Nét đặc sắc của công tác chính trị, tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 1965 – 1968 và giá trị vận dụng hiện nay

Special features of political and ideological work in the People’s Army of Vietnam (1965-1968) and its contemporary application value

TS. Đại tá. Nguyễn Trung Thông
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Công tác chính trị, tư tưởng là bộ phận đặc biệt quan trọng của công tác Đảng, giữ vai trò trực tiếp trong việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với quân đội trên mọi mặt. Trong giai đoạn 1965 – 1968, lần đầu tiên Quân đội ta phải trực tiếp đương đầu với lực lượng quân sự hiện đại hàng đầu thế giới, công tác chính trị, tư tưởng được triển khai toàn diện, đồng bộ và sáng tạo, góp phần xây dựng trạng thái tinh thần đặc biệt vững chắc trong toàn quân, tạo nên ưu thế chính trị – tinh thần vượt trội trước đối phương.

Từ khóa: Công tác chính trị, tư tưởng; chính trị – tinh thần; Chiến tranh cục bộ.

Abstract: Political and ideological work constitutes an especially important component of Party work and political work, playing a direct role in building a politically strong People’s Army of Vietnam, thereby ensuring the absolute and direct leadership of the Communist Party of Vietnam over all aspects of the military. During the period 1965-1968, for the first time, the Vietnamese military directly confronted one of the world’s most modern military forces. In this context, political and ideological work was implemented in a comprehensive, synchronized, and innovative manner, contributing to the formation of a highly solidified spiritual and morale foundation across the entire armed forces, thereby creating a superior political-spiritual advantage over the adversary.

Keywords: Political and ideological work; political–spiritual strength; limited war.

1. Đặt vấn đề

Trước sự khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1965-1968, thách thức căn bản không chỉ đặt ra ở tương quan lực lượng mà còn ở yêu cầu giữ vững ý chí và niềm tin chiến đấu của bộ đội. Trong điều kiện đó, công tác chính trị, tư tưởng trở thành phương thức trực tiếp định hướng và củng cố đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, qua đó bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn quân. Đồng thời, công tác này là một trong những phương thức quan trọng bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội trong điều kiện chiến tranh khốc liệt. Thực tiễn khẳng định sức mạnh tinh thần của bộ đội không hình thành tự phát mà là kết quả của quá trình tổ chức, dẫn dắt và bồi đắp thường xuyên, có hệ thống.

  • 2. Nét đặc sắc của công tác chính trị, tư tưởng trong Quân đội giai đoạn 1965 – 1968

Giai đoạn 1965 – 1968 đánh dấu bước leo thang cao nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước khi đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân viễn chinh và quân đồng minh vào miền Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 11 (3/1965) và Hội nghị Trung ương 12 (12/1965) khẳng định quyết tâm chiến lược của Đảng là kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước. Lần đầu tiên, quân đội trực tiếp tác chiến với quân viễn chinh Mỹ, một lực lượng có ưu thế vượt trội về tiềm lực kinh tế, khoa học – công nghệ và vũ khí, trang bị. Trong điều kiện chênh lệch lớn về vật chất, việc xây dựng bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu và niềm tin vào chiến thắng trở thành nhân tố quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Một là, giáo dục chính trị, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Đây là bước phát triển mới của công tác chính trị, tư tưởng, không chỉ dừng ở động viên tinh thần mà còn chuyển hóa niềm tin chính trị thành ý chí và sức mạnh chiến đấu thực tiễn. Nét đặc sắc nổi bật của công tác này là bám sát thực tiễn chiến đấu, kết hợp giáo dục chính trị với tổng kết kinh nghiệm chiến trường, tuyên truyền cổ động và phong trào thi đua quyết thắng, gắn nhận thức với rèn luyện bản lĩnh chiến đấu. Những chiến thắng Vạn Tường, Plây Me – Ia Đrăng và hai mùa khô 1965 – 1967 trở thành cơ sở thực tiễn quan trọng củng cố niềm tin đánh thắng Mỹ, khắc phục tâm lý sợ Mỹ, ngại Mỹ, tạo chuyển biến từ quyết tâm sang năng lực chiến đấu. Đồng thời, việc xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, phát huy vai trò tiên phong của cán bộ, đảng viên và thực hiện tốt chính sách đối với quân đội, hậu phương quân đội góp phần củng cố đoàn kết nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Thực tiễn cho thấy công tác chính trị, tư tưởng không chỉ bảo đảm chính trị cho hoạt động quân sự mà còn trở thành nhân tố trực tiếp tạo lập ưu thế chính trị – tinh thần, góp phần quan trọng làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.

Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, thi đua quyết thắng và cổ vũ tinh thần chiến đấu.

