Ho Chi Minh thought on cooperatives and its application in Vietnam in the new era
TS. Nguyễn Thị Kim Thoa
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã trong mối quan hệ với phát triển kinh tế – xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa khoa học chính trị, kinh tế học phát triển và lý thuyết vốn xã hội; đồng thời, nghiên cứu làm rõ bản chất, nguyên tắc tổ chức, vai trò lịch sử và giá trị đương đại của mô hình hợp tác xã cũng như đánh giá thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015 – 2025. Bài viết đề xuất các định hướng chính sách nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển hợp tác xã hiện đại, hướng tới mô hình phát triển bao trùm, bền vững và thích ứng với kỷ nguyên số.
Từ khóa: Hồ Chí Minh, hợp tác xã, kinh tế tập thể, vốn xã hội, chuyển đổi số.
Abstract: The article analyzes Ho Chi Minh thought on cooperatives in relation to socio-economic development and Vietnam’s path toward socialism. Adopting an interdisciplinary approach that integrates political science, development economics, and social capital theory, the study clarifies the nature, organizational principles, historical role, and contemporary significance of the cooperative model, while also evaluating the application of Ho Chi Minh thought to cooperative development during the 2015 – 2025 period. The article proposes policy directions to enhance the application of Ho Chi Minh thought in the development of modern cooperatives, to promote an inclusive, sustainable, and digitally adaptive development model.
Keywords: Ho Chi Minh thought; cooperatives; collective economy; social capital; digital transformation.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, hợp tác xã luôn giữ vai trò quan trọng trong khu vực kinh tế tập thể, là cầu nối giữa Nhà nước, thị trường và cộng đồng. Ngay từ những năm đầu của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò của hợp tác trong tổ chức sản xuất; đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún và phân tán. Trên cơ sở kế thừa các tư tưởng hợp tác của phong trào công nhân quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Người đã hình thành một hệ thống quan điểm về hợp tác xã mang tính toàn diện, gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khu vực hợp tác xã đang đứng trước cả cơ hội và thách thức mới. Theo báo cáo của Bộ Tài chính – cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia về kinh tế tập thể, đến năm 2025, cả nước có 35.041 hợp tác xã với gần 6 triệu thành viên và 164 liên hiệp hợp tác xã với hơn 1 triệu hợp tác xã thành viên. Chất lượng hoạt động của hợp tác xã tiếp tục được cải thiện, với 78,1% số hợp tác xã được xếp loại khá và tốt. Doanh thu bình quân đạt 4,56 tỷ đồng/hợp tác xã/năm, lợi nhuận bình quân đạt 421 triệu đồng/hợp tác xã/năm, tăng 34% so với năm 2020; thu nhập bình quân của lao động thường xuyên đạt khoảng 64 triệu đồng/người/năm, tăng gần 25% so với đầu kỳ. Theo mục tiêu phát triển đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có khoảng 45.000 hợp tác xã với 8 triệu thành viên; đồng thời, phát triển 5.000 hợp tác xã và 500 tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, gắn với truy xuất nguồn gốc sản phẩm (Bộ Tài chính, 2025).
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Không chỉ góp phần làm sáng tỏ giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với phát triển kinh tế tập thể, nghiên cứu còn đánh giá khả năng vận dụng các nguyên lý đó trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các định hướng nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của mô hình hợp tác xã trong giai đoạn mới.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã với các lý thuyết hiện đại về kinh tế hợp tác và vốn xã hội. Lý thuyết kinh tế hợp tác nhấn mạnh vai trò của sở hữu tập thể, quản trị dân chủ và sự tham gia của các thành viên trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã. . Trong khi đó, lý thuyết vốn xã hội của Putnam (1993) xem niềm tin, mạng lưới liên kết và các chuẩn mực hợp tác là những nguồn lực xã hội quan trọng, góp phần nâng cao năng lực hợp tác, giảm chi phí giao dịch và thúc đẩy phát triển bền vững. Việc kết hợp hai cách tiếp cận này cho phép phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã không chỉ từ góc độ tổ chức sản xuất mà còn từ phương diện quản trị cộng đồng và phát triển xã hội.
Về phương pháp nghiên cứu, bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp, bao gồm: các tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, báo cáo về kinh tế tập thể và các công trình nghiên cứu trong giai đoạn 2015 – 2025.
Bên cạnh đó, phương pháp lịch sử – logic được sử dụng để làm rõ quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã; đồng thời, đối chiếu với thực tiễn vận dụng trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay.
3. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trên cơ sở điều kiện lịch sử, kinh tế và xã hội của Việt Nam. Trong lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, hợp tác hóa được xem là một xu hướng phát triển khách quan của quan hệ sản xuất, gắn với quá trình xã hội hóa lao động và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Karl Marx và Friedrich Engels luận giải về sự cần thiết của tổ chức sản xuất theo hướng hợp tác trong điều kiện các quốc gia tư bản chủ nghĩa có nền sản xuất phát triển; trong khi V.I. Lênin đã bổ sung cách tiếp cận phù hợp với các nước có trình độ phát triển trung bình thông qua việc gắn hợp tác hóa với những điều kiện lịch sử – kinh tế cụ thể.
Kế thừa những luận điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam – một quốc gia nông nghiệp, nền sản xuất nhỏ giữ vai trò chủ yếu và lực lượng sản xuất còn thấp. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc đặc điểm lịch sử dân tộc, Người xác định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Trong lộ trình đó, nông nghiệp và nông thôn được xem là nền tảng, còn hợp tác xã là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp để từng bước cải tạo quan hệ sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao đời sống của Nhân dân (Hồ Chí Minh, 1946).
Tư tưởng về hợp tác xã của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được trình bày trong một tác phẩm riêng mà được hình thành và phát triển xuyên suốt qua nhiều bài viết, bài nói và thư gửi cán bộ, nông dân trong các giai đoạn khác nhau của cách mạng. Những quan điểm ban đầu được thể hiện trong các bài giảng tại Quảng Châu (1925 – 1927), sau đó được hệ thống hóa trong tác phẩm Đường Kách mệnh và tiếp tục được bổ sung trong quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Về mục đích xây dựng hợp tác xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt con người ở vị trí trung tâm. Người khẳng định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là: “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động” (Hồ Chí Minh, 1927, tr. 91). Trước đó, tiếp thu tinh thần của phong trào hợp tác quốc tế, Người cho rằng, hợp tác xã là phương thức xây dựng quan hệ đoàn kết và tương trợ giữa những người lao động, thay thế cạnh tranh bằng hợp tác trên cơ sở cùng làm, cùng hưởng. Theo Người, “cốt làm cho những người vô sản giai cấp hóa ra anh em… ai trồng cây thì được ăn trái, ai muốn ăn trái thì giùm vào trồng cây”, qua đó hạn chế sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và tạo nền tảng cho phát triển xã hội (Hồ Chí Minh, 1927, , tr. 90-91).
Quan điểm này tiếp tục được cụ thể hóa trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946 (nay là Ngày Hợp tác xã Việt Nam), khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định hợp tác xã nông nghiệp là “một tổ chức có lợi to cho nhà nông”, là “một cách tranh đấu kinh tế có hiệu quả nhất” để giúp nông dân đoàn kết, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống; đồng thời, góp phần xây dựng đất nước theo phương châm “ích quốc, lợi dân” (Hồ Chí Minh, 1926).
Về cơ sở xây dựng hợp tác xã, trong Đường Kách mệnh (1927, tr. 91), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng những hình ảnh gần gũi của văn hóa dân gian Việt Nam để lý giải bản chất của hợp tác. Người viết: “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó” và “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Lý luận hợp tác xã đều ở trong những điều ấy”. Người cũng ví hợp tác xã, như: việc “góp gạo thổi cơm chung”, giúp “khỏi hao của, tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ” (Hồ Chí Minh, 1927, tr. 91-92). Điều đó cho thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hợp tác không chỉ là một phương thức tổ chức sản xuất mà còn là nhu cầu tự nhiên của con người trong lao động và phát triển xã hội, tạo điều kiện để mỗi cá nhân vừa nâng cao đời sống của mình, vừa đóng góp vào lợi ích chung của cộng đồng.
Về các loại hình hợp tác xã. Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu đa dạng của người lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất bốn loại hình hợp tác xã, gồm: hợp tác xã tiền bạc, hợp tác xã mua, hợp tác xã bán và hợp tác xã sinh sản (sản xuất). Cách phân loại này cho thấy tư duy của Người không giới hạn hợp tác xã trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mà mở rộng sang các hoạt động tín dụng, lưu thông và tiêu thụ hàng hóa, qua đó hình thành một hệ thống liên kết kinh tế tương đối hoàn chỉnh (Hồ Chí Minh, 1927, tr. 92-97). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giá trị cốt lõi của hợp tác xã nằm ở sự kết hợp giữa “hợp vốn” và “hợp sức”, tạo điều kiện tập trung nguồn lực tài chính và sức lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất; đồng thời, giảm bớt gánh nặng cho từng hộ gia đình. Với tầm nhìn về một nền kinh tế tự chủ và tự cường, Người chủ trương từng bước xây dựng mạng lưới hợp tác xã rộng khắp từ nông thôn đến thành thị, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế tập thể.
