Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

High-Qality Human resource development in Da Nang City in the context of the Fourth Industrial Revolution

NCS. Nguyễn Thị Hồng Hiền
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong phương thức sản xuất, quản trị, cung ứng dịch vụ và tổ chức thị trường lao động. Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh, hiệu quả quản trị và khả năng phát triển nhanh, bền vững của mỗi địa phương. Thành phố Đà Nẵng là một trong những địa phương đi đầu trong xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, đô thị thông minh và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đã đạt được kết quả tích cực trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nguồn nhân lực của thành phố vẫn còn một số hạn chế về kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo của các ngành công nghệ cao. Vì vậy, bài viết phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Đà Nẵng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; nguồn nhân lực chất lượng cao; thành phố Đà Nẵng; chuyển đổi số; kinh tế số.

Abstract: The Fourth Industrial Revolution is bringing about profound changes in production methods, governance, service delivery, and labor market organization. In this context, human resources have become a decisive factor in enhancing competitiveness, improving governance effectiveness, and promoting rapid and sustainable local development. Da Nang City, as one of Vietnam’s leading localities in developing digital government, the digital economy, smart cities, and an innovation ecosystem, has achieved significant progress in human resource development, particularly in high-quality human resources. However, to meet the emerging demands of the Fourth Industrial Revolution, the city still faces limitations in digital skills, innovation capacity, and the supply of highly skilled workers for high-tech industries. This article analyzes the current state of high-quality human resource development in Da Nang City and proposes several solutions to improve the quality of human resources, thereby meeting the requirements of digital transformation, digital economic development, and international integration in the new development stage.

Keywords: Fourth Industrial Revolution; high-quality human resources; Da Nang City; digital transformation; digital economy.

1. Đặt vấn đề

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong phương thức sản xuất, quản trị và cung ứng dịch vụ; đồng thời, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trên phạm vi toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ số không chỉ làm thay đổi mô hình tăng trưởng mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao có năng lực số và khả năng đổi mới sáng tạo, trở thành yếu tố quan trọng đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, địa phương.

Ở Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực được xác định là một trong những đột phá chiến lược nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những giải pháp then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc cách mạng này. Tiếp đó, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã tạo cơ sở để các địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số.

Những năm qua, thành phố đã đạt nhiều kết quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đổi mới giáo dục và đào tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao, phát triển nhân lực số và cải thiện chất lượng thị trường lao động. Tuy nhiên, nguồn nhân lực của thành phố vẫn còn một số hạn chế về chất lượng, kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu của các ngành, lĩnh vực công nghệ cao. Từ đó, bài viết làm rõ những kết quả đạt được và nêu ra những hạn chế cần khắc phục, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Đà Nẵng

2.1. Quy mô và tiềm năng phát triển nguồn nhân lực

Thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố Đà Nẵng được hợp nhất với tỉnh Quảng Nam, tạo bước phát triển mới về không gian, quy mô dân số và nguồn nhân lực. Với diện tích tự nhiên 11.859,59 km2 và dân số 3.065.628 người1, Đà Nẵng trở thành một trong những địa phương có quy mô lớn của cả nước, đồng thời là trung tâm phát triển của khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Trên cơ sở đó, việc mở rộng địa giới hành chính không chỉ gia tăng quy mô nguồn nhân lực mà còn mở rộng thị trường lao động, tạo điều kiện kết nối nguồn lao động giữa khu vực đô thị, công nghiệp, dịch vụ với khu vực nông thôn, miền núi và ven biển, qua đó, tạo dư địa thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Năm 2025, GRDP của thành phố tăng 9,18%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 316,1 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 2,5% GDP cả nước2. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát triển dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế tri thức, làm gia tăng nhu cầu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Hiện nay, thành phố Đà Nẵng hiện có gần 61.000 doanh nghiệp, chi nhánh và địa điểm kinh doanh đang hoạt động; trong đó hơn 97% là doanh nghiệp nhỏ và vừa3. Đây là lực lượng quan trọng tạo việc làm, đóng góp ngân sách và thúc đẩy tăng trưởng của thành phố. Bên cạnh đó, có khoảng 2,35 doanh nghiệp công nghệ số/1.000 dân, gần gấp ba lần mức trung bình cả nước4. Đây là nền tảng quan trọng để thu hút, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, logistics, thương mại, du lịch và dịch vụ hiện đại.

