Improving the institutional framework of the stock market to meet the target of double-digit economic growth in Vietnam by 2030
ThS. Trần Nguyễn Sông Hàn
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
ThS. Tạ Kim Sen
Trường Đại học Điện Lực
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026 – 2030, việc phát triển thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động và phân bổ vốn trung, dài hạn hiệu quả là yêu cầu cấp thiết. Mặc dù quy mô thị trường không ngừng mở rộng và quá trình nâng hạng đạt nhiều kết quả tích cực, chất lượng thể chế vẫn còn là điểm nghẽn làm hạn chế năng lực dẫn vốn và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Trên cơ sở phân tích vai trò của thị trường chứng khoán và những hạn chế hiện nay, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng thị trường vốn, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đến năm 2030.
Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế; thị trường chứng khoán; hoàn thiện thể chế; huy động vốn; phát triển thị trường vốn.
Abstract: In the context of Vietnam’s pursuit of an average annual GDP growth rate of 10% or more during the 2026 – 2030 period, developing the stock market into an effective channel for mobilizing and allocating medium- and long-term capital has become an urgent priority. Although the market has continued to expand in size, and significant progress has been made toward market upgrading, the institutional framework remains a major bottleneck, limiting the market’s capacity to channel capital efficiently and improve resource allocation. Based on an analysis of the role of the stock market and its current institutional shortcomings, this article proposes a set of institutional reforms to enhance the quality of the capital market, thereby contributing to the achievement of rapid and sustainable economic growth by 2030.
Keywords: economic growth; stock market; institutional reform; capital mobilization; capital market development.
1. Đặt vấn đề
Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026 – 2030 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 192). Để hiện thực hóa mục tiêu này, cùng với nâng cao năng suất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, việc xây dựng hệ thống tài chính có khả năng huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trong đó, thị trường chứng khoán là thiết chế tài chính cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, tăng cường minh bạch và thúc đẩy quản trị doanh nghiệp theo cơ chế thị trường.
Gần 30 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, chất lượng thể chế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế về minh bạch thông tin, quản trị doanh nghiệp, bảo vệ nhà đầu tư, cơ chế giám sát và năng lực vận hành thị trường, làm ảnh hưởng đến hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực. Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết phân tích vai trò của thị trường chứng khoán đối với tăng trưởng kinh tế, đánh giá những điểm nghẽn thể chế hiện nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế thị trường chứng khoán nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đến năm 2030.
2. Vai trò của thị trường chứng khoán đối với huy động, phân bổ nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế
Trong chiều sâu lý luận về kinh tế thị trường hiện đại, thị trường chứng khoán là một thiết chế quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân bổ các nguồn lực phát triển. Đây là kênh dẫn vốn trung và dài hạn đặc biệt quan trọng, giúp biến các nguồn vốn nhỏ lẻ, phân tán trong xã hội thành các dòng vốn lớn, vận động liên tục để tài trợ cho các dự án kinh tế quy mô (Trần Đăng Khâm và Nguyễn Thị Minh Huệ, 2017). Không chỉ là nơi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán, thị trường chứng khoán còn là hạ tầng tài chính có vai trò tối ưu hóa việc huy động, phân bổ và giám sát sử dụng nguồn lực của nền kinh tế thông qua cơ chế thị trường.
Thứ nhất, thị trường chứng khoán thực hiện chức năng huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế. Thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác, thị trường chứng khoán chuyển hóa các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, bao gồm: tiền tiết kiệm, vàng, ngoại tệ tích trữ và các nguồn tài sản tài chính khác, thành nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ trực tiếp cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ đó, thị trường chứng khoán góp phần giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng, tạo nên cơ cấu tài chính cân bằng hơn khi ngân hàng tập trung cung ứng vốn ngắn hạn, còn thị trường chứng khoán đảm nhiệm vai trò cung cấp nguồn vốn dài hạn cho đầu tư phát triển.