Về tổ chức và nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã. Một điểm nổi bật trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự linh hoạt trong tổ chức hợp tác xã. Người cho rằng, việc thành lập và lựa chọn loại hình hợp tác xã phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn của từng địa phương, từng ngành nghề và nhu cầu của người dân, không áp dụng một mô hình thống nhất cho mọi địa bàn. Quan điểm này thể hiện rõ trong Thư gửi Đại hội hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền núi và trung du, khi Người nhấn mạnh tiềm năng riêng của khu vực miền núi về đất đai, rừng, đồng cỏ và chăn nuôi, từ đó, yêu cầu lựa chọn mô hình hợp tác phù hợp để khai thác hiệu quả các lợi thế sẵn có (Hồ Chí Minh, 1964).
Trên cơ sở thực tiễn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập năm nguyên tắc cơ bản trong xây dựng hợp tác xã, bao gồm: (1) Tự nguyện; (2) Tuần tự; (3) Bình đẳng, cùng có lợi; (4) Dân chủ; và (5) Có sự lãnh đạo, tổ chức. Trong đó, nguyên tắc tự nguyện được đặt lên hàng đầu, khẳng định hợp tác xã chỉ có thể phát triển bền vững khi xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của người lao động, không dựa trên bất kỳ hình thức ép buộc nào. Đồng thời, nguyên tắc tuần tự phản ánh tư duy phát triển thận trọng, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể, tránh nóng vội hoặc áp đặt trong quá trình tổ chức hợp tác xã (Hồ Chí Minh, 1964).
Một trong những đóng góp nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhìn nhận hợp tác xã như một tất yếu khách quan của quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Theo Người, hợp tác xã không phải là mô hình được áp đặt bằng ý chí chủ quan mà là kết quả của nhu cầu liên kết giữa những người lao động trong điều kiện sản xuất nhỏ và phân tán. Thông qua hợp tác, các hộ sản xuất có thể tập trung nguồn lực, nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu rủi ro và tạo ra sức mạnh tập thể để phát triển kinh tế.
Đáng chú ý, tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện cách tiếp cận toàn diện khi xem hợp tác xã vừa là một tổ chức kinh tế, vừa là một thiết chế xã hội. Trong mô hình này, lợi ích kinh tế luôn gắn với lợi ích cộng đồng, còn hiệu quả sản xuất phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Quan điểm đó có nhiều điểm tương đồng với các lý thuyết hiện đại về doanh nghiệp xã hội, kinh tế hợp tác và phát triển bao trùm, cho thấy giá trị bền vững và ý nghĩa thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với quá trình phát triển hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay.
4. Xây dựng, phát triển hợp tác xã theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Việc hình thành và phát triển mô hình hợp tác xã ở Việt Nam có thể được nhìn nhận như một quá trình lịch sử gắn liền với các giai đoạn cách mạng và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngay từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, những hình thức hợp tác đã xuất hiện trong đời sống kinh tế – xã hội của nhân dân. Đây là các mô hình liên kết tự nguyện, mang tính tương trợ, nhằm huy động nguồn lực trong điều kiện chiến tranh, đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành tư duy hợp tác trong sản xuất và đời sống.
Bước sang cuối những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ XX; đặc biệt, ở miền Bắc Việt Nam, hợp tác xã nông nghiệp được tổ chức và phát triển trên quy mô rộng. Đây là giai đoạn mô hình hợp tác xã được thể chế hóa và triển khai đồng bộ, trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Trong suốt một thời gian dài, phong trào hợp tác xã diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo nông dân tham gia, góp phần quan trọng vào việc huy động sức người, sức của cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho cách mạng miền Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp quan trọng, mô hình hợp tác xã thời kỳ này cũng từng bước bộc lộ nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tư duy chủ quan, nóng vội trong chỉ đạo và những biểu hiện duy ý chí trong tổ chức, vận hành. Việc áp dụng mô hình một cách cứng nhắc, chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn và nhu cầu của người lao động đã làm giảm động lực sản xuất, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hợp tác xã. Đến giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, mô hình hợp tác xã kiểu cũ rơi vào khủng hoảng toàn diện, nhiều hợp tác xã hoạt động mang tính hình thức và không còn phát huy được vai trò vốn có.
