Developing the value chain of Phu Lang pottery in the economic management of intangible cultural heritage in Bac Ninh
ThS. Lê Hải Hà
Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Bắc Thăng Long
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng chuỗi giá trị và 5 nguồn vốn sinh kế của làng nghề gốm Phù Lãng (tỉnh Bắc Ninh) giai đoạn 2022 – 2026 từ góc nhìn quản lý kinh tế nhà nước đối với di sản văn hóa phi vật thể. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích chuỗi giá trị sáu khâu, chấm điểm năm nguồn vốn sinh kế theo khung của Bộ Phát triển Quốc tế Anh và so sánh có hệ thống với năm điển hình gốm trong nước và quốc tế giai đoạn 2024 – 2026. Kết quả cho thấy, gốm Phù Lãng tuy đạt doanh thu trên 100 tỷ đồng mỗi năm nhưng đang mắc kẹt trong bẫy giá trị thấp. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp quản lý kinh tế, hướng tới nâng chỉ số kinh tế di sản lên 4,0/5 vào năm 2030.
Từ khóa: Chuỗi giá trị; kinh tế di sản; di sản văn hóa phi vật thể; sinh kế bền vững; gốm Phù Lãng.
Abstract: This article analyzes the current state of the value chain and the five sources of livelihood capital in the Phu Lang pottery craft village (Bac Ninh Province) for the 2022–2026 period from the perspective of state economic management of intangible cultural heritage. The study employs a mixed-methods approach, combining a six-stage value chain analysis with a scoring system for the five sources of livelihood capital based on the UK Department for International Development framework, and conducts a systematic comparison with five representative pottery cases both domestically and internationally during the 2024–2026 period. The results show that while Phu Lang pottery generates annual revenue exceeding 100 billion VND, it remains trapped in a low-value trap. Based on this, the article proposes a system of economic management solutions aimed at raising the heritage economic index to 4.0 out of 5 by 2030.
Keywords: Value chain; heritage economy; intangible cultural heritage; sustainable livelihoods; Phu Lang pottery.
1. Đặt vấn đề
Di sản văn hóa phi vật thể ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực kinh tế chứ không chỉ là đối tượng cần bảo tồn. Theo Báo cáo triển vọng kinh tế sáng tạo năm 2024 của Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển, xuất khẩu dịch vụ sáng tạo toàn cầu đạt 1,4 nghìn tỷ USD năm 2022, tăng 29% so với năm 2017, trong khi xuất khẩu hàng hóa sáng tạo, nhóm bao hàm sản phẩm thủ công truyền thống, đạt 713 tỷ USD; khu vực kinh tế sáng tạo đóng góp từ 0,5% đến 7,3% tổng sản phẩm quốc nội tại các quốc gia được khảo sát (UNCTAD, 2024). Đáng chú ý, các quốc gia đang phát triển chủ yếu xuất khẩu hàng hóa sáng tạo, cho thấy dư địa kinh tế còn lớn của nghề thủ công di sản.
Ở Việt Nam, hành lang pháp lý và chính sách cho phát triển kinh tế di sản đã rõ nét hơn. Luật Di sản văn hóa năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, lần đầu chuyển trọng tâm từ bảo tồn đơn thuần sang phát huy giá trị kinh tế và bổ sung quy định về số hóa di sản (Quốc hội, 2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu (Bộ Chính trị, 2024); trong khi đó, Kết luận số 76-KL/TW đặt mục tiêu ngành văn hóa đóng góp khoảng 7% tổng sản phẩm trong nước vào năm 2030 (Bộ Chính trị, 2020). Đây là khung định hướng trực tiếp nhằm nâng cao giá trị kinh tế của di sản văn hóa phi vật thể ở cấp độ địa phương.
Sau khi hợp nhất với tỉnh Bắc Giang theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, tỉnh Bắc Ninh mở rộng quản lý khoảng 898 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có khoảng 260 di sản nghề thủ công truyền thống, trở thành địa phương có mật độ di sản phi vật thể vào loại cao nhất cả nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, 2025). Trong bức tranh đó, làng gốm Phù Lãng, nay thuộc xã Phù Lãng, từ ngày 01/7/2025 theo Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15, là một điển hình giàu tiềm năng nhưng cũng bộc lộ rõ nghịch lý của kinh tế di sản. Doanh thu của làng nghề đã vượt 100 tỷ đồng năm 2025, song chỉ số kinh tế di sản tổng hợp, thước đo mức độ bền vững theo năm nguồn vốn sinh kế, chỉ đạt 2,5/5.