Thứ hai, thị trường chứng khoánthực hiện chức năng phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường. Thông qua cơ chế định giá khách quan và sự luân chuyển tự do của dòng tiền, nguồn lực xã hội được phân bổ tới những doanh nghiệp có hiệu quả quản trị cao, năng lực đổi mới sáng tạo và triển vọng tăng trưởng tốt nhất. Khác với cơ chế phân bổ vốn mang tính hành chính, thị trường chứng khoán sử dụng tín hiệu giá cả và quan hệ cung – cầu để hình thành một cơ chế sàng lọc tự nhiên, qua đó khuyến khích dòng vốn dịch chuyển đến các lĩnh vực có năng suất cao, công nghệ tiên tiến và các ngành ưu tiên theo định hướng phát triển quốc gia như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh hay phát triển hạ tầng chiến lược.
Dưới góc nhìn kinh tế chính trị, dòng tiền trên thị trường vốn không thuần túy là các phép toán thanh khoản mà còn phản ánh cô đọng niềm tin của nhà đầu tư đối với chất lượng thể chế và triển vọng phát triển của nền kinh tế (Trần Nguyễn Sông Hàn, 2026, tr. ). Biến động giá chứng khoán và xu hướng dịch chuyển của dòng vốn tạo ra một cơ chế “bỏ phiếu bằng thị trường”, qua đó đánh giá liên tục năng lực quản trị của doanh nghiệp cũng như hiệu quả hoạt động của ban điều hành. Vì vậy, thị trường chứng khoán không chỉ đảm nhiệm chức năng huy động vốn mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường kỷ luật thị trường và thúc đẩy quản trị doanh nghiệp theo các chuẩn mực hiện đại.
Thứ ba, thị trường chứng khoángóp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế thông qua cơ chế giám sát thị trường. Khi tham gia niêm yết, doanh nghiệp phải tuân thủ các yêu cầu về công bố thông tin, kiểm toán độc lập và quản trị công ty. Sự giám sát thường xuyên từ nhà đầu tư, các tổ chức tài chính và cơ quan quản lý tạo áp lực buộc doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả, hạn chế đầu tư dàn trải, nâng cao năng suất và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động. Đồng thời, việc doanh nghiệp được định giá theo thời gian thực trên thị trường cũng tạo sức ép cải thiện năng lực quản trị nhằm duy trì giá trị doanh nghiệp và hạn chế nguy cơ bị thâu tóm hoặc mất khả năng huy động vốn trong tương lai.
Bên cạnh đó, mức độ phát triển và tính thanh khoản của thị trường chứng khoán có mối quan hệ thuận chiều với tăng trưởng kinh tế dài hạn, góp phần thúc đẩy tích lũy tư bản, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế (Levine và Zervo, 1998). Đồng thời, thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng thương mại không tồn tại theo quan hệ thay thế mà bổ trợ lẫn nhau trong cấu trúc của một hệ thống tài chính hiện đại, trong đó ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, còn thị trường chứng khoán đảm nhiệm vai trò huy động và phân bổ nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển (Beck và Levine, 2004). Điều này cho thấy, tăng trưởng bền vững của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào quy mô nguồn lực tài chính mà còn phụ thuộc vào chất lượng của các thiết chế tài chính trong việc phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đó.
Tuy nhiên, những chức năng ưu việt của thị trường chứng khoán chỉ có thể phát huy đầy đủ khi được vận hành trong một khuôn khổ thể chế minh bạch và hiệu quả. Bản chất của sự phát triển bền vững trên thị trường vốn phải được xây dựng trên nền tảng pháp lý bảo đảm tính công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ hiệu quả quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư (Đào Lê Minh và Nguyễn Thanh Huyền, 2017). Các hiện tượng bất đối xứng thông tin, giao dịch nội gián, thao túng giá hay trục lợi chính sách đều làm méo mó tín hiệu thị trường, suy giảm hiệu quả phân bổ vốn và làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư. Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò của Nhà nước không phải là can thiệp hay thay thế thị trường mà là kiến tạo khuôn khổ thể chế, hoàn thiện pháp luật, tăng cường giám sát và xây dựng các cơ chế phòng ngừa rủi ro để bảo đảm thị trường chứng khoán vận hành công khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả.
