Hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại ở Việt Nam: những vấn đề lý luận và thực tiễn mới

Institutional reform toward modern national governance in Vietnam: emerging theoretical and practical issues

TS. Ngô Thị Phương Liên
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại là yêu cầu cấp thiết nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trên cơ sở đánh giá bối cảnh phát triển mới, những kết quả đạt được và các vấn đề thực tiễn đặt ra, bài viết chỉ ra yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển và dựa trên bằng chứng, tăng cường cơ chế điều phối quốc gia, phân cấp gắn với kiểm soát quyền lực và nâng cao năng lực tổ chức thực thi.

Từ khóa: Hoàn thiện thể chế; quản trị quốc gia hiện đại; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quản trị số; phân cấp; phân quyền.

Abstract: Improving the institutional framework toward modern national governance is an urgent requirement for achieving the country’s development goals by 2030 and its vision for 2045. Based on an assessment of the new development context, the achievements made, and the practical challenges that have arisen, this article highlights the need to continue innovating the approach to institutional reform moving toward a development-oriented and evidence-based framework while strengthening national coordination mechanisms, promoting decentralization coupled with checks on power, and enhancing the capacity of implementing agencies.

Keywords: Institutional reform; modern national governance; socialist rule of law; digital governance; decentralization and devolution of authority.

1. Đặt vấn đề

Nền quản trị quốc gia hiện đại là mô hình tổ chức và vận hành quyền lực công theo hướng Nhà nước kiến tạo phát triển, điều phối hiệu quả quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội nhằm tạo lập giá trị công, thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Khác với mô hình quản lý hành chính truyền thống chủ yếu dựa trên mệnh lệnh và kiểm soát, quản trị quốc gia hiện đại chuyển trọng tâm sang điều phối, hợp tác và đồng kiến tạo giữa các chủ thể; đề cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, khả năng thích ứng và hiệu quả thực thi. Theo đó, chất lượng quản trị được đánh giá ở năng lực hoạch định chính sách, khả năng huy động nguồn lực, tổ chức thực thi, giải quyết hiệu quả các vấn đề phát triển và tạo dựng niềm tin xã hội (World Bank, 2017).

Hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại không chỉ là hoàn thiện “luật chơi” mà còn là đổi mới cơ chế vận hành và năng lực thực thi của toàn bộ hệ thống quản trị. Đây là nền tảng lý luận quan trọng để định hướng đổi mới thể chế ở Việt Nam theo hướng kiến tạo phát triển, thích ứng và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia trong giai đoạn mới.

2. Những vấn đề lý luận về hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại

2.1. Khái niệm, nội hàm của thể chế và hoàn thiện thể chế

Thể chế là một phạm trù được nghiên cứu trong khoa học chính trị, kinh tế học thể chế và quản trị công. Theo kinh tế học thể chế, thể chế là hệ thống các “luật chơi” do con người thiết lập nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong xã hội (North, 1990). Theo đó, thể chế bao gồm các quy tắc chính thức và phi chính thức cùng các cơ chế bảo đảm thực thi.

Trong quản trị quốc gia, thể chế là tổng thể các quy tắc, thiết chế và cơ chế tổ chức, phân bổ, thực thi quyền lực nhằm điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, tạo lập môi trường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Do đó, chất lượng thể chế không chỉ được phản ánh qua hệ thống pháp luật mà còn ở hiệu quả vận hành, năng lực điều phối và khả năng thích ứng của hệ thống quản trị. Từ góc độ này, hoàn thiện thể chế không chỉ là sửa đổi pháp luật mà là quá trình đổi mới đồng bộ các quy tắc, thiết chế và cơ chế vận hành nhằm nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Đối với Việt Nam, trọng tâm hoàn thiện thể chế cần chuyển từ cải cách pháp luật sang hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao năng lực thực thi; phát triển thể chế cho chuyển đổi số, quản trị dữ liệu, đổi mới sáng tạo và tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp trong quản trị quốc gia.

Xét theo phạm vi tác động, hoàn thiện thể chế gồm ba cấp độ: (1) Thể chế nền tảng, bao gồm các nguyên tắc tổ chức quyền lực, mô hình quản trị quốc gia và hệ thống pháp luật nền tảng. (2) Thể chế vận hành, bao gồm các cơ chế điều phối, phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực và tổ chức thực thi. (3) Thể chế thực thi, bao gồm tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ, cải cách hành chính, quản trị số, dữ liệu và cơ chế giám sát, đánh giá.