Đây được xác định là phương thức quan trọng để phát huy nhân tố chính trị – tinh thần, chuyển hóa nhận thức thành hành động chiến đấu. Trước sự leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ, Đảng, Quân ủy Trung ương và Tổng cục Chính trị chỉ đạo đẩy mạnh tuyên truyền nhằm củng cố niềm tin vào thắng lợi, xây dựng khí thế tiến công và quyết tâm đánh thắng quân Mỹ trong toàn quân. Nội dung tuyên truyền tập trung làm rõ đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng; khẳng định tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh; đồng thời, vạch trần bản chất xâm lược của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Thông qua báo chí quân đội, phát thanh, đội tuyên truyền, pa-nô, khẩu hiệu và sinh hoạt chính trị, các thắng lợi trên chiến trường được phổ biến kịp thời tới cán bộ, chiến sĩ, qua đó củng cố niềm tin “Mỹ nhất định thua, ta nhất định thắng”.

Cùng với đó, các phong trào thi đua yêu nước được phát động sâu rộng, tạo động lực tinh thần mạnh mẽ trong toàn quân. Nổi bật là các phong trào “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thi đua Quyết thắng”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Ba nhất”. Từ 1965 đến 1968, hàng vạn tập thể, cá nhân được tuyên dương; nhiều đơn vị được tặng cờ thưởng, trở thành môi trường rèn luyện ý chí và bản lĩnh chiến đấu. Điểm nổi bật là việc phát hiện, tuyên truyền và nhân rộng các điển hình tiên tiến như Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Văn Trỗi cùng nhiều anh hùng, dũng sĩ, góp phần khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí hy sinh. Đồng thời, công tác tuyên truyền cũng gắn chặt với việc động viên bộ đội sau mỗi trận đánh, chiến dịch thông qua sơ kết, tổng kết và kịp thời biểu dương. Sự kết hợp giữa tuyên truyền và thi đua đã tạo ra tinh thần tích cực, củng cố niềm tin, giữ vững ý chí chiến đấu, góp phần quan trọng vào thắng lợi trước chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và tạo tiền đề cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.

Ba là, nắm bắt, quản lý tư tưởng và đấu tranh chống các biểu hiện tư tưởng tiêu cực.

Trong thời kỳ này, việc nắm bắt, quản lý tình hình tư tưởng và đấu tranh khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong bộ đội được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, bảo đảm thống nhất cao về nhận thức, ý chí và hành động, qua đó góp phần duy trì sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Thực tiễn chiến tranh cho thấy, việc quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến, với ưu thế vượt trội về hỏa lực và phương tiện, đã tác động không nhỏ đến tâm lý của cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh những chuyển biến tích cực, vẫn xuất hiện sự e ngại trước sức mạnh quân sự của Mỹ, lo ngại về tổn thất và sự thiếu yên tâm trong công tác. Ngược lại, sau thắng lợi ban đầu, một bộ phận lại nảy sinh tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, đánh giá chưa đúng âm mưu và thủ đoạn của địch. Trước tình hình đó, các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan chính trị đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp để nắm chắc và định hướng tư tưởng của bộ đội.

Công tác điều tra, báo cáo, phân tích diễn biến tư tưởng được duy trì thường xuyên; sinh hoạt Đảng, sinh hoạt chính trị, đối thoại dân chủ và tự phê bình – phê bình được thực hiện nền nếp, qua đó kịp thời phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh, uốn nắn những lệch lạc, củng cố niềm tin vào thắng lợi. Trọng tâm là đấu tranh khắc phục tâm lý sợ Mỹ, ngại Mỹ và khuynh hướng tuyệt đối hóa sức mạnh quân sự của đối phương. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn chiến đấu, các cơ quan chính trị làm rõ những hạn chế của quân đội Mỹ, đồng thời khẳng định ưu thế của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đồng thời, công tác tư tưởng cũng chú trọng khắc phục những biểu hiện chủ quan, tự mãn sau thắng lợi. Thực tiễn giai đoạn 1965 – 1968 cho thấy, việc nắm bắt và quản lý tư tưởng bộ đội không chỉ là biện pháp nghiệp vụ mà còn là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với quân đội. Thông qua việc phát hiện, dự báo và xử lý kịp thời các vấn đề tư tưởng, công tác chính trị, tư tưởng đã củng cố trận địa tư tưởng của Đảng, tăng cường đoàn kết thống nhất và tạo nên sức mạnh chính trị – tinh thần to lớn, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Bốn là, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và chính sách.

Thực tiễn cho thấy, tư tưởng cán bộ, chiến sĩ không chỉ chịu tác động từ công tác giáo dục mà còn phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng tổ chức, năng lực lãnh đạo của cấp ủy, vai trò cán bộ và việc thực hiện chính sách đối với quân đội và hậu phương, vì vậy giải quyết tư tưởng luôn gắn với giải quyết đồng bộ các vấn đề tổ chức và chính sách. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, coi đây là nhân tố quyết định hiệu quả công tác tư tưởng.

