Promoting the People’s right to mastery in the building of the socialist rule-of-law state in Vietnam today
TS. Lê Đình Thảo
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là một trong những yêu cầu cốt lõi trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết làm rõ thực trạng bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay; đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quyền làm chủ của Nhân dân; Việt Nam.
Abstract: Promoting the People’s right to mastery is one of the fundamental requirements in the process of building the socialist rule-of-law state in Vietnam. This article examines the current state of ensuring and promoting the People’s right to mastery in the process of building the socialist rule-of-law state in Vietnam today. It also proposes several solutions to further improve the institutional framework and enhance the effectiveness and efficiency of national governance to meet the country’s development requirements in the new era.
Keywords: Socialist rule-of-law state; the People’s right to mastery; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, xây dựng nền hành chính phục vụ và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Những năm qua, cùng với việc hoàn thiện thể chế xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật về thực hiện dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và quyền làm chủ của Nhân dân đã được ban hành và tổ chức thực hiện. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu phải “thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân”1. Đây là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền làm chủ của Nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng và mang ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn, góp phần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
2. Thực trạng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là một trong những nội dung cốt lõi của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời là tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ dân chủ và hiệu quả quản trị quốc gia. Những năm qua, cùng với việc hoàn thiện thể chế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật nhằm bảo đảm Nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc thể chế hóa phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”2 đã góp phần mở rộng và bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước, qua đó, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.
Thứ nhất, quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng được bảo đảm và phát huy trong lĩnh vực chính trị. Qua mỗi kỳ bầu cử, quyền làm chủ của Nhân dân tiếp tục được phát huy, góp phần củng cố nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Thực tiễn cho thấy, tỷ lệ cử tri cả nước tham gia bỏ phiếu trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (khóa XVI) diễn ra vào ngày 15/3/2026 đạt 99,70% tổng số cử tri3. Đây là một trong những kỳ bầu cử có tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu cao nhất từ trước đến nay. Kết quả thể hiện sự quan tâm sâu sắc của người dân đối với sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; đồng thời, “là biểu tượng sinh động của lòng tin, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của tinh thần trách nhiệm, ý chí làm chủ đất nước của nhân dân ta; khẳng định bản chất dân chủ, tiến bộ, nhân văn của Nhà nước ta: “Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân; Nhà nước ta là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”4.
Bên cạnh quyền bầu cử và ứng cử, Nhân dân còn tham gia quản lý nhà nước thông qua nhiều hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, đặc biệt là tham gia góp ý xây dựng chủ trương, chính sách và phản biện xã hội. Mức độ tham gia của Nhân dân ngày càng được mở rộng cả về phạm vi và phương thức thực hiện. Minh chứng là trong quá trình lấy ý kiến đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, đã có hơn 2,5 triệu lượt ý kiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân được tiếp nhận5; riêng hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ghi nhận 527.764 ý kiến, trong đó 417.338 ý kiến được đóng góp trực tiếp tại 28.497 hội nghị, hội thảo và tọa đàm6.Điều này cho thấy, quyền làm chủ của Nhân dân trong lĩnh vực chính trị ngày càng được bảo đảm và phát huy thực chất thông qua việc tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, quyền làm chủ của Nhân dân tiếp tục được mở rộng trong lĩnh vực kinh tế. Trên thực tế, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã không ngừng mở rộng không gian để người dân và doanh nghiệp phát huy quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thông qua cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, nhấn mạnh “sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới7.
Thứ ba, trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và giáo dục, quyền dân chủ của Nhân dân tiếp tục được bảo đảm và mở rộng thông qua việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và triển khai đồng bộ các chương trình phát triển xã hội, tạo điều kiện để người dân thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản trên các lĩnh vực của đời sống.
Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiếp tục hiến định và bảo đảm nhiều quyền quan trọng của công dân và của mọi người, như: quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 39); quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa và sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng tiếng nói, chữ viết và lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43). Những quy định này tạo nền tảng hiến định quan trọng để bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội và giáo dục.
Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật chuyên ngành tiếp tục được hoàn thiện với việc ban hành, sửa đổi và bổ sung nhiều đạo luật quan trọng, như: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Di sản văn hóa, Luật Xuất bản, Luật Quảng cáo, Luật Thư viện, Luật Báo chí, Luật Điện ảnh… đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận các giá trị văn hóa; bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc; đồng thời bảo đảm quyền tự do sáng tạo, quyền hưởng thụ văn hóa của Nhân dân, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trong lĩnh vực giáo dục, quyền học tập của công dân tiếp tục được bảo đảm thông qua việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển giáo dục số. Nhà nước tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, góp phần tạo điều kiện để mọi người dân được tiếp cận nền giáo dục có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đối với lĩnh vực xã hội, hệ thống chính sách về giảm nghèo, an sinh xã hội, chăm sóc người có công, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật và các nhóm yếu thế tiếp tục được hoàn thiện và triển khai hiệu quả, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người và quyền công dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Chẳng hạn, trong 6 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt khoảng 96,91% dân số với hơn 99 triệu người tham gia8; đồng thời, độ bao phủ bảo hiểm xã hội đạt khoảng 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt khoảng 38,6% và bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt khoảng 6,5%9, góp phần củng cố hệ thống an sinh xã hội theo hướng bền vững.
Những kết quả đạt được cho thấy quyền dân chủ của Nhân dân không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật mà còn được hiện thực hóa thông qua các chính sách và chương trình phát triển cụ thể. Qua đó, quyền con người, quyền công dân ngày càng được bảo đảm đầy đủ hơn, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng cao, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Thứ tư, chuyển đổi số đang tạo ra những phương thức mới để thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Việc xây dựng chính phủ số, chính quyền số và phát triển các nền tảng số đã mở rộng khả năng tham gia của người dân vào quá trình quản trị quốc gia. Các cổng dịch vụ công trực tuyến, hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị trên môi trường điện tử, nền tảng lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và các ứng dụng tương tác giữa chính quyền với người dân không chỉ nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước mà còn tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Tiêu biểu, việc lấy ý kiến Nhân dân đối với Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thông qua ứng dụng VNeID đã đánh dấu bước tiến trong đổi mới phương thức thực hành dân chủ trên nền tảng số. Ứng dụng này cho phép người dân tham gia góp ý thuận tiện, mọi lúc, mọi nơi, đồng thời, bảo đảm tính minh bạch và an toàn thông tin. Qua đó, trí tuệ, tâm huyết và nguyện vọng của Nhân dân được tập hợp đầy đủ hơn, góp phần nâng cao chất lượng hoạch định chủ trương của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân và thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác dân vận.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn còn những hạn chế. Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: Ở một số nơi, nhận thức và thực hành về dân chủ, phát huy sức mạnh của Nhân dân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân còn hạn chế. Thực hành dân chủ ở cơ sở còn hình thức, quyền làm chủ của Nhân dân chưa hoàn toàn được tôn trọng và phát huy, trong một số lĩnh vực còn bị vi phạm. Hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế, tổ chức và các điều kiện để thực thi dân chủ, quyền làm chủ của Nhân dân chưa đồng bộ. Thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn nhiều hạn chế10; Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được cụ thể hoá đầy đủ, toàn diện; quyền làm chủ của Nhân dân, nhất là dân chủ ở cơ sở có lúc, có nơi còn bị vi phạm11. Vì vậy, để quyền làm chủ của Nhân dân thực sự được bảo đảm đầy đủ và thực chất, cần có các giải pháp đồng bộ cả về thể chế, tổ chức thực hiện và nâng cao nhận thức nhằm bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện đầy đủ, thực chất và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.
3. Một số giải pháp
Một là, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định liên quan đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của Nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa Hiến pháp, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 và các văn bản pháp luật có liên quan. Đồng thời, cần cụ thể hóa hơn nữa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nhất là các cơ chế để người dân tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước và đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan công quyền. Việc tiếp thu, phản hồi và giải trình đối với ý kiến, kiến nghị của Nhân dân cần trở thành yêu cầu bắt buộc trong hoạt động quản lý nhà nước, qua đó, bảo đảm dân chủ được thực hiện thực chất, tránh hình thức.