Tuy nhiên, lợi thế về quy mô sau hợp nhất cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm phân bổ hợp lý giữa các khu vực, khai thác hiệu quả tiềm năng lao động và đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số.

2.2. Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực của thành phố từng bước được nâng cao thông qua phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực không chỉ được đánh giá ở trình độ chuyên môn mà còn ở năng lực số, ngoại ngữ, khả năng đổi mới sáng tạo và thích ứng với môi trường làm việc số. Theo đó, những năng lực cốt lõi quyết định khả năng tham gia của người lao động vào các lĩnh vực mới, như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (BigData), điện toán đám mây (Cloud Computing), tự động hóa và vi mạch bán dẫn. Trên cơ sở đó, thành phố xác định phát triển nhân lực công nghệ số là nhiệm vụ trọng tâm với mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 115.000 nhân lực5. Đây chính là cơ sở quan trọng để hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển đổi số và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.

Bên cạnh nguồn nhân lực công nghệ số, ngành Du lịch hiện có khoảng 80.000 lao động trực tiếp, trong đó khoảng 70% đã qua đào tạo6. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển du lịch thông minh và dịch vụ chất lượng cao đòi hỏi lực lượng lao động tiếp tục được nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng số và năng lực quản trị hiện đại.

Đối với ngành công nghiệp bán dẫn, hiện thành phố có khoảng 10 doanh nghiệp thiết kế vi mạch, như: Synopsys, FPT, Viettel, Savarti, Renesas, Synapse… với khoảng 550 kỹ sư được đào tạo từ các trường đại học. So với tương quan tổng thể nguồn nhân lực vi mạch, bán dẫn của Việt Nam, nguồn nhân lực thiết kế vi mạch của thành phố chiếm gần 10%. Đồng thời, Đà Nẵng xác định mục tiêu đến năm 2030 đào tạo, phát triển ít nhất 5.000 kỹ sư thuộc lĩnh vực vi mạch, bán dẫn. Trong đó, 2.000 kỹ sư thuộc lĩnh vực thiết kế và 3.000 kỹ sư, kỹ thuật viên thuộc lĩnh vực đóng gói7.

Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực của thành phố Đà Nẵng đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ số, du lịch và vi mạch bán dẫn. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thành phố vẫn cần tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển kỹ năng số, đổi mới sáng tạo nhằm hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học – công nghệ.

 2.3. Cơ cấu nguồn nhân lực

Cơ cấu nguồn nhân lực của thành phố Đà Nẵng đang chuyển dịch theo hướng phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Sự chuyển dịch này được thể hiện ở xu hướng gia tăng lao động trong khu vực dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao và các ngành kinh tế dựa trên tri thức; đồng thời, giảm dần lao động trong các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng thấp. Đây chính là xu hướng phù hợp với định hướng phát triển Đà Nẵng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhu cầu về nguồn nhân lực cũng có sự thay đổi rõ nét. Nếu trước đây thị trường lao động chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất và dịch vụ truyền thống thì hiện nay nhu cầu đối với lao động có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng số, năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với công nghệ mới ngày càng gia tăng. Điều này đòi hỏi, cơ cấu đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phải được điều chỉnh theo hướng đáp ứng nhu cầu của các ngành, lĩnh vực có hàm lượng tri thức và công nghệ cao.

Bên cạnh chuyển dịch theo ngành nghề, cơ cấu nguồn nhân lực cũng cần được điều chỉnh theo hướng phân bổ hợp lý giữa các khu vực và lĩnh vực phát triển. Việc khai thác hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, kinh tế biển, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo không chỉ góp phần nâng cao năng suất lao động mà còn tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.

Mặc dù cơ cấu nguồn nhân lực đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, song quá trình chuyển dịch vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế mới. Vì vậy, đặt ra yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại nguồn nhân lực gắn với đổi mới giáo dục, đào tạo và phát triển kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Bên cạnh kết quả đạt được, phát triển nguồn nhân lực tại thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư vẫn còn một số hạn chế.

Thứ nhất, quy mô nguồn nhân lực được mở rộng sau hợp nhất nhưng chất lượng và cơ cấu lao động giữa các khu vực chưa đồng đều; khoảng cách giữa nhu cầu nhân lực của các ngành công nghệ cao với khả năng cung ứng của thị trường lao động vẫn còn khá lớn.