3. Những điểm nghẽn thể chế của thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam đóng vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Quy mô thị trường liên tục được mở rộng, số lượng doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch tăng nhanh, thanh khoản được cải thiện, cơ cấu nhà đầu tư ngày càng đa dạng và hệ thống pháp luật về chứng khoán từng bước được hoàn thiện. Luật Chứng khoán năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn đã tạo nền tảng pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động phát hành, niêm yết, giao dịch và giám sát thị trường.
Năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế, với quy mô và thanh khoản tăng trưởng mạnh mẽ. Đến ngày 31/12/2025, vốn hóa thị trường cổ phiếu trên ba sàn HOSE, HNX và UPCoM đạt 9.975,36 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 77,9% GDP ước tính năm 2025 (GDP khoảng 12,8 triệu tỷ đồng), tăng 35 – 37,6% so với cuối năm trước (Minh Lâm, 2026); toàn thị trường có trên 1.600 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch, thu hút hơn 10 triệu tài khoản, một minh chứng rõ nét cho sức hút ngày càng lớn của thị trường vốn (Sơn Nhung, 2025). Về quy mô, tính đến giữa tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt khoảng 410 tỷ USD. Giá trị giao dịch bình quân trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đạt khoảng 1,2 tỷ USD mỗi phiên, trong khi giá trị giao dịch toàn thị trường trong quý I/2026 tăng khoảng 50% so với cùng kỳ (Qui Ánh, 2026).
Đặc biệt, những cải cách trên đã được FTSE Russell ghi nhận nâng hạng chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên thành thị trường mới nổi thứ cấp vào đầu tháng 9/2026, kỳ vọng hút dòng vốn tỷ USD vào Việt Nam (Hoàng Nam, 2026). Như vậy, thị trường chứng khoán đã từng bước trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho doanh nghiệp và Chính phủ, góp phần giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng
Mặc dù đã có những bước trưởng thành vượt bậc, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát huy trọn vẹn vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực cho nền kinh tế. Đối chiếu với yêu cầu tăng trưởng GDP 10%/năm, hệ thống thể chế hiện hành đang bộc lộ các điểm nghẽn cốt lõi:
Thứ nhất, thể chế thị trường chứng khoán chưa theo kịp yêu cầu huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Theo WB (2026), nhu cầu đầu tư hạ tầng của Việt Nam khoảng 30 tỷ USD mỗi năm, trong khi khoảng thiếu hụt vốn giai đoạn 2019 – 2040 ước tính 94 tỷ USD. Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị, khu vực kinh tế tư nhân được xác định sẽ đóng góp trên 60% GDP vào năm 2045. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, nguồn vốn của khu vực tư nhân vẫn chủ yếu được huy động thông qua hệ thống ngân hàng, trong khi thị trường chứng khoán mới chỉ đóng góp ở mức khiêm tốn [WB, 2026). Đây là điểm nghẽn mang tính cấu trúc, làm giảm năng lực huy động nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số
Thứ hai, chất lượng hàng hóa niêm yết, minh bạch thông tin và quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Cơ cấu vốn hóa vẫn tập trung chủ yếu vào các ngành tài chính, ngân hàng và bất động sản, trong khi các doanh nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh còn chiếm tỷ trọng thấp. Việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), công bố thông tin bằng tiếng Anh và các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo OECD còn chậm, dẫn đến tình trạng bất đối xứng thông tin, làm giảm khả năng tiếp cận của các nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài. Đây cũng là một trong những nội dung được FTSE Russell và MSCI nhiều lần đánh giá là rào cản đối với việc nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, do làm gia tăng bất đối xứng thông tin và hạn chế khả năng tiếp cận của các nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài (MSCI, 2025).