Công cuộc Đổi mới năm 1986 đã tạo ra bước chuyển căn bản trong quá trình phát triển khu vực kinh tế tập thể. Một dấu mốc quan trọng là việc thực hiện khoán hộ (Khoán 10), thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ. Sự thay đổi này đã làm chuyển biến vai trò của hợp tác xã nông nghiệp từ đơn vị sản xuất trực tiếp sang tổ chức hỗ trợ và cung ứng dịch vụ cho các hộ thành viên.
Dấu mốc thể chế quan trọng tiếp theo là Luật Hợp tác xã năm 1996, lần đầu tiên xác lập khuôn khổ pháp lý cho hợp tác xã trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật đã đánh dấu sự hình thành mô hình hợp tác xã kiểu mới, chuyển từ mô hình mang tính hành chính sang mô hình hoạt động theo cơ chế thị trường; đồng thời, khẳng định các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ và cùng có lợi, từng bước khắc phục những hạn chế của mô hình hợp tác xã trước đây.
Hiện nay, sau ba lần sửa đổi, Luật Hợp tác xã năm 2023 tiếp tục tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể theo hướng hiện đại và phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Nhiều hợp tác xã đã tham gia vào chuỗi giá trị nông sản, tăng cường liên kết với doanh nghiệp và mở rộng thị trường xuất khẩu. Đặc biệt, một số hợp tác xã đã ứng dụng công nghệ số trong quản lý, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao giá trị gia tăng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực hợp tác xã vẫn còn nhiều hạn chế. Theo khảo sát của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2023), khoảng 30% hợp tác xã có quy mô nhỏ, vốn dưới 1 tỷ đồng và phần lớn thiếu đội ngũ quản lý có trình độ chuyên môn. Ngoài ra, mức độ tham gia thực chất của xã viên ở một số hợp tác xã còn hạn chế, dẫn đến tình trạng hợp tác mang tính hình thức.
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, khi các động lực tăng trưởng ngày càng dựa trên chuyển đổi số, kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, khu vực hợp tác xã cũng đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ (Tạp chí Quản lý nhà nước, 2025). Đồng thời, hợp tác xã cần phát huy vai trò kết nối các hộ sản xuất, doanh nghiệp và thị trường, góp phần khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường, giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bao trùm, bền vững (Tạp chí Quản lý nhà nước, 2025).
Qua nghiên cứu cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã vẫn giữ nguyên giá trị trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt ở các nguyên tắc tổ chức và vai trò xã hội của hợp tác xã. Tuy nhiên, việc vận dụng tư tưởng của Người trong giai đoạn hiện nay cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và trao đổi trên phương diện học thuật.
Thứ nhất, tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa tính chuẩn tắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh và tính thực chứng trong thực tiễn tổ chức, vận hành hợp tác xã hiện nay. Nguyên tắc tự nguyện – được xem là trụ cột của mô hình hợp tác xã – trong nhiều trường hợp chưa được thực hiện đầy đủ, đặc biệt tại một số địa phương, nơi hợp tác xã vẫn còn mang dấu ấn của cơ chế hành chính hóa. Điều này dẫn đến một nghịch lý: mô hình được thiết kế nhằm tăng cường tính tự chủ của người dân lại có nguy cơ trở thành tổ chức phụ thuộc vào chính sách.
Thứ hai, tiếp cận từ góc độ lý thuyết vốn xã hội cho thấy nhiều hợp tác xã ở Việt Nam chưa tích lũy được đầy đủ các yếu tố cốt lõi, như: niềm tin, chuẩn mực và mạng lưới. Theo Putnam (1993), đây là những điều kiện nền tảng để các thiết chế hợp tác vận hành hiệu quả. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy sự liên kết giữa các xã viên còn tương đối lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng “hợp tác hình thức” hơn là “hợp tác thực chất”.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã được hình thành trong bối cảnh nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, vì vậy cần được tiếp tục diễn giải và vận dụng phù hợp trong điều kiện phát triển kinh tế số và toàn cầu hóa. Chẳng hạn, khái niệm “hợp vốn, hợp sức” hiện nay không chỉ giới hạn ở nguồn lực vật chất mà còn bao hàm dữ liệu, tri thức và công nghệ. Điều đó đặt ra yêu cầu mở rộng nội hàm lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng liên ngành, đáp ứng những yêu cầu mới của thực tiễn phát triển.