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, với lực lượng cơ động và bổ sung thường xuyên, việc giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, sinh hoạt Đảng và tự phê bình – phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thông qua hoạt động của tổ chức đảng, chủ trương, nghị quyết được cụ thể hóa thành quyết tâm chiến đấu; đồng thời, các biểu hiện dao động, lệch lạc được kịp thời phát hiện và xử lý, bảo đảm nền tảng chính trị và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Cùng với đó, việc phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên được xác định là khâu then chốt. Cán bộ vừa là người chỉ huy, vừa là chỗ dựa tinh thần của bộ đội; ở nơi cán bộ gương mẫu, dám chịu trách nhiệm và chia sẻ khó khăn, tư tưởng bộ đội ổn định, ý chí chiến đấu được củng cố. Sự nêu gương vì vậy trở thành phương thức giáo dục tư tưởng trực tiếp, có sức thuyết phục cao.

Việc kết hợp công tác tư tưởng với việc thực hiện chính sách đối với quân đội và hậu phương không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và quân đội góp phần củng cố niềm tin, tăng cường gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa quân đội và nhân dân; nhiều vấn đề tư tưởng cũng được giải quyết thông qua việc xử lý kịp thời những khó khăn về tổ chức và chính sách. Công tác tư tưởng chỉ phát huy hiệu quả khi được tiến hành đồng bộ với công tác tổ chức và chính sách. Sự kết hợp chặt chẽ ba mặt công tác đã tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, củng cố đoàn kết thống nhất và xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng trong toàn quân.

Như vậy, công tác chính trị, tư tưởng trong Quân đội ở giai đoạn này không chỉ phản ánh sự phát triển mới của công tác đảng, công tác chính trị trong điều kiện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào thời kỳ quyết liệt nhất mà còn đánh dấu một bước trưởng thành quan trọng trong nghệ thuật xây dựng sức mạnh chính trị – tinh thần của quân đội cách mạng. Điểm nổi bật nhất là đã tập trung giải quyết thành công vấn đề tư tưởng có ý nghĩa chiến lược đối với toàn quân: xây dựng bản lĩnh, ý chí và quyết tâm “dám đánh Mỹ, biết đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ”. Đây thực chất là quá trình chuyển hóa lý tưởng cách mạng, niềm tin chính trị và tinh thần yêu nước thành năng lực hành động quân sự, thành sức mạnh chiến đấu hiện thực của cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường.

Trong điều kiện lần đầu tiên phải trực tiếp đối đầu với quân viễn chinh Mỹ được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại hàng đầu thế giới, công tác chính trị, tư tưởng đã vượt ra ngoài chức năng tuyên truyền, giáo dục và động viên tinh thần thông thường để trực tiếp tham gia tạo lập ưu thế chính trị – tinh thần, nhân tố giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tương quan lực lượng giữa ta và địch. Thông qua việc bám sát thực tiễn chiến trường, gắn giáo dục chính trị với tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, phát động phong trào thi đua quyết thắng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, đồng thời kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức và chính sách, công tác chính trị, tư tưởng đã tạo nên sự thống nhất cao giữa nhận thức, ý chí và hành động trong toàn quân, củng cố niềm tin chiến thắng, tăng cường đoàn kết nội bộ và giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.

3. Giá trị vận dụng hiện nay

Công tác chính trị, tư tưởng giải quyết một cách toàn diện vấn đề xây dựng bản lĩnh chính trị của quân đội trong điều kiện tác chiến trực tiếp với quân đội hiện đại của một cường quốc quân sự hàng đầu thế giới; đồng thời chuyển trọng tâm từ xây dựng quyết tâm kháng chiến sang xây dựng năng lực chính trị – tinh thần đủ sức biến quyết tâm thành khả năng chiến thắng trên chiến trường. Điều đó khẳng định rằng công tác chính trị, tư tưởng không chỉ là bộ phận bảo đảm cho hoạt động quân sự mà đã trở thành một yếu tố cấu thành sức mạnh chiến đấu, trực tiếp góp phần tạo nên thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Đây là bước phát triển có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc của công tác Đảng, công tác chính trị trong chiến tranh hiện đại, để lại nhiều bài học có giá trị đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị hiện nay.

Thứ nhất, khẳng định và phát triển nhận thức lý luận về vai trò quyết định của nhân tố chính trị – tinh thần trong xây dựng sức mạnh chiến đấu của quân đội cách mạng.