Thứ ba, thể chế phát triển thị trường vốn và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư chưa hoàn thiện. Trong thời gian qua, Việt Nam đã đẩy mạnh hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm nâng cao tính minh bạch, tăng cường kỷ cương thị trường và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Đặc biệt, “Luật Chứng khoán sửa đổi và các văn bản pháp lý được ban hành năm 2025 đã tạo dựng khuôn khổ pháp lý ngày càng đồng bộ, minh bạch, hỗ trợ thị trường vận hành hiệu quả và phát triển lành mạnh” (Thế Vũ, 2025), tuy nhiên, xét dưới góc độ thể chế, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư vẫn còn một số hạn chế. Các quy định về khởi kiện tập thể, bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư, xử lý tranh chấp trên thị trường và chế tài đối với các hành vi thao túng, giao dịch nội gián chưa thực sự phát huy hiệu quả trên thực tế. Bên cạnh đó, hệ thống giám sát và thực thi còn chưa theo kịp sự phát triển nhanh của thị trường và sự xuất hiện của các sản phẩm tài chính mới, ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư cũng như khả năng thu hút dòng vốn dài hạn.
Thứ tư, hoạt động giám sát thị trường chứng khoán vẫn thiên về xử lý sau vi phạm hơn là cảnh báo và phòng ngừa rủi ro theo thời gian thực. Chế tài xử phạt chưa tương xứng với lợi ích bất hợp pháp thu được từ các hành vi thao túng thị trường, công bố thông tin sai lệch hoặc giao dịch nội gián, làm giảm hiệu quả răn đe và ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường. Hầu hết các vụ việc liên quan đến thao túng thị trường chứng khoán tại Việt Nam hiện nay vẫn chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính, không đủ tính răn đe, khiến nhiều nhà đầu tư dần mất niềm tin vào thị trường. Mức phạt quá thấp so với lợi nhuận thu được chính là lý do khiến hành vi thao túng thị trường chứng khoán vẫn liên tục tái diễn, gây mất công bằng cho thị trường. Chẳng hạn: vụ việc của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn FLC thao túng thị trường chứng khoán chỉ bị xử phạt hành chính 1.5 tỷ đồng, trong khi thu về bất chính 723 tỷ đồng [Hồng Nguyên và Vũ Phương, 2024).
Thứ năm, còn tồn tại khoảng trống thể chế trong giám sát doanh nghiệp sau khi hủy niêm yết hoặc không còn là công ty đại chúng. Đây là điểm nghẽn mang tính cấu trúc của hệ thống quản lý hiện nay. Trong khi doanh nghiệp niêm yết phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về công bố thông tin và quản trị công ty, thì sau khi hủy niêm yết hoặc chấm dứt tư cách công ty đại chúng, nhiều doanh nghiệp gần như không còn chịu các nghĩa vụ công khai tương ứng mặc dù vẫn huy động và sử dụng nguồn vốn của đông đảo cổ đông, làm gián đoạn tính liên tục của cơ chế quản lý và làm suy giảm hiệu quả bảo vệ nhà đầu tư cũng như năng lực giám sát của Nhà nước đối với thị trường vốn.