Hai là, nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền. Quyền làm chủ của Nhân dân chỉ được bảo đảm thực chất khi hoạt động của bộ máy nhà nước được vận hành minh bạch, chịu sự giám sát và kiểm soát. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động công vụ. Đồng thời, các cơ quan nhà nước cần thực hiện tốt việc công khai thông tin, minh bạch quy trình giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm giải trình và tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện vì lợi ích của Nhân dân.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, đạo đức công vụ và tinh thần phục vụ Nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức là nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả thực hiện dân chủ trong thực tiễn. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ theo hướng đề cao phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, năng lực thực tiễn và tinh thần trách nhiệm với Nhân dân. Đồng thời, xây dựng văn hóa công vụ lấy người dân làm trung tâm, gắn đánh giá cán bộ với kết quả thực hiện nhiệm vụ, mức độ hài lòng của người dân; kịp thời thay thế những cán bộ thiếu trách nhiệm, xa dân, gây phiền hà hoặc vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng các thiết chế dân chủ số nhằm mở rộng sự tham gia của Nhân dân. Chuyển đổi số mở ra phương thức mới để người dân tham gia vào quá trình quản trị quốc gia thông qua các nền tảng tương tác trực tuyến. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện các nền tảng như Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng VNeID, hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị và các công cụ lấy ý kiến Nhân dân đối với chính sách, pháp luật. Đồng thời, bảo đảm tính minh bạch, an toàn dữ liệu và khả năng tiếp cận bình đẳng của người dân trong môi trường số. Qua đó, chuyển đổi số không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần mở rộng không gian thực hiện dân chủ, tăng cường sự tham gia của Nhân dân vào quản trị quốc gia.
Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức xã hội trong giám sát, phản biện xã hội và tập hợp ý kiến Nhân dân. Các tổ chức này giữ vai trò quan trọng trong việc đại diện, tập hợp và phản ánh ý chí, nguyện vọng của Nhân dân với Đảng và Nhà nước. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động theo hướng gần dân, chủ động, hiệu quả; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong tuyên truyền, vận động, giám sát và phản biện xã hội. Đồng thời, nâng cao chất lượng giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật tại cơ sở, mở rộng các kênh tiếp nhận ý kiến của người dân và tạo điều kiện để các tổ chức xã hội tham gia đóng góp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách, qua đó tăng cường đồng thuận xã hội và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chú thích:
1, 2, 10, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 237 – 238; 96; 182 – 183; 183.
3. Kết thúc bầu cử, tỉ lệ cử tri cả nước tham gia bỏ phiếu đạt 99,68%. https://baochinhphu.vn/ket-thuc-bau-cu-ti-le-cu-tri-ca-nuoc-tham-gia-bo-phieu-dat-9968-102260316095119776.htm.
4. Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-bieu-chi-dao-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-trien-khai-cong-tac-bau-cu-dai-bieu-quoc-hoi-va-dai-bieu-hoi-dong-nhan-dan-cac-cap-119251115121606333.htm.
5. Hơn 2,5 triệu lượt ý kiến góp ý Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.https://vov.vn/chinh-tri/hon-25-trieu-luot-y-kien-gop-y-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-post1244317.vov
6. 527.764 ý kiến góp ý của Hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://mattran.org.vn/hoat-dong/527764-y-kien-gop-y-cua-he-thong-mat-tran-to-quoc-viet-nam-doi-voi-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-68070.html.
7. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân. https://dangbo.mae.gov.vn/bo-chinh-tri-ban-hanh-nghi-quyet-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-1506.htm
8. Chung tay thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân bền vững: Trụ cột trong chiến lược chăm sóc sức khỏe Nhân dân. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26725&CateID=169
9. Bảo hiểm xã hôi Việt Nam nỗ lực vượt khó, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong năm 2025. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?CateID=0&ItemID=25885