2.2. Nền quản trị quốc gia hiện đại và yêu cầu đặt ra đối với hoàn thiện thể chế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, kinh tế tri thức và những biến động ngày càng phức tạp của môi trường phát triển, nền quản trị quốc gia hiện đại được nhận diện bởi một số đặc trưng cơ bản.

Thứ nhất, quản trị dựa trên nền tảng pháp quyền và hệ thống thể chế chất lượng cao, bảo đảm pháp luật minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo và được thực thi thống nhất.

Thứ hai, quản trị theo định hướng kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, trong đó Nhà nước chuyển từ vai trò quản lý sang phục vụ, dẫn dắt và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phát triển.

Thứ ba, quản trị dựa trên cơ chế điều phối hiệu quả giữa các cấp, các ngành và các chủ thể nhằm xử lý những vấn đề liên ngành, liên vùng và liên cấp.

Thứ tư, quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo, coi dữ liệu là nguồn lực chiến lược để nâng cao chất lượng hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách.

Thứ năm, quản trị có khả năng thích ứng và học hỏi liên tục, bảo đảm hệ thống thể chế và bộ máy công quyền có đủ năng lực phản ứng trước những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh phát triển.

Các đặc trưng trên được vận hành theo nguyên tắc cốt lõi của quản trị hiện đại, gồm: thượng tôn pháp luật, bảo đảm mọi quyền lực được thực thi trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; minh bạch và trách nhiệm giải trình nhằm tăng cường công khai, kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể công quyền; sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong toàn bộ chu trình chính sách; quản trị dựa trên bằng chứng, dữ liệu và đánh giá tác động để nâng cao chất lượng quyết định công; đồng thời đề cao tính thích ứng, đổi mới và học hỏi liên tục nhằm bảo đảm năng lực ứng phó trước các thách thức và yêu cầu phát triển mới.

Những đặc trưng và nguyên tắc đó đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản đối với quá trình hoàn thiện thể chế ở Việt Nam. Trọng tâm là kiến tạo khuôn khổ thể chế cho một nền quản trị quốc gia hiện đại, bảo đảm sự thống nhất giữa thiết kế thể chế và năng lực tổ chức thực thi. Theo đó, cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển; hoàn thiện thể chế đồng bộ giữa pháp luật, tổ chức bộ máy và cơ chế thực thi; xây dựng cơ chế điều phối quốc gia hiệu quả, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; phát triển thể chế cho quản trị số, quản trị dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời nâng cao năng lực thích ứng của hệ thống thể chế trước các vấn đề mới và chưa có tiền lệ của quá trình phát triển. Đây vừa là yêu cầu tất yếu của tiến trình hiện đại hóa quản trị quốc gia, vừa là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại ở Việt Nam.

2.3. Khung phân tích hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại.

Một là, chuyển từ quản lý nhà nước sang quản trị quốc gia hiện đại. Đây là sự chuyển đổi từ mô hình quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên điều phối, hợp tác và đồng kiến tạo giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Trong mô hình này, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, điều phối nguồn lực và tạo lập môi trường phát triển. Vì vậy, chất lượng thể chế không chỉ được đánh giá qua tính hoàn thiện của pháp luật mà còn qua năng lực điều phối, khả năng thích ứng và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống quản trị.

Hai là, hoàn thiện thể chế. Hoàn thiện thể chế cần được xem xét trên bốn trụ cột cơ bản, gồm: (1) Thể chế nền tảng, quy định các nguyên tắc tổ chức quyền lực, hệ thống pháp luật và thiết chế bảo đảm thực thi. (2) Thể chế vận hành, bao gồm cơ chế điều phối, phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. (3) Thể chế phát triển, tạo lập môi trường thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. (4) Thể chế thực thi, bao gồm tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ, quản trị số và cơ chế giám sát, đánh giá thực thi chính sách. Bốn trụ cột có quan hệ hữu cơ, quyết định năng lực kiến tạo, vận hành và hiện thực hóa mục tiêu phát triển.