Nghịch lý này không nằm ở quy mô doanh thu mà ở cách giá trị được phân bổ trong chuỗi. Nghệ nhân trực tiếp sản xuất chỉ thu về khoảng 30–35% giá bán lẻ cuối cùng; phần lớn giá trị gia tăng rơi vào khâu trung gian và thương mại; tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp dưới 5% sản lượng; thương mại điện tử gần như chưa hình thành. Thu nhập bình quân của nghệ nhân chỉ đạt 4 – 6 triệu đồng mỗi tháng, thấp hơn 50 – 60% so với công nhân ở các khu công nghiệp lân cận, khiến lao động trẻ rời làng nghề và nguy cơ đứt gãy thế hệ gia tăng. Đây chính là biểu hiện của bẫy giá trị thấp mà nhiều làng nghề truyền thống Việt Nam đang gặp phải.
Ba mốc thể chế nêu trên gần như đồng thời tạo nên một cửa sổ chính sách thuận lợi để tái cấu trúc chuỗi giá trị và phát triển kinh tế di sản bền vững. Từ bối cảnh đó, bài viết tập trung trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu. Thứ nhất, chuỗi giá trị và các nguồn vốn sinh kế của gốm Phù Lãng đang vướng những điểm nghẽn nào khiến giá trị kinh tế chưa được phát huy tương xứng với tiềm năng? Thứ hai, kinh nghiệm từ các điển hình gốm trong nước và quốc tế giai đoạn 2024 – 2026 gợi mở những hướng can thiệp nào? Thứ ba là hệ thống giải pháp quản lý kinh tế nào phù hợp để nâng cấp chuỗi giá trị và sinh kế làng nghề theo hướng bền vững trong giai đoạn 2027 – 2035.
2. Cơ sở lý luận và khung phân tích
2.1. Tiếp cận chuỗi giá trị và cụm ngành sáng tạo
Phân tích chuỗi giá trị của Porter (1985) cho phép nhận diện từng khâu tạo ra giá trị gia tăng trong một ngành và xác định những điểm giá trị bị rò rỉ khỏi chuỗi sản xuất trực tiếp. Đối với làng nghề thủ công, chuỗi giá trị thường gồm các khâu từ nguyên liệu, sản xuất, hoàn thiện, phân phối đến tiêu dùng và dịch vụ trải nghiệm; mức độ bền vững phụ thuộc vào việc nghệ nhân giữ lại được bao nhiêu phần giá trị và có tiếp cận được các khâu cao cấp như thiết kế, thương hiệu và xuất khẩu hay không. Cũng theo Porter (1985), việc tập hợp các chủ thể có liên hệ về địa lý và ngành nghề thành cụm ngành giúp chia sẻ hạ tầng, tri thức và kênh thị trường, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể. Cách tiếp cận này là nền tảng để bài viết xem xét khả năng liên kết các làng gốm vùng Kinh Bắc thành một cụm ngành sáng tạo di sản.
2.2. Kinh tế học văn hóa và khung sinh kế bền vững
Kinh tế học văn hóa của Throsby (2010) lập luận rằng di sản vừa mang giá trị kinh tế, vừa mang giá trị văn hóa; do đó, chính sách hiệu quả phải đồng thời bảo tồn cả hai loại giá trị, thay vì đánh đổi một giá trị lấy giá trị khác. Quan điểm này được củng cố bởi luận điểm của Hawkes (2001), theo đó văn hóa là trụ cột thứ tư của phát triển bền vững, bên cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Để cụ thể hóa mức độ bền vững ở cấp cộng đồng, bài viết vận dụng khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (1999) với năm nguồn vốn, gồm: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính; Scoones (2009) nhấn mạnh rằng, sự cân đối giữa năm nguồn vốn này quyết định khả năng một sinh kế có bền vững hay không. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sử dụng chỉ số kinh tế di sản tổng hợp, tính bằng trung bình cộng điểm của 5 nguồn vốn theo thang 1 – 5, làm thước đo mức độ bền vững kinh tế của làng nghề.
2.3. Bốn chức năng quản lý kinh tế nhà nước và khung phân tích tích hợp
Quản lý kinh tế nhà nước đối với di sản văn hóa phi vật thể được tiếp cận thông qua 4 chức năng cơ bản, gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và kiến nghị điều chỉnh chính sách. Theo kinh tế học thể chế, hiệu quả của các chức năng này phụ thuộc vào chất lượng luật chơi thể chế (North, 1990) và năng lực quản trị tài nguyên chung của cộng đồng (Ostrom, 1990). Kết hợp ba hướng lý thuyết nêu trên, bài viết sử dụng một khung phân tích tích hợp ba tầng: tầng thể chế đặt nền cho bốn chức năng quản lý kinh tế; tầng phát triển bền vững với bốn trụ cột soi chiếu kết quả; và tầng sinh kế với năm nguồn vốn để đo lường tác động ở cấp làng nghề. Khung này cho phép kết nối trực tiếp các điểm nghẽn trong chuỗi giá trị với các chức năng quản lý nhà nước cần được hoàn thiện, qua đó bảo đảm tính nhất quán từ chẩn đoán thực trạng đến đề xuất giải pháp.