Nhìn chung, các điểm nghẽn nêu trên cho thấy, hạn chế lớn nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay không còn là quy mô hay tốc độ phát triển mà là chất lượng của thể chế thị trường. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, việc hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao tính minh bạch, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư, thúc đẩy nâng hạng thị trường và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực của thị trường chứng khoán sẽ là điều kiện tiên quyết để thị trường vốn thực sự trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
4. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế để thị trường chứng khoán thực sự trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực cho nền kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030, cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường vốn theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và các định hướng phát triển thị trường tài chính quốc gia. Trọng tâm là rà soát, sửa đổi các quy định còn chồng chéo giữa Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các luật có liên quan nhằm tạo môi trường pháp lý thống nhất cho hoạt động huy động vốn. Đồng thời, cần phát triển cân bằng giữa thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí bổ sung, quỹ ETF và các định chế đầu tư dài hạn, qua đó từng bước giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng xanh và doanh nghiệp quy mô lớn đủ điều kiện tham gia niêm yết. Việc nâng cao chất lượng “hàng hóa” trên thị trường không chỉ mở rộng quy mô huy động vốn mà còn góp phần định hướng dòng vốn vào các ngành có năng suất cao, phù hợp với mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam.
Hai là, hoàn thiện thể chế về minh bạch thị trường, quản trị doanh nghiệp và bảo vệ nhà đầu tư theo thông lệ quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam đã được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp và hướng tới đáp ứng các tiêu chí của MSCI, việc nâng cao chất lượng thể chế cần tập trung vào chuẩn hóa công bố thông tin và quản trị doanh nghiệp. Theo đó, cần đẩy nhanh lộ trình áp dụng IFRS đối với doanh nghiệp niêm yết, mở rộng công bố thông tin bằng tiếng Anh đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn và chuẩn hóa quản trị công ty theo các nguyên tắc của OECD. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ nhà đầu tư theo hướng tăng cường khả năng thực thi pháp luật thay vì chỉ bổ sung quy định. Trọng tâm là nghiên cứu xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp chuyên biệt trên thị trường chứng khoán, hoàn thiện cơ chế bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư khi xảy ra gian lận, thao túng hoặc công bố thông tin sai lệch; đồng thời nâng cao trách nhiệm của kiểm toán độc lập, tổ chức xếp hạng tín nhiệm, công ty chứng khoán và các tổ chức trung gian nhằm giảm bất đối xứng thông tin và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Ba là, đổi mới mô hình giám sát thị trường theo hướng quản trị số, quản trị rủi ro và giám sát liên tục. Thực tiễn cho thấy, hoạt động giám sát thị trường hiện vẫn thiên về xử lý sau vi phạm, trong khi quy mô và tốc độ giao dịch ngày càng lớn. Vì vậy, cần chuyển mạnh sang mô hình giám sát dựa trên dữ liệu thời gian thực, ứng dụng AI, dữ liệu lớn (Big Data) và phân tích giao dịch nhằm phát hiện sớm các hành vi thao túng giá, giao dịch nội gián, giao dịch bất thường và các rủi ro hệ thống.
Song song với đó, cần hoàn thiện chế tài xử lý theo hướng tăng mức xử phạt gắn với khoản thu lợi bất hợp pháp, mở rộng áp dụng các biện pháp dân sự và hình sự đối với các hành vi gian lận nghiêm trọng để nâng cao tính răn đe. Đặc biệt, cần bổ sung cơ chế giám sát đối với doanh nghiệp sau khi hủy niêm yết hoặc không còn là công ty đại chúng nhưng vẫn có số lượng lớn cổ đông hoặc tiếp tục huy động vốn từ xã hội. Việc thiết lập cơ chế giám sát liên tục sẽ khắc phục “khoảng trống thể chế” trong quản lý doanh nghiệp sau hủy niêm yết và tăng cường bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
Bốn là, hoàn thiện hạ tầng thị trường và các điều kiện thể chế để nâng cao chất lượng vận hành và hội nhập quốc tế. Việc nâng hạng thị trường chỉ là bước khởi đầu; mục tiêu dài hạn là xây dựng một thị trường chứng khoán hiện đại, minh bạch và có sức cạnh tranh trong khu vực. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hạ tầng công nghệ và cơ chế vận hành trên nền tảng hệ thống KRX, từng bước triển khai các sản phẩm và cơ chế giao dịch phù hợp với điều kiện thị trường như giao dịch trong ngày (T+0), cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP), bán khống có kiểm soát và các công cụ phòng ngừa rủi ro theo thông lệ quốc tế khi đáp ứng đầy đủ điều kiện quản lý.