Thực tiễn công tác chính trị, tư tưởng trong Quân đội giai đoạn 1965 – 1968 đã góp phần làm sáng tỏ một quy luật có giá trị phổ quát trong chiến tranh cách mạng, sức mạnh chiến đấu của quân đội không được quyết định trước hết bởi số lượng quân số, vũ khí, trang bị hay tiềm lực kinh tế mà bởi bản lĩnh chính trị, mục tiêu chiến đấu, niềm tin và ý chí chiến thắng của con người. Trong cuộc đối đầu trực tiếp với quân đội Mỹ – lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, công tác chính trị, tư tưởng đã tạo nên sự thống nhất cao về lý tưởng, ý chí và hành động trong toàn quân, chuyển hóa sức mạnh chính trị – tinh thần thành sức mạnh chiến đấu thực tế. Chính thực tiễn đó đã khẳng định tính đúng đắn của quan điểm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cơ bản, nền tảng để xây dựng sức mạnh tổng hợp và nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội cách mạng.

Giá trị lý luận mà giai đoạn này để lại không chỉ nằm ở việc khẳng định vai trò của nhân tố con người mà còn ở chỗ làm sâu sắc thêm nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, trong đó sức mạnh chính trị – tinh thần giữ vai trò định hướng, chi phối và phát huy hiệu quả các nhân tố vật chất trong chiến tranh.

Thứ hai, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng trong việc tạo lập ưu thế chính trị – tinh thần, là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Nếu ưu thế quân sự là lợi thế nổi bật của đế quốc Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, thì ưu thế chính trị – tinh thần là lợi thế chiến lược của quân và dân Việt Nam. Thông qua công tác giáo dục chính trị, tuyên truyền, cổ vũ thi đua quyết thắng, xây dựng tổ chức đảng vững mạnh và quản lý tư tưởng bộ đội, Quân đội nhân dân Việt Nam đã giải quyết thành công vấn đề có ý nghĩa chiến lược là xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh “dám đánh Mỹ, biết đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ”. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về nhận thức mà là bước trưởng thành vượt bậc về bản lĩnh chính trị, trình độ giác ngộ cách mạng và năng lực làm chủ chiến trường của quân đội ta. Thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” cho thấy, trong chiến tranh cách mạng, ưu thế về vũ khí và công nghệ không thể thay thế ưu thế về chính nghĩa, ý chí và khát vọng chiến thắng; sức mạnh quân sự chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được bảo đảm bởi sức mạnh chính trị – tinh thần. Đây là bài học có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây mà còn đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.

Thứ ba, cung cấp luận cứ lý luận và thực tiễn quan trọng cho xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh mới như chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức, bài học từ công tác chính trị, tư tưởng giai đoạn 1965 – 1968 càng thể hiện rõ giá trị thời sự sâu sắc. Sự phát triển của khoa học – công nghệ quân sự có thể làm thay đổi phương thức tiến hành chiến tranh, nhưng không làm thay đổi vai trò quyết định của nhân tố chính trị – tinh thần. Bởi vậy, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay trước hết phải là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; giữ vững bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu lý tưởng chiến đấu và trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Đồng thời, cần tiếp tục phát huy bài học về kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và chính sách; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, xây dựng bản lĩnh, ý chí và “sức đề kháng tư tưởng” cho cán bộ, chiến sĩ trước những tác động phức tạp từ môi trường thông tin hiện đại; chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Trên cơ sở đó, cần quán triệt sâu sắc Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, “chủ động dự báo, định hướng, dẫn dắt và kiểm soát tình hình tư tưởng”, đồng thời “đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số” trong công tác chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao năng lực nắm bắt, quản lý và xử lý các vấn đề tư tưởng nảy sinh trong điều kiện mới. Điều đó cho thấy, trong bối cảnh chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng và cạnh tranh nhận thức ngày càng quyết liệt, việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin, ý chí chiến đấu và sức đề kháng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ vẫn là yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đó không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược nhằm bảo đảm Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững vai trò là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong mọi tình huống.

4. Kết luận

Công tác chính trị, tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 1965 – 1968 đã trực tiếp tạo lập và phát huy sức mạnh chính trị – tinh thần, góp phần xây dựng bản lĩnh “dám đánh Mỹ, biết đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ”, tạo nên một trong những nhân tố quan trọng làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Thực tiễn giai đoạn này khẳng định một quy luật có giá trị bền vững: sức mạnh chiến đấu của quân đội cách mạng không chỉ được quyết định bởi vũ khí, trang bị mà trước hết bởi bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí chiến đấu của con người. Những giá trị lý luận và thực tiễn đó tiếp tục là cơ sở quan trọng để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
2. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996). Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – Thắng lợi và bài học. H. NXB Chính trị quốc gia.
3. Bộ Quốc phòng (2002). Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2000). H. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
4. Bộ Quốc phòng (2005). Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. Tập II. H. NXB Quân đội nhân dân.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 26. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội -2026.
7. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 (2013). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Tổng cục Chính trị (2015). Công tác Đảng, công tác chính trị trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. H. NXB Quân đội nhân dân.
9. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013). Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Tập IV. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.