3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp hỗn hợp theo thiết kế tam giác đồng thời của Creswell và Creswell (2023), kết hợp một nhánh định tính và một nhánh định lượng chạy song song rồi kiểm chứng chéo kết quả. Nhánh định tính dựa trên phân tích chủ đề (Braun và Clarke, 2022) đối với hệ thống văn bản chính sách và các báo cáo quản lý; nhánh định lượng gồm phân tích chuỗi giá trị sáu khâu theo Porter (1985), chấm điểm năm nguồn vốn sinh kế theo thang 1 – 5 và phương pháp so sánh đa điển hình (Yin, 2018). Một kết luận chỉ được chấp nhận khi có sự đồng thuận giữa các nguồn dữ liệu và các phương pháp khác nhau.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 4 nhóm nguồn. Một là, hệ thống văn bản pháp lý gồm Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024), Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15. Hai là, năm báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022 – 2026 cùng Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh. Ba là, thực hiện 5 nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý gốm truyền thống trong giai đoạn 2024 – 2026. Bốn là, báo cáo của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản về hỗ trợ kỹ thuật tại làng gốm. Các con số điểm số theo thang 1 – 5 là kết quả tự đánh giá của nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu thứ cấp, không trích từ nguồn bên ngoài; một số ước tính về số hộ sản xuất và trữ lượng đất sét được nêu rõ là ước tính của tác giả và cần tiếp tục được kiểm chứng thông qua điều tra sơ cấp.
4. Thực trạng chuỗi giá trị và sinh kế gốm Phù Lãng
4.1. Bối cảnh làng nghề sau sáp nhập tỉnh
Làng gốm Phù Lãng nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 60 km, với khoảng 200 hộ sản xuất và gần 1.000 lao động, nổi tiếng với kỹ thuật vuốt tay và men tro thực vật đặc trưng của vùng Kinh Bắc. Sau sáp nhập tỉnh, làng nghề được đặt trong một không gian di sản mở rộng với khoảng 898 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó nghề thủ công truyền thống chiếm khoảng 260 di sản (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, 2025). Về môi trường sản xuất, nhờ hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, khoảng 30–40% số lò nung đã chuyển sang lò gas, giúp giảm phát thải khí carbon dioxide khoảng 45% so với năm 2020 (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, 2024). Vị trí liền kề Hà Nội và việc hình thành cụm ba làng gốm vùng Kinh Bắc là những lợi thế nền tảng cho phát triển kinh tế di sản, song giá trị kinh tế của làng nghề vẫn chưa được phát huy tương xứng do những điểm nghẽn trong chuỗi giá trị.
4.2. Chuỗi giá trị sáu khâu và bẫy giá trị thấp
Phân tích chuỗi giá trị theo Porter (1985) cho thấy gốm Phù Lãng có 6 khâu chính, với tổng giá trị sản xuất ước tính hơn 100 tỷ đồng mỗi năm, nhưng giá trị gia tăng được phân bổ rất không đều (xem Bảng 1). Khâu sản xuất thủ công, vốn tạo ra phần giá trị lớn nhất trong chuỗi, lại là khâu mà nghệ nhân chỉ giữ được khoảng 30 – 35% giá bán lẻ cuối cùng; phần còn lại rơi vào khâu trung gian và thương mại, nơi khoảng 20 hộ thương nhân chi phối hơn 60% lợi nhuận của toàn chuỗi. Đây là biểu hiện điển hình của bẫy giá trị thấp ở các làng nghề truyền thống, khi người trực tiếp sáng tạo di sản lại nhận được phần giá trị nhỏ nhất.
Hai điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu xuất khẩu và thương mại điện tử. Tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp dưới 5% sản lượng, chủ yếu đi qua trung gian tại Hà Nội hoặc làng gốm Bát Tràng, khiến làng nghề mất đi phần lớn giá trị thương hiệu và biên lợi nhuận xuất khẩu. Thương mại điện tử gần như chưa hình thành khi rất ít hộ có gian hàng trực tuyến chính thức trên các nền tảng quốc tế. Ở chiều ngược lại, hai khâu còn nhiều dư địa để nâng cấp là hoàn thiện, thiết kế và du lịch di sản: việc đổi mới mẫu mã và phát triển sản phẩm ứng dụng đương đại có thể nâng cao giá trị gia tăng, trong khi trải nghiệm làm gốm thủ công có tiềm năng trở thành nguồn thu mới đáng kể cho cộng đồng nghệ nhân.