Cùng với đó, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, hoàn thiện cơ chế quản lý dòng vốn xuyên biên giới, thúc đẩy số hóa toàn bộ quy trình giao dịch và tăng cường kết nối với các thị trường tài chính khu vực. Việc đồng bộ hóa hạ tầng pháp lý, hạ tầng công nghệ và năng lực quản trị sẽ nâng cao sức chống chịu của thị trường, thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn và tạo nền tảng để thị trường chứng khoán thực sự trở thành động lực quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững đến năm 2030.
Tài liệu tham khảo:
1. Beck, T., & Levine, R. (2004). Stock markets, banks, and growth: Panel evidence. Journal of Banking & Finance, 28(3), p. 423 – 442.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đào Lê Minh, Nguyễn Thanh Huyền (2017). Hoàn thiện thể chế pháp luật hướng tới phát triển bền vững thị trường chứng khoán Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Hoàn thiện thể chế tài chính cho phát triển bền vững thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm Việt Nam, 2017 (tr. 27 – 40). Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
5. Hoàng Nam (08/04/2026). Chứng khoán Việt được nâng hạng, kỳ vọng hút dòng vốn tỷ USD. https://vtv.vn/chung-khoan-viet-duoc-nang-hang-ky-vong-hut-dong-von-ty-usd-10026040810230855.htm
6. Levine, R., & Zervos, S. (1998). Stock markets, banks, and economic growth. American Economic Review, 88(3), p. 537 – 558.
7. Minh Lâm (06/01/2026). Vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 10 triệu tỷ đồng năm 2025. Tạp chí Kinh tế tài chính. https://tapchikinhtetaichinh.vn/von-hoa-thi-truong-chung-khoan-dat-gan-10-trieu-ty-dong-nam-2025-137812.htm
8. MSCI (6/2025). Global market accessibility review. https://www.msci.com/downloads/web/msci-com/indexes/index-resources/market-classification/MSCI%202025%20GLOBAL%20MARKET%20ACCESSIBILITY%20REVIEW%20REPORT%20ex%20Bulgaria.pdf
9. Qui Ánh (23/6/2026). Thị trường chứng khoán Việt Nam trước ngưỡng nâng hạng: Cơ hội thật, thách thức thật. https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/thi-truong-chung-khoan-viet-nam-truoc-nguong-nang-hang-co-hoi-that-thach-thuc-that-post392835.html
10. Q. L (16/12/2025). Năm điểm nhấn của ngành Chứng khoán trong năm 2025. https://thitruongtaichinhtiente.vn/5-diem-nhan-noi-bat-nganh-chung-khoan-nam-2025-75485.html
11. Trần Đăng Khâm, Nguyễn Thị Minh Huệ (2017). Đổi mới quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam góp phần hoàn thiện thể chế cho phát triển bền vững. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Hoàn thiện thể chế tài chính cho phát triển bền vững thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm Việt Nam, 2017 (tr. 9 – 26). Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân
12. Trần Nguyễn Sông Hàn (2026). Quyền lực dòng tiền: Góc nhìn kinh tế chính trị trong thị trường vốn. Nxb. Lý luận Chính trị.
13. Sơn Nhung (28/7/2025). Những điểm nhấn của thị trường chứng khoán Việt Nam sau 25 năm. https://tuoitre.vn/nld/nhung-diem-nhan-cua-thi-truong-chung-khoan-viet-nam-sau-25-nam-196250728142715715.htm
14. World Bank (April 22, 2026).A Turning Point for Viet Nam’s Capital Markets. https://www.worldbank.org/en/news/feature/2026/04/22/a-turning-point-for-viet-nam-s-capital-markets?utm.