Ba là, mức độ hoàn thiện thể chế cần được đánh giá đồng thời trên chất lượng thiết kế và hiệu quả vận hành của hệ thống thể chế. Các tiêu chí cơ bản gồm: tính đồng bộ, thống nhất; tính minh bạch và trách nhiệm giải trình; hiệu lực, hiệu quả thực thi; năng lực điều phối và thích ứng; khả năng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển và mức độ lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm thông qua chất lượng dịch vụ công, sự tham gia xã hội và mức độ hài lòng đối với hoạt động của bộ máy nhà nước.

Quá trình hoàn thiện thể chế ở Việt Nam cần được đánh giá toàn diện từ thiết kế đến tổ chức thực thi; từ mức độ chuyển đổi sang quản trị quốc gia hiện đại đến năng lực điều phối, thích ứng và đổi mới của hệ thống quản trị. Đây là cơ sở lý luận để phân tích những vấn đề thực tiễn mới và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế đáp ứng yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại ở Việt Nam.

3. Hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại ở Việt Nam

3.1. Những kết quả đạt được

Những năm gần đây, quá trình hoàn thiện thể chế ở Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng cả về tư duy, thiết kế thể chế và tổ chức thực thi. Giai đoạn 2021–2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại. Nhiều chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật quan trọng đã được ban hành trên các lĩnh vực xây dựng pháp luật, tổ chức bộ máy nhà nước, chính quyền địa phương, phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.

Từ ngày 01/7/2026, 29 luật, khoảng 50 nghị định và 72 thông tư đồng thời có hiệu lực, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc đổi mới mô hình quản trị quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương và nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật. Đặc biệt, các văn bản như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025, cùng các luật quan trọng như Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị và năng lực điều phối quốc gia.

Những chuyển biến này không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn từng bước hình thành nền tảng của nền quản trị quốc gia hiện đại theo hướng kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực điều phối quốc gia.

Thứ nhất, tư duy xây dựng và hoàn thiện thể chế đã chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển. Thể chế ngày càng được xác định là nguồn lực và động lực phát triển; việc xây dựng pháp luật hướng tới đồng bộ, minh bạch, ổn định và thích ứng với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Thứ hai, cải cách tổ chức bộ máy và tổ chức thực thi tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đổi mới phương thức quản trị trên nền tảng số đã nâng cao tính chủ động của chính quyền cơ sở và năng lực thực thi chính sách (Chính phủ, 2025).

Thứ ba, phân cấp, phân quyền tiếp tục được mở rộng theo hướng tăng quyền chủ động cho địa phương gắn với trách nhiệm giải trình, từng bước chuyển từ quản lý tập trung sang quản trị dựa trên phân quyền.

Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính đạt nhiều kết quả tích cực thông qua đơn giản hóa, số hóa thủ tục, mở rộng dịch vụ công trực tuyến và cơ chế một cửa, góp phần giảm chi phí tuân thủ, nâng cao chất lượng phục vụ và lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hoạt động của bộ máy hành chính.

Thứ năm, xây dựng Chính phủ số, chính quyền số và quản trị số có bước phát triển quan trọng. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, định danh điện tử và nền tảng chia sẻ dữ liệu từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng cho quản trị dựa trên dữ liệu và nâng cao chất lượng hoạch định, điều hành chính sách.

Thứ sáu, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện thông qua hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mở rộng quyền tự do kinh doanh, giảm rào cản đầu tư và tăng cường bảo đảm quyền tài sản, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ bảy, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực được tăng cường thông qua hoàn thiện cơ chế giám sát, mở rộng công khai, minh bạch và ứng dụng công nghệ số, qua đó từng bước củng cố niềm tin của người dân đối với hoạt động quản trị quốc gia (OECD, 2023).

Nhìn chung, quá trình hoàn thiện thể chế ở Việt Nam đã có bước chuyển từ hoàn thiện các quy định quản lý sang xây dựng nền tảng cho quản trị quốc gia hiện đại. Tuy nhiên, những kết quả đạt được mới là tiền đề; chất lượng thể chế, năng lực điều phối, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng của hệ thống quản trị cần tiếp tục được nâng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

3.2. Những vấn đề đặt ra

Mặc dù quá trình hoàn thiện thể chế ở Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng, bối cảnh phát triển mới đang đặt ra những yêu cầu vượt ra ngoài khuôn khổ cải cách thể chế truyền thống.