Bảng 1. Cơ cấu chuỗi giá trị sáu khâu của gốm Phù Lãng (2024)
| Khâu trong chuỗi giá trị | Tỷ lệ giá trị gia tăng | Đặc điểm và điểm nghẽn chính |
| Nguyên liệu và đất sét | Khoảng 5% | Đất sét ven sông Cầu; chưa quy hoạch bảo vệ vùng nguyên liệu dài hạn |
| Sản xuất thủ công | Khoảng 35% | Khâu tạo giá trị lớn nhất, nhưng nghệ nhân chỉ giữ 30 – 35% giá bán lẻ |
| Hoàn thiện và thiết kế | Khoảng 20% | Mẫu mã đổi mới chậm (8 – 10 mẫu mới mỗi năm); còn dư địa nâng cấp |
| Thương mại nội địa | Khoảng 25% | Khoảng 20 hộ thương nhân chi phối hơn 60% lợi nhuận chuỗi |
| Xuất khẩu và thương mại điện tử | Dưới 5% | Điểm nghẽn chính: phụ thuộc trung gian, gần như chưa có thương mại điện tử |
| Du lịch di sản | Khoảng 15% | Cơ hội nâng cấp: trải nghiệm làm gốm, có thể tăng nguồn thu cho cộng đồng |
4.3. Năm nguồn vốn sinh kế và chỉ số kinh tế di sản
Đánh giá theo khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (1999) cho thấy năm nguồn vốn của gốm Phù Lãng phân bố mất cân đối, với chỉ số kinh tế di sản tổng hợp chỉ đạt 2,5/5, tương ứng với trạng thái bẫy sinh kế ở mức thấp (xem Bảng 2). Vốn tài chính được đánh giá cao nhất, đạt 3,0/5, nhờ doanh thu vượt 100 tỷ đồng mỗi năm, nhưng lại phân bổ bất bình đẳng khi phần lớn lợi nhuận tập trung vào một nhóm nhỏ hộ thương nhân. Trái lại, vốn tự nhiên là thấp nhất, ở mức 2,0 – 2,2/5, do vùng đất sét ven sông Cầu chưa được quy hoạch bảo vệ và 60 – 70% lò nung vẫn dùng than, củi; tuy vậy, nguồn vốn này đang có xu hướng cải thiện nhờ chương trình chuyển đổi sang lò gas.
Đáng lo ngại nhất là sự suy yếu của vốn con người và vốn xã hội, cả hai đều ở mức 2,5/5. Số nghệ nhân ưu tú giảm từ 5 người năm 2020 xuống còn 3 người, trong khi thợ trẻ dưới 35 tuổi chỉ chiếm 15–20% lực lượng lao động, phản ánh nguy cơ đứt gãy thế hệ. Hợp tác xã mới bao phủ khoảng 15% số hộ nên thiếu sức mạnh đàm phán tập thể và khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu. Chính sự yếu kém của hai nguồn vốn này, kết hợp với việc phân bổ giá trị bất bình đẳng trong chuỗi, đã khiến chỉ số kinh tế di sản ở mức thấp và là một điểm cần ưu tiên can thiệp.
Bảng 2. Năm nguồn vốn sinh kế và chỉ số kinh tế di sản của gốm Phù Lãng (2024)
| Nguồn vốn | Điểm (thang 1 – 5) | Chỉ số chính và nhận định |
| Vốn con người | 2,5 | 3 nghệ nhân ưu tú (giảm từ 5 năm 2020); thợ trẻ dưới 35 tuổi chỉ 15 – 20% |
| Vốn xã hội | 2,5 | Hợp tác xã bao phủ khoảng 15% số hộ; mức tin cậy cộng đồng khoảng 2,8/5 |
| Vốn tự nhiên | 2,0 – 2,2 | Đất sét sông Cầu chưa quy hoạch; 60 – 70% lò than, củi; thấp nhất nhưng đang cải thiện |
| Vốn vật chất | 2,5 | Thiếu trung tâm đón khách; internet băng rộng đạt khoảng 60% số hộ |
| Vốn tài chính | 3,0 | Doanh thu trên 100 tỷ đồng mỗi năm; cao nhất nhưng phân bổ bất bình đẳng |
| Chỉ số kinh tế di sản tổng hợp | 2,5 | Trung bình cộng năm nguồn vốn; phản ánh bẫy sinh kế thấp |
4.4. So sánh với các điển hình gốm trong nước và quốc tế
Để định vị gốm Phù Lãng và rút ra hướng can thiệp, nghiên cứu so sánh làng nghề với 5 điển hình gốm trong nước và quốc tế giai đoạn 2024 – 2026 (xem Bảng 3). Kết quả cho thấy các điển hình đã đạt bước tiến rõ rệt đều dựa trên một mô hình tổ chức sản xuất chặt chẽ, kết hợp với việc tiếp cận thị trường một cách chủ động. Gốm Bát Tràng có nhãn hiệu tập thể, hội làng nghề và kênh xuất khẩu, thương mại điện tử tương đối phát triển. Khu phố gốm Yingge ở Đài Loan cho thấy mô hình quận văn hóa, với đổi mới dịch vụ và hợp tác công – tư, có thể hồi sinh một khu vực gốm mang tính di sản (Hsu và Chen, 2024).
Các điển hình ở những nền kinh tế đang phát triển bổ sung những bài học về vốn con người và vốn xã hội. Cộng đồng gốm Huancas ở Peru cho thấy môi trường làng nghề và vai trò của phụ nữ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, văn hóa và thể chế của cộng đồng (Revilla Bueloth và cộng sự, 2024). Nghề gốm Lango ở Uganda được duy trì nhờ tổ chức cộng đồng và hoạt động tiếp thị, dù chịu sức ép từ các sản phẩm thay thế nhập khẩu (Ocen và Jin, 2026). Nghiên cứu về gốm nông thôn Ấn Độ nhấn mạnh vai trò của đổi mới và thương mại điện tử trong việc nâng cao sinh kế (Saha và Sen, 2025), còn trường hợp gốm Li ở Hải Nam cho thấy giáo dục di sản và số hóa hỗ trợ bảo tồn tri thức bản địa (Zhang và Sirisuk, 2025). Tính xác thực của di sản, như phân tích trong nghiên cứu của White và Adu-Ampong (2024), cũng là yếu tố then chốt thu hút du khách. Bài học tổng hợp là không có điển hình nào thành công chỉ với một giải pháp đơn lẻ; tất cả đều kết hợp đồng thời các yếu tố thể chế, kinh tế, xã hội và công nghệ.
Bảng 3. So sánh gốm Phù Lãng với một số điển hình gốm trong nước và quốc tế
| Điển hình | Tổ chức sản xuất và liên kết | Tiếp cận thị trường | Bài học cho gốm Phù Lãng |
| Gốm Phù Lãng (Việt Nam) | Hợp tác xã khoảng 15% hộ; phần lớn sản xuất đơn lẻ | Xuất khẩu dưới 5%; thương mại điện tử gần như chưa có | Hiện trạng cần nâng cấp đồng bộ chuỗi giá trị và sinh kế |
| Gốm Bát Tràng (Việt Nam) | Hợp tác xã và hội làng nghề; có khu trưng bày tập trung | Có kênh xuất khẩu và thương mại điện tử | Nhãn hiệu tập thể gắn tổ chức hợp tác xã mạnh |
| Gốm Yingge, Đài Loan (Hsu và Chen, 2024) | Mô hình quận văn hóa; hợp tác công – tư | Hướng tới du khách và thị trường sáng tạo | Đổi mới dịch vụ và vốn chính trị thúc đẩy cụm ngành |
| Gốm Huancas, Peru (Revilla Bueloth và cộng sự, 2024) | Hội thủ công cộng đồng; phụ nữ là lực lượng chủ yếu | Gắn du lịch trải nghiệm địa phương | Môi trường làng nghề thúc đẩy tăng trưởng cộng đồng |
| Gốm Lango, Uganda (Ocen và Jin, 2026) | Nghề do phụ nữ dẫn dắt; tổ chức cộng đồng | Thị trường nội địa; cạnh tranh hàng nhập khẩu | Tiếp thị và tổ chức cộng đồng giúp duy trì nghề |
| Gốm Li, Hải Nam, Trung Quốc (Zhang và Sirisuk, 2025) | Trao truyền theo gia đình và cộng đồng | Gắn du lịch văn hóa và tri thức bản địa | Giáo dục di sản và số hóa hỗ trợ bảo tồn |
5. Thảo luận và hàm ý chính sách
5.1. Những phát hiện chính
Kết quả phân tích cho phép rút ra 3 phát hiện chính. Thứ nhất là nghịch lý của gốm Phù Lãng có bản chất cấu trúc: làng nghề không thiếu nhu cầu thị trường hay quy mô doanh thu, mà thiếu khả năng giữ lại và nâng cao giá trị trong chuỗi, biểu hiện qua việc nghệ nhân chỉ nhận 30 – 35% giá bán lẻ và 2 điểm nghẽn ở khâu xuất khẩu, thương mại điện tử. Thứ hai là bẫy giá trị thấp gắn chặt với bẫy sinh kế thấp: chỉ số kinh tế di sản 2,5/5 phản ánh sự suy yếu của vốn con người và vốn xã hội, trong khi vốn tự nhiên thấp nhất nhưng đang cải thiện và vốn tài chính tuy cao nhất lại phân bổ bất bình đẳng. Thứ ba là, kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có điển hình nào thoát khỏi hai bẫy này nhờ một giải pháp đơn lẻ; mọi trường hợp thành công đều kết hợp đồng thời các yếu tố thể chế, kinh tế, xã hội và công nghệ.
