có tỷ lệ nghèo cao, đã trở thành điểm sáng trong công tác giảm nghèo và phát triển xã hội ở khu vực Đông Nam Á. Điều này không chỉ khẳng định tính ưu việt của đường lối phát triển mà còn tạo dựng hình ảnh một quốc gia phát triển vì con người, góp phần nâng cao uy tín và sức hấp dẫn của Việt Nam trong hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội vẫn còn không ít khó khăn và thách thức. Chênh lệch mức sống giữa các vùng miền, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới còn khá lớn; tỷ lệ nghèo đa chiều tại một số địa bàn đặc biệt khó khăn vẫn ở mức cao: Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cả nước hiện có 1.089.151 hộ nghèo và hộ cận nghèo đa chiều, chiếm 2,95% tổng số hộ dân, cụ thể: Trung du và miền núi phía Bắc là khu vực có tỷ lệ nghèo đa chiều cao nhất cả nước, lên tới 13,27%, tương ứng 417.044 hộ. Trong đó, hộ nghèo chiếm 7,29% (229.032 hộ) và hộ cận nghèo chiếm 5,98% (188.012 hộ). Khu vực Bắc Trung Bộ đứng thứ hai với tỷ lệ nghèo đa chiều 6,57%, tương ứng với 203.561 hộ (gồm 74.998 hộ nghèo và 128.563 hộ cận nghèo). Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có tỷ lệ nghèo cao nhất, đạt 5,17%, với 231.419 hộ nghèo và hộ cận nghèo. Điều đó cho thấy yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội, bảo đảm công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển và thực hiện hiệu quả mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong quá trình phát triển đất nước.
4. Phát huy vai trò của tiến bộ, công bằng xã hội trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Việt Nam đứng trước thời cơ lịch sử để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Tuy nhiên, cùng với những cơ hội to lớn do quá trình hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, đất nước cũng phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo, già hóa dân số, biến đổi khí hậu và nguy cơ tụt hậu của một số nhóm dân cư. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục phát huy vai trò của tiến bộ, công bằng xã hội không chỉ là yêu cầu mang tính nhân văn mà còn là điều kiện bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững và bao trùm.
Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong việc tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển”. Vì vậy, phát huy vai trò của tiến bộ, công bằng xã hội phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn chặt với quá trình tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Một là, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.
Kinh tế thị trường tạo động lực cho tăng trưởng nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện những khác biệt về thu nhập, mức sống và cơ hội phát triển giữa các nhóm dân cư. Vì vậy, trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội, giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu phát triển con người. Với tinh thần đó, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách về phân phối thu nhập, tiền lương, thuế, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội nhằm điều tiết hợp lý các quan hệ lợi ích, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và giảm chênh lệch mức sống giữa các vùng, miền. Đồng thời, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng đối với các nguồn lực phát triển như vốn, đất đai, khoa học – công nghệ, giáo dục và việc làm. Cần chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quá trình phát triển. Chỉ khi tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ với tiến bộ và công bằng xã hội thì mới có thể phát huy đầy đủ nguồn lực con người, củng cố niềm tin xã hội, giữ vững ổn định chính trị và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hai là, chú trọng phát triển con người toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số và xã hội số.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Phát triển bền vững trước hết phải dựa vào con người và văn hoá: Cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới”. Với ý nghĩa đó, tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển đất nước. Cùng với việc trang bị kiến thức chuyên môn, cần chú trọng phát triển kỹ năng số, kỹ năng công nghệ, ngoại ngữ, tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để mọi người dân được tiếp cận giáo dục, đào tạo và cơ hội học tập suốt đời một cách bình đẳng.
Trong bối cảnh tri thức và công nghệ thay đổi nhanh chóng, việc học tập không chỉ diễn ra trong nhà trường mà còn phải trở thành nhu cầu thường xuyên của mỗi cá nhân. Thông qua việc mở rộng các hình thức đào tạo trực tuyến, đào tạo từ xa, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, người lao động có thể liên tục cập nhật tri thức mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với những biến đổi của thị trường lao động. Quan tâm chăm lo phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức, văn hóa và tinh thần của con người Việt Nam. Một nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ có trình độ chuyên môn giỏi mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp và khát vọng cống hiến cho đất nước. Do đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, phát huy các giá trị tốt đẹp của dân tộc, góp phần hình thành lớp công dân số có tri thức, có trách nhiệm và có năng lực hội nhập quốc tế. Cần có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư công nghệ cao và lực lượng lao động chất lượng cao trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn. Đây là lực lượng trực tiếp tạo ra những đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội toàn diện, hiện đại và bền vững.
Trong quá trình phát triển đất nước, an sinh xã hội không chỉ là chính sách mang tính nhân văn sâu sắc mà còn là trụ cột quan trọng bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Bước vào kỷ nguyên mới với những tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, chuyển đổi số, già hóa dân số, biến đổi khí hậu và những rủi ro phi truyền thống ngày càng gia tăng, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội toàn diện, hiện đại và bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển và không ai bị bỏ lại phía sau.
Đại hội XIV của Đảng xác định: cần xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, hiện đại và có khả năng thích ứng với những biến động của đời sống kinh tế – xã hội. Trọng tâm là mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; nâng cao chất lượng các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin; đồng thời tăng cường các chính sách trợ giúp xã hội đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người cao tuổi, người khuyết tật và các nhóm yếu thế trong xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và khả năng tiếp cận của người dân.
Trong bối cảnh nền kinh tế số và thị trường lao động đang có nhiều thay đổi, cần chú trọng xây dựng các cơ chế bảo vệ người lao động trước nguy cơ mất việc làm, đào tạo lại kỹ năng nghề nghiệp và hỗ trợ chuyển đổi sang việc làm phù hợp. Đặc biệt, cần quan tâm hơn nữa đến các nhóm yếu thế và các địa bàn còn nhiều khó khăn. Mặc dù Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong giảm nghèo và phát triển xã hội, song khoảng cách phát triển giữa các vùng miền vẫn còn đáng kể. Vì vậy, cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo nhằm bảo đảm phát triển cân bằng, hài hòa giữa các vùng, miền của đất nước. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân mà còn củng cố niềm tin xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bốn là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Công bằng xã hội không chỉ thể hiện ở việc phân phối lợi ích vật chất mà còn thể hiện ở việc mọi người dân đều có cơ hội tham gia vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát các chính sách phát triển. Thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy sức mạnh của toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số, phát triển con người, bảo đảm công bằng xã hội và tạo cơ hội phát triển cho mọi người dân càng trở thành yêu cầu cấp thiết. Cần tiếp tục theo đuổi mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
5. Kết luận
Tiến bộ và công bằng xã hội là giá trị cốt lõi, mục tiêu xuyên suốt và cũng là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang xây dựng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt trong 40 năm đổi mới, Đảng ta luôn nhất quán trong quan điểm rằng phát triển kinh tế phải gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Với quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước và sự đồng lòng của toàn dân tộc, việc thực hiện ngày càng tốt hơn tiến bộ và công bằng xã hội sẽ tiếp tục tạo động lực quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI, vì mục tiêu cao đẹp: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tài liệu tham khảo:
1. C.Mác-Ph.Ănghen toàn tập (2005). Tập 4. H.NXB. Chính trị quốc gia, 2005, tr. 628.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 33, 36-37, 32.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 64.
4. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 21.
5. Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi. https://baochinhphu.vn/anh-sang-ho-chi-minh-soi-duong-cho-chung-ta-di-102260517102448777.htm
6. Giai đoạn 2016-2024: Ghi dấu ấn 12 thành tựu nổi bật về lao động, người có công và xã hội. https://nhandan.vn/giai-doan-2016-2024-ghi-dau-an-12-thanh-tuu-noi-bat-ve-lao-dong-nguoi-co-cong-va-xa-hoi-post850395.html
7. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống 1,3% vào năm 2025. https://nhandan.vn/ty-le-ho-ngheo-da-chieu-giam-xuong-13-nam-2025-post916422.html.
8. Towards more inclusive growth: OECD Economic Surveys: Viet Nam. https://www.oecd.org/en/publications/oecd-economic-surveys-viet-nam-2025_fb37254b-en/full-report/towards-more-inclusive-growth_0f09c63a.html
9. Cả nước còn 480.278 hộ nghèo và 608.873 hộ cận nghèo. https://vneconomy.vn/ca-nuoc-con-480278-ho-ngheo-608873-ho-can-ngheo.htm