Thứ tư, một số nghiên cứu gần đây cho thấy hiệu quả hoạt động của hợp tác xã không chỉ phụ thuộc vào năng lực nội tại của tổ chức mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ môi trường thể chế và cơ chế thị trường. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng, nếu thiếu các cơ chế hỗ trợ phù hợp, hợp tác xã sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh với khu vực doanh nghiệp tư nhân. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong phát triển hợp tác xã, đặc biệt là xác định mức độ và phương thức hỗ trợ phù hợp để vừa tạo điều kiện cho hợp tác xã phát triển, vừa bảo đảm tính tự chủ và bản chất của mô hình kinh tế hợp tác.
Từ những phân tích trên cho thấy, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã không nằm ở việc vận dụng nguyên xi các quan điểm đã được hình thành trong một bối cảnh lịch sử cụ thể mà ở khả năng kế thừa và phát triển sáng tạo những giá trị cốt lõi của tư tưởng đó để phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước.
5. Giải pháp phát triển hợp tác xã trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, để hợp tác xã phát triển đúng mục tiêu và bản chất, cần bảo đảm sự lãnh đạo, định hướng của Đảng và sự quản lý của Nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp. Đồng thời, cần phát huy vai trò của hợp tác xã trong thực hiện các mục tiêu xã hội, như: giảm nghèo, phát triển nông thôn bền vững và bảo vệ môi trường. Đây chính là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về việc coi hợp tác xã là công cụ nâng cao đời sống Nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, định hướng đó có thể được cụ thể hóa thông qua việc phát triển các mô hình hợp tác xã xanh, hợp tác xã tuần hoàn, gắn với kinh tế sinh thái và trách nhiệm xã hội.
Thứ hai, thực hiện đúng nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi bằng cách tái cấu trúc mô hình hợp tác xã theo hướng lấy thành viên làm trung tâm. Mọi quyết sách của hợp tác xã cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của thành viên và được đánh giá trên cơ sở lợi ích mang lại, thay vì chỉ dựa vào các chỉ tiêu mang tính hình thức. Nhà nước không nên can thiệp bằng các biện pháp hành chính vào quá trình thành lập và hoạt động của hợp tác xã mà cần chuyển sang vai trò kiến tạo môi trường phát triển, bảo đảm tính minh bạch của thông tin và hỗ trợ các điều kiện ban đầu cho hợp tác xã. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao tính bền vững của khu vực kinh tế hợp tác.
Trong quá trình xây dựng hợp tác xã bền vững, nền tảng không chỉ nằm ở quy mô hay nguồn vốn mà còn ở niềm tin giữa các thành viên. Xuất phát từ một nhóm người có chung lợi ích, hợp tác xã chỉ có thể phát triển khi hình thành được môi trường hợp tác dựa trên sự minh bạch, trách nhiệm, công bằng và giao tiếp hiệu quả. Niềm tin chính là hạt nhân của vốn xã hội, giúp các thành viên sẵn sàng chia sẻ nguồn lực, giảm xung đột và tăng cường sự gắn kết. Khi niềm tin được củng cố, hợp tác xã không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn tạo dựng được nền tảng phát triển lâu dài dựa trên sự đồng thuận và cam kết của các thành viên.
Thứ ba, hài hòa lợi ích giữa cá nhân và tập thể trong hợp tác xã. Cần phát triển hợp tác xã theo mô hình liên kết chuỗi giá trị, trong đó mỗi thành viên không bị hòa tan mà được gia tăng giá trị thông qua hợp tác. Hợp tác xã cần trở thành nền tảng tổ chức giúp các hộ sản xuất nhỏ tham gia vào thị trường quy mô lớn thông qua các hoạt động, như: tiêu chuẩn hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu chung và đàm phán hợp đồng với doanh nghiệp.
Thứ tư, phát triển hợp tác xã cần bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, tránh tư tưởng nóng vội hoặc áp dụng một mô hình thống nhất cho mọi lĩnh vực và địa bàn. Các hợp tác xã hoạt động chưa hiệu quả cần được củng cố từng bước, trong khi những hợp tác xã có tiềm năng cần được ưu tiên đầu tư để trở thành hạt nhân phát triển. Chính sách phát triển hợp tác xã, vì vậy, cần có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải và được đánh giá trên cơ sở hiệu quả thực chất thay vì chỉ dựa vào số lượng. Đồng thời, cần thúc đẩy cơ chế liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà khoa học nhằm hình thành hệ sinh thái hợp tác, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, mỗi hợp tác xã cần quan tâm xây dựng và phát triển vốn xã hội thông qua việc hình thành hệ giá trị cốt lõi và mục tiêu phát triển chung, phù hợp với lợi ích của các thành viên. Điều này không chỉ góp phần định hướng hoạt động của hợp tác xã mà còn tăng cường sự gắn kết, trách nhiệm và cam kết của các thành viên đối với sự phát triển lâu dài của tổ chức.
Thứ năm, đổi mới bộ máy và phương thức quản trị hợp tác xã phù hợp với yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới. Trọng tâm là xây dựng đội ngũ quản lý có kiến thức về thị trường, tài chính và công nghệ; từng bước áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại; tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý, điều hành. Đồng thời, cần giữ gìn và phát huy văn hóa hợp tác, tinh thần tương trợ – những giá trị cốt lõi tạo nên bản sắc và sự khác biệt của hợp tác xã so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, cần thúc đẩy hình thành hợp tác xã số như một xu hướng phát triển tất yếu. Điều này, bao gồm: việc ứng dụng công nghệ trong quản lý thành viên, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, thương mại điện tử và kết nối thị trường. Tuy nhiên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, công nghệ chỉ là phương tiện, còn mục tiêu cuối cùng vẫn là nâng cao đời sống của người dân. Vì vậy, chuyển đổi số cần gắn với đào tạo và nâng cao năng lực số cho các thành viên, tránh tạo ra khoảng cách mới trong nội bộ hợp tác xã.
Thứ sáu, cần đổi mới nhận thức xã hội về hợp tác xã. Cần vượt qua những định kiến hình thành từ mô hình hợp tác xã kiểu cũ để khẳng định hợp tác xã kiểu mới là một mô hình kinh tế hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển bao trùm và bền vững. Công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo cần được quan tâm đúng mức nhằm tạo nền tảng nhận thức cho sự phát triển lâu dài của khu vực kinh tế tập thể. Qua đó, thúc đẩy sự tham gia tích cực của các thành viên, hình thành các chuẩn mực xã hội và văn hóa tổ chức, góp phần củng cố vốn xã hội và xây dựng môi trường hoạt động chuyên nghiệp, hiện đại.
6. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã không chỉ là di sản tư tưởng có giá trị lịch sử mà còn là cơ sở lý luận quan trọng cho phát triển kinh tế tập thể trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những quan điểm của Người về mục tiêu, nguyên tắc tổ chức, vai trò xã hội và phương thức hoạt động của hợp tác xã vẫn giữ nguyên giá trị định hướng đối với quá trình đổi mới và phát triển khu vực kinh tế tập thể hiện nay. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và yêu cầu phát triển bền vững, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cần được thực hiện theo hướng kế thừa và phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng mô hình hợp tác xã hiện đại, hoạt động hiệu quả, phát huy vai trò liên kết sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Tài chính. (2025). Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 – 2025 và định hướng Kế hoạch giai đoạn 2026 – 2030. https://mof.gov.vn/tin-tuc-tai-chinh/thoi-su/den-het-nam-2025-ca-nuoc-co-hon-35-nghin-hop-tac-xa.
Hồ Chí Minh. (1927). Đường Kách mệnh. Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 91-97.
Hồ Chí Minh. (1946). “Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam”. Báo Cứu quốc số 229 ngày 01/5/1946.
Hồ Chí Minh. (1964). Thư gửi Đại hội Hợp tác xã và Đội Sản xuất Nông nghiệp Tiên tiến Miền núi và Trung du. Báo Nhân Dân, số 3668, ngày 14/4/1964.
Nguyễn Văn Sơn. (2023). Phát triển kinh tế hợp tác xã trong bối cảnh mới. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 327 (4/2023), tr. 9–12. https://doi.org/10.59394/qlnn.327.2023.169
Thân Thị Thúy Mai và Nguyễn Thị Thu Hà (2025). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã trong bối cảnh mới. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/17/phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luoc-cao-cho-khu-vuc-kinh-te-tap-the-hop-tac-xa-trong-boi-canh-moi/
Putnam, R. D. (1993). Making Democracy Work: Civic Traditions in Modern Italy. Princeton University Press.