Đặt trong khung bốn chức năng quản lý kinh tế nhà nước, các điểm nghẽn trên cho thấy dư địa cải thiện lớn nhất nằm ở chức năng lập kế hoạch và tổ chức thực hiện. Chức năng lập kế hoạch tuy được đánh giá tương đối tốt nhưng còn thiếu bộ chỉ tiêu đo lường và chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị; chức năng tổ chức thực hiện còn yếu do thẩm quyền phân tán giữa nhiều cơ quan và năng lực liên kết hợp tác xã thấp. Việc hoàn thiện hai chức năng này, song song với chức năng kiểm tra, giám sát và kiến nghị điều chỉnh chính sách, là điều kiện thể chế để các giải pháp kinh tế phát huy hiệu quả.
5.2. Hệ thống giải pháp quản lý kinh tế nâng cấp chuỗi giá trị và sinh kế
Trên cơ sở các phát hiện trên, bài viết đề xuất 3 nhóm giải pháp quản lý kinh tế gắn kết với nhau theo nguyên tắc tầng bậc.
Nhóm thứ nhất là tái cấu trúc và nâng cấp chuỗi giá trị thông qua cụm ngành sáng tạo. Trọng tâm là hình thành cụm ngành tam giác gốm Kinh Bắc, liên kết 3 trung tâm gốm Phù Lãng, Thổ Hà và Bát Tràng, với một showroom trung tâm khoảng 500 m² tại xã Phù Lãng làm điểm trưng bày chung, không gian phát triển mẫu mã, kho vận và đón khách du lịch liên tuyến. Kinh nghiệm khu phố gốm Yingge ở Đài Loan cho thấy đổi mới dịch vụ, kết hợp vốn chính trị và hợp tác công – tư, có thể hồi sinh một khu vực gốm mang tính di sản (Hsu và Chen, 2024). Song song, làng nghề cần đăng ký chỉ dẫn địa lý gắn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU và các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, kết hợp xây dựng nhãn hiệu tập thể gốm Phù Lãng chính danh và mở kênh thương mại điện tử quốc tế; nghiên cứu của Saha và Sen (2025) khẳng định vai trò của đổi mới và thương mại điện tử trong nâng cao sinh kế cộng đồng gốm. Việc nâng cấp trung tâm đón khách và phát triển các gói du lịch trải nghiệm cũng giúp khai thác giá trị tính xác thực của di sản, vốn là yếu tố then chốt trong việc thu hút du khách (White và Adu-Ampong, 2024).
Nhóm thứ hai là củng cố các nguồn vốn sinh kế còn yếu. Đối với vốn con người, cần tổ chức đào tạo nghề gốm gắn chính sách học bổng cho thợ trẻ nhằm đảo ngược xu hướng rời làng nghề; bằng chứng từ cộng đồng gốm Huancas ở Peru cho thấy môi trường làng nghề và vai trò của phụ nữ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, văn hóa và thể chế (Revilla Bueloth và cộng sự, 2024), trong khi trường hợp gốm Li ở Hải Nam nhấn mạnh vai trò của giáo dục di sản trong trao truyền tri thức (Zhang và Sirisuk, 2025). Đối với vốn xã hội, việc mở rộng hợp tác xã từ khoảng 15% lên 60% số hộ là điều kiện để tạo sức mạnh đàm phán tập thể và tiếp cận thị trường xuất khẩu; kinh nghiệm gốm Lango ở Uganda cho thấy việc tổ chức cộng đồng và hoạt động tiếp thị giúp duy trì nghề nghiệp trước sự cạnh tranh (Ocen và Jin, 2026). Đối với vốn tự nhiên, cần quy hoạch, bảo vệ vùng đất sét ven sông Cầu, nhân rộng tỷ lệ lò gas lên 80–100% và phát triển quy trình tái chế mảnh vỡ gốm. Đối với vốn vật chất và vốn tài chính, cần đầu tư hạ tầng du lịch, thiết lập quỹ di sản làng nghề, cung cấp tín dụng ưu đãi và hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho nghệ nhân.