Một, quá trình chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị quốc gia hiện đại còn chưa đồng bộ. Ở nhiều lĩnh vực vẫn nặng tư duy quản lý hành chính, tiền kiểm và kiểm soát bằng thủ tục, làm hạn chế việc hình thành mô hình quản trị dựa trên minh bạch, hậu kiểm và kết quả (OECD, 2023).

Hai, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra khoảng trống về cơ chế điều phối. Nhiều vấn đề liên xã, liên ngành và liên vùng chưa có thiết chế điều phối phù hợp, đòi hỏi hoàn thiện cơ chế điều phối quốc gia nhằm bảo đảm thống nhất quản trị và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.

Ba, chuyển đổi số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế quản trị số. Khuôn khổ pháp lý về quản trị dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm pháp lý vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ.

Bốn, phân quyền, phân cấp chưa gắn kết chặt chẽ với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và bảo đảm nguồn lực thực thi, dẫn đến tình trạng đùn đẩy hoặc né tránh trách nhiệm ở một số lĩnh vực.

Năm, khoảng cách giữa ban hành thể chế và tổ chức thực thi vẫn là điểm nghẽn của quản trị quốc gia. Nhiều chính sách chậm đi vào cuộc sống do thiếu cơ chế phối hợp, nguồn lực và hệ thống theo dõi, đánh giá dựa trên dữ liệu (World Bank, 2017).

Sáu, yêu cầu nâng cao năng lực thích ứng và phản ứng chính sách ngày càng cấp thiết trước tác động của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, biến đổi khí hậu và các rủi ro phi truyền thống, trong khi các cơ chế thử nghiệm và điều chỉnh chính sách còn chưa được áp dụng rộng rãi (World Economic Forum, 2018).

Bảy, sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong quản trị quốc gia vẫn chưa thực sự hiệu quả; hoạt động tham vấn còn hình thức và chưa bao quát toàn bộ chu trình chính sách như yêu cầu của quản trị hiện đại (United Nations Development Programme, 1997).

Tổng thể, những vấn đề trên cho thấy, yêu cầu hoàn thiện thể chế ở Việt Nam đã chuyển từ khắc phục các bất cập của pháp luật sang xây dựng hệ thống thể chế có năng lực điều phối quốc gia, quản trị dựa trên dữ liệu, thích ứng với rủi ro, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát huy sự tham gia của toàn xã hội. Đây là cơ sở thực tiễn trực tiếp để đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại trong giai đoạn phát triển mới.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, đổi mới tư duy hoàn thiện thể chế theo định hướng quản trị quốc gia hiện đại.

Hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại trước hết đòi hỏi đổi mới tư duy phát triển và tư duy quản trị. Trong bối cảnh các vấn đề phát triển ngày càng phức tạp, trọng tâm không còn là hoàn thiện các công cụ quản lý hành chính mà là kiến tạo hệ thống thể chế có năng lực điều phối, quản trị dựa trên bằng chứng và thích ứng với những thay đổi của môi trường phát triển.

Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị quốc gia hiện đại. Thể chế cần chuyển từ kiểm soát sang kiến tạo; từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang điều phối và hợp tác; từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả và giá trị công. Theo đó, Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn giữ vai trò kiến tạo thể chế, điều phối nguồn lực và tạo môi trường để thị trường, doanh nghiệp và xã hội cùng tham gia giải quyết các vấn đề phát triển. Việc xây dựng pháp luật cũng cần chuyển từ tư duy “quản lý để kiểm soát” sang “quản trị để phát triển”, vừa bảo đảm kỷ cương, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Lấy hiệu quả phát triển và giá trị công làm thước đo của quá trình hoàn thiện thể chế. Chất lượng thể chế cần được đánh giá bằng hiệu quả phát triển, chất lượng dịch vụ công, năng lực cạnh tranh và niềm tin xã hội thay vì chủ yếu dựa trên số lượng văn bản pháp luật. Vì vậy, cần nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách, tăng cường sử dụng dữ liệu và bằng chứng, thường xuyên rà soát, điều chỉnh quy định chưa phù hợp và mở rộng cơ chế thử nghiệm chính sách đối với các lĩnh vực mới.

Lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình hoàn thiện thể chế. Việc xây dựng thể chế phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Đồng thời, cần mở rộng tham vấn, tăng cường tiếp nhận phản hồi trong toàn bộ chu trình chính sách và phát triển dịch vụ công số lấy trải nghiệm của người sử dụng làm tiêu chí đánh giá.

Thứ hai, hoàn thiện thiết kế thể chế theo hướng kiến tạo phát triển, thích ứng và dựa trên bằng chứng.

Hoàn thiện thể chế trong giai đoạn mới không chỉ là sửa đổi pháp luật mà phải chuyển sang thiết kế hệ thống thể chế theo hướng kiến tạo phát triển, thích ứng và dựa trên dữ liệu, bằng chứng cùng phản hồi từ thực tiễn. Thể chế hiện đại không chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội mà còn tạo động lực phát triển, nâng cao năng lực điều phối và thích ứng trước những biến động mới.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất và lấy hiệu quả thực thi làm trọng tâm. Trọng tâm cần chuyển từ tăng số lượng văn bản sang nâng cao chất lượng thiết kế thể chế, khắc phục chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất, khả thi và liên thông của hệ thống pháp luật. Đồng thời, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật trên cơ sở nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách, phân tích chi phí – lợi ích và tăng cường cơ chế rà soát, điều chỉnh các quy định không còn phù hợp.

Thiết kế thể chế theo hướng linh hoạt và thích ứng. Trước tác động của chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và các rủi ro mới, cần xây dựng thể chế có khả năng phản ứng chính sách nhanh, mở rộng cơ chế thử nghiệm chính sách, đồng thời ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong dự báo, nhận diện rủi ro và hỗ trợ ra quyết định.

Thiết kế thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cần chuyển từ tư duy “quản lý công nghệ” sang “kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”, ưu tiên hoàn thiện thể chế về quản trị dữ liệu, hạ tầng số, giao dịch điện tử, trí tuệ nhân tạo và các mô hình kinh doanh mới; đồng thời khuyến khích nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, chia sẻ dữ liệu và phát triển kinh tế số gắn với bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền riêng tư.

Tổng thể, hoàn thiện thiết kế thể chế cần chuyển từ “hoàn thiện quy định pháp luật” sang “kiến tạo hệ thống thể chế”, bảo đảm tính đồng bộ, thích ứng, vận hành dựa trên dữ liệu và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng để nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế điều phối quốc gia, phân quyền và kiểm soát quyền lực.

Trong bối cảnh các vấn đề phát triển ngày càng mang tính liên ngành, liên vùng và liên cấp, hoàn thiện thể chế cần chuyển từ tư duy phân định thẩm quyền quản lý sang kiến tạo cơ chế điều phối quốc gia, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và năng lực xử lý các vấn đề mới phát sinh. Đây là nền tảng của nền quản trị quốc gia hiện đại, bảo đảm thống nhất quản trị; đồng thời phát huy tính chủ động của các cấp, các ngành và địa phương.

Hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng và liên cấp theo hướng nâng cao năng lực điều phối quốc gia. Cần xây dựng các thiết chế điều phối ổn định, xác định rõ trách nhiệm và cơ chế phối hợp; đồng thời sớm hình thành cơ chế điều phối các vấn đề liên xã, liên địa phương trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với chia sẻ dữ liệu và nền tảng điều hành thống nhất. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền theo hướng thực chất và gắn với năng lực thực thi. Phân quyền phải đi đôi với phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, phân bổ đầy đủ nguồn lực và chuyển mạnh sang quản trị theo kết quả thay cho quản lý chủ yếu dựa trên quy trình.

Tăng cường trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực trong toàn bộ hệ thống quản trị. Cần đẩy mạnh công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra theo kết quả thực thi và phát huy giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và người dân thông qua nền tảng số.

Hoàn thiện cơ chế xử lý các vấn đề mới chưa được pháp luật dự liệu. Cần xây dựng cơ chế thể chế linh hoạt, tăng cường rà soát, cập nhật chính sách và mở rộng áp dụng các cơ chế thử nghiệm nhằm nâng cao năng lực phản ứng và thích ứng của hệ thống quản trị trước các biến động phát triển.

Tổng thể, hoàn thiện cơ chế điều phối quốc gia, phân quyền và kiểm soát quyền lực phải hướng tới xây dựng hệ thống quản trị thống nhất, linh hoạt và phản ứng nhanh; khắc phục cục bộ ngành, cục bộ địa phương, bảo đảm quyền lực được thực thi đúng thẩm quyền, gắn với trách nhiệm giải trình và phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia. Đây là một trụ cột quan trọng của quá trình hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại ở Việt Nam.

Thứ tư, nâng cao năng lực tổ chức thực thi và bảo đảm thực thi thể chế.

Trong nền quản trị quốc gia hiện đại, chất lượng thể chế không chỉ phụ thuộc vào thiết kế pháp luật mà còn được quyết định bởi năng lực tổ chức thực thi. Vì vậy, nâng cao năng lực thực thi phải trở thành khâu đột phá nhằm bảo đảm thể chế được vận hành hiệu quả, tạo giá trị công và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại. Cần xây dựng đội ngũ có tư duy quản trị, năng lực điều phối, phân tích chính sách, khai thác dữ liệu và thích ứng với môi trường số; đồng thời đổi mới tuyển dụng, đào tạo, đánh giá theo năng lực, kết quả và giá trị công, gắn với cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Đổi mới tổ chức thực thi chính sách theo hướng quản trị dựa trên kết quả và tăng cường phối hợp. Quá trình thực thi cần được quản trị theo toàn bộ chu trình chính sách, chuyển từ quản lý quy trình sang quản trị theo mục tiêu và kết quả; đồng thời xác định rõ trách nhiệm, tăng cường phối hợp liên ngành, liên cấp để khắc phục chồng chéo và đùn đẩy trách nhiệm.

Đẩy mạnh quản trị số và quản trị dữ liệu trong tổ chức thực thi. Cần hoàn thiện hạ tầng số, xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công, từng bước chuyển sang quản trị dựa trên dữ liệu và theo thời gian thực.

Tăng cường giám sát, đánh giá và phản hồi chính sách. Cần thiết lập cơ chế theo dõi toàn bộ vòng đời chính sách, xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá kết quả thực thi, tăng cường thu thập dữ liệu, phản hồi từ thực tiễn và đổi mới thanh tra, kiểm tra theo hướng kết hợp kiểm soát tuân thủ với đánh giá hiệu quả chính sách.

Phát huy sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội trong xây dựng và thực thi thể chế. Cần mở rộng cơ chế tham vấn, phản biện và đối thoại chính sách; tăng cường công khai, minh bạch, đa dạng hóa các kênh phản ánh trên nền tảng số nhằm nâng cao đồng thuận xã hội và tính chính danh của các quyết sách công.

Nâng cao năng lực tổ chức thực thi là điều kiện quyết định để chuyển hóa thể chế thành kết quả phát triển. Chỉ khi năng lực thực thi được nâng cao đồng bộ với chất lượng thiết kế thể chế và cơ chế quản trị, thể chế mới thực sự trở thành động lực của phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại ở Việt Nam.

4. Kết luận

Hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại là yêu cầu khách quan để nâng cao năng lực quản trị quốc gia, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững ở Việt Nam. Quá trình này không chỉ là sửa đổi pháp luật mà phải đổi mới đồng bộ tư duy quản trị, thiết kế thể chế, cơ chế vận hành và năng lực tổ chức thực thi nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và các vấn đề quản trị ngày càng phức tạp.

Hoàn thiện thể chế hướng tới nền quản trị quốc gia hiện đại phải được triển khai đồng bộ từ đổi mới tư duy, thiết kế thể chế, hoàn thiện cơ chế điều phối đến nâng cao năng lực thực thi. Chỉ khi các yếu tố này được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất, thể chế mới thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và phát triển bền vững ở Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 268/NQ-CP ngày 31/8/2025 về tình hình triển khai thực hiện và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
OECD (2023). Government at a Glance 2023. Paris: OECD Publishing.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
United Nations Development Program (UNDP) (1997). Governance for Sustainable Human Development. New York: UNDP.
World Bank (2017). World Development Report 2017: Governance and the Law. Washington, DC: World Bank.
World Economic Forum (2018). Agile Governance: Reimagining Policy-making in the Fourth Industrial Revolution. Geneva: World Economic Forum.