Thứ hai, năng lực số, ngoại ngữ, kỹ năng đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với công nghệ mới của một bộ phận người lao động còn hạn chế; nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực bán dẫn, AI, BigData và tự động hóa chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

Thứ ba, sự liên kết giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả. Một số chương trình đào tạo chưa theo kịp tốc độ thay đổi của công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, tự động hóa và kinh tế số.

Thứ tư, cơ chế thu hút, sử dụng và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao chưa tạo được lợi thế cạnh tranh so với một số địa phương có điều kiện phát triển tương đồng, ảnh hưởng đến việc hình thành đội ngũ chuyên gia phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn.

3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Một là, hoàn thiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với định hướng phát triển kinh tế số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Trên cơ sở quy hoạch phát triển, thành phố cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm đồng bộ với định hướng xây dựng thành phố. Đồng thời, chiến lược cần được xây dựng trên cơ sở dự báo nhu cầu nhân lực theo từng ngành, lĩnh vực và từng giai đoạn phát triển; xác định rõ các ngành ưu tiên để có kế hoạch đào tạo, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.

Cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin thị trường lao động thống nhất, kết nối với dữ liệu về giáo dục, việc làm và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng dự báo cung – cầu lao động, phục vụ công tác hoạch định chính sách và điều chỉnh quy mô, cơ cấu đào tạo. Bên cạnh đó, phát triển thị trường lao động theo hướng hiện đại, minh bạch, tăng cường kết nối giữa cung và cầu lao động thông qua các nền tảng số và sàn giao dịch việc làm, góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao.

Hai là, đổi mới cơ chế thu hút, sử dụng và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt về nguồn nhân lực giữa các địa phương và giữa khu vực công với khu vực tư, Đà Nẵng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân tài theo hướng cạnh tranh, minh bạch và tạo động lực phát triển lâu dài. Bên cạnh chính sách đãi ngộ phù hợp, chú trọng xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiện đại, khuyến khích sáng tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; đồng thời, quan tâm đến các chính sách hỗ trợ về nhà ở, điều kiện sinh hoạt, cơ hội phát triển nghề nghiệp và thăng tiến đối với đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư và lao động trình độ cao.

Song song với đó, tiếp tục mở rộng các hình thức hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia vào các chương trình, dự án trọng điểm, góp phần nâng cao năng lực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố.

Ba là, đổi mới giáo dục, đào tạo và phát triển kỹ năng đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi nhanh chóng yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực, đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải chuyển từ tiếp cận theo nội dung sang phát triển năng lực, lấy nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp làm cơ sở xây dựng chương trình đào tạo. Theo đó, các cơ sở đào tạo cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp và mô hình đào tạo theo hướng tăng tính thực hành và ứng dụng công nghệ; đồng thời, đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp trong xây dựng chuẩn đầu ra, tổ chức thực tập, thực hành và đào tạo theo đơn đặt hàng. Ưu tiên phát triển các ngành đào tạo phục vụ trực tiếp cho các lĩnh vực mà thành phố có lợi thế và định hướng phát triển, như: AI, vi mạch bán dẫn, khoa học dữ liệu, an ninh mạng, tự động hóa, logistics và kinh tế số.

Đồng thời, mở rộng các chương trình đào tạo lại (reskilling), nâng cao kỹ năng (upskilling) và học tập suốt đời cho lực lượng lao động đang làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và chuyển dịch cơ cấu việc làm. Đây là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gia tăng năng suất lao động và tạo nền tảng cho thành phố Đà Nẵng phát triển trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ và kinh tế số của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

Bốn là, tăng cường liên kết giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ không chỉ của các cơ sở đào tạo mà cần có sự tham gia của chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu. Do đó, thành phố cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể trong dự báo nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập và tuyển dụng lao động.

Đối với các lĩnh vực công nghệ cao, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo thông qua việc đặt hàng đào tạo, hỗ trợ học bổng, đầu tư phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và tạo điều kiện để sinh viên, học viên được tham gia các dự án thực tiễn ngay trong quá trình học tập. Đồng thời, phát huy vai trò của Đại học Đà Nẵng, các trường đại học, viện nghiên cứu, khu công nghệ cao, khu công viên phần mềm và các doanh nghiệp công nghệ trong hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Bên cạnh