Nhóm thứ ba là hoàn thiện thể chế quản lý kinh tế di sản làm nền tảng cho hai nhóm trên. Trước hết, tỉnh cần thành lập một đơn vị chuyên trách về kinh tế di sản để khắc phục tình trạng thẩm quyền phân tán giữa nhiều sở, ngành; ban hành bộ chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý kinh tế di sản bằng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; và xây dựng quy chế phối hợp liên ngành nhằm rút ngắn thời gian xử lý vi phạm. Bên cạnh đó, việc từng bước triển khai hệ thống thông tin quản lý di sản đóng vai trò như một lớp hỗ trợ, giúp minh bạch hóa chuỗi giá trị, xác thực nguồn gốc sản phẩm và giám sát thị trường, qua đó bảo vệ giá trị kinh tế của thương hiệu gốm Phù Lãng. Theo tinh thần của Throsby (2010) và Hawkes (2001), các giải pháp này cần bảo đảm sự hài hòa giữa giá trị kinh tế và giá trị văn hóa, lấy nghệ nhân và cộng đồng làm trung tâm.
5.3. Lộ trình thực hiện và hàm ý chính sách
Hệ thống giải pháp được triển khai theo lộ trình ba giai đoạn từ năm 2027 đến 2035, với các mục tiêu nâng cấp chuỗi giá trị và sinh kế được lượng hóa cụ thể (xem Bảng 4).
Bảng 4. Mục tiêu nâng cấp chuỗi giá trị và sinh kế gốm Phù Lãng đến năm 2035
| Chỉ số | Năm nền 2024 | Năm 2030 | Năm 2035 |
| Doanh thu gốm Phù Lãng (tỷ đồng/năm) | Khoảng 100 | 300 | 500 |
| Tỷ lệ xuất khẩu và thương mại điện tử quốc tế (%) | Dưới 5 | 20 | 35 |
| Thu nhập bình quân nghệ nhân (triệu đồng/tháng) | 4 – 6 | 9 | Từ 12 trở lên |
| Tỷ lệ thợ trẻ dưới 35 tuổi (%) | 15 – 20 | 40 | Từ 50 trở lên |
| Tỷ lệ hộ tham gia hợp tác xã (%) | Khoảng 15 | 60 | Từ 75 trở lên |
| Tỷ lệ lò gas trên tổng số lò (%) | 30 – 40 | 80 | 100 |
| Chỉ số kinh tế di sản tổng hợp (thang 1 – 5) | 2,5 | Từ 4,0 trở lên | Từ 4,5 trở lên |
Giai đoạn thứ nhất (2027 – 2028) tập trung xây dựng nền tảng thể chế và khởi động cụm ngành: thành lập đơn vị chuyên trách kinh tế di sản, ban hành bộ chỉ tiêu đo lường, đưa vào hoạt động showroom trung tâm và thử nghiệm kênh thương mại điện tử quốc tế.
Giai đoạn thứ hai (2029 – 2030) mở rộng các giải pháp kinh tế và sinh kế: hoàn tất đăng ký chỉ dẫn địa lý, mở rộng hợp tác xã, tổ chức đào tạo nghề và nâng cấp hạ tầng du lịch, hướng tới đưa chỉ số kinh tế di sản lên từ 4,0/5 trở lên.
Giai đoạn thứ ba (2031 – 2035) hoàn thiện và nhân rộng mô hình sang các làng nghề khác trong tỉnh, đưa tỷ trọng văn hóa trong tổng sản phẩm trên địa bàn lên từ 7% trở lên.
Để bảo đảm tính khả thi, các kiến nghị được phân loại theo 4 cấp quản lý. Ở cấp trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần ban hành hướng dẫn triển khai quản lý kinh tế di sản và bộ tiêu chuẩn kỹ thuật cho việc số hóa di sản cấp tỉnh theo Luật Di sản văn hóa năm 2024. Ở cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành nghị quyết về bộ chỉ tiêu đo lường, bố trí ngân sách cho giai đoạn nền tảng và việc thành lập đơn vị chuyên trách về kinh tế di sản. Ở cấp xã, chính quyền ưu tiên triển khai showroom cụm ngành, quy hoạch vùng đất sét và phát triển du lịch trải nghiệm. Ở cấp cộng đồng, hợp tác xã và nghệ nhân chủ động mở rộng quy mô, tham gia đào tạo nghề, áp dụng các công cụ xác thực, cũng như triển khai thương mại điện tử.
Xét một cách tổng thể, gốm Phù Lãng đang đứng trước cơ hội chuyển từ bẫy giá trị thấp sang sinh kế thịnh vượng nếu quản lý kinh tế nhà nước biết tận dụng cửa sổ chính sách hiện nay để tái cấu trúc chuỗi giá trị và củng cố các nguồn vốn sinh kế. Thành công của mô hình tại Phù Lãng không chỉ có ý nghĩa đối với một làng nghề, mà còn tạo tiền lệ và kinh nghiệm thực tiễn cho hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống khác trong bối cảnh hậu sáp nhập và khung pháp lý mới. Nghiên cứu này dựa chủ yếu vào dữ liệu thứ cấp; hướng nghiên cứu tiếp theo cần bổ sung điều tra sơ cấp để kiểm chứng định lượng các phát hiện và điều chỉnh lộ trình theo điều kiện thực tiễn.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị. (2020). Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.
2. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Phát triển Quốc tế Anh. (1999). Sustainable livelihoods guidance sheets.
4. Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản. (2024). Báo cáo tiến độ hỗ trợ kỹ thuật chuyển đổi lò nung tiết kiệm năng lượng tại làng gốm Phù Lãng, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
5. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh. (2025). Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2024. Nxb. Thống kê.
6. Quốc hội. (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
7. Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025.
8. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh. (2025). Báo cáo kết quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Bắc Ninh.
9. Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Bắc Ninh năm 2025.
10. Braun, V., & Clarke, V. (2022). Thematic analysis: A practical guide. SAGE.
11. Creswell, J. W., & Creswell, J. D. (2023). Research design: Qualitative, quantitative, and mixed methods approaches (6th ed.). SAGE.
12. Hawkes, J. (2001). The fourth pillar of sustainability: Culture’s essential role in public planning. Common Ground.
13. Hsu, Y., & Chen, C. (2024). Service innovation models in cultural districts: A case of Taiwan Yingge historical street. Urban Resilience and Sustainability, 2(4), 371-389. https://doi.org/10.3934/urs.2024020
14. North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.
15. Ocen, R., & Jin, W. (2026). The economic impact of Lango pottery: Sustaining communities through craft. International Journal of Research and Innovation in Social Science, 10(2), 7221-7247. https://doi.org/10.47772/IJRISS.2026.10100558
16. Ostrom, E. (1990). Governing the commons: The evolution of institutions for collective action. Cambridge University Press.
17. Porter, M. E. (1985). Competitive advantage: Creating and sustaining superior performance. Free Press.
18. Revilla Bueloth, M., Morante Dávila, M. A., Chávez Espinoza, W., Llancari Oliden, D. E., & Quijano Quilo, A. M. (2024). Empirical study on the pottery environment and its contribution to the economic, cultural, and institutional growth of the community of Huancas, Amazonas, Peru: An analysis with Smart PLS. Journal of Educational and Social Research, 14(6), 334-348. https://doi.org/10.36941/jesr-2024-0176
19. Saha, G., & Sen, S. (2025). Enhancing rural livelihoods through pottery: The role of craft and innovation in rural development. International Journal of Creative Research Thoughts, 13(3), e1-e10.
20. Scoones, I. (2009). Livelihoods perspectives and rural development. Journal of Peasant Studies, 36(1), 171-196. https://doi.org/10.1080/03066150902820503
21. Throsby, D. (2010). The economics of cultural policy. Cambridge University Press.
22. United Nations Conference on Trade and Development. (2024). Creative economy outlook 2024. https://unctad.org/publication/creative-economy-outlook-2024
23. White, E., & Adu-Ampong, E. A. (2024). In the potter’s hand: Tourism and the everyday practices of authentic intangible cultural heritage in a pottery village. Journal of Heritage Tourism. Advance online publication. https://doi.org/10.1080/1743873X.2024.2370830.
24. Yin, R. K. (2018). Case study research and applications: Design and methods (6th ed.). SAGE.
25. Zhang, T., & Sirisuk, M. (2025). The development and educational inheritance of Li pottery as a carrier of local wisdom in the context of modernity. Journal of Practical Studies in Education, 6(3), 61-69. https://doi.org/10.46809/jpse.v6i3.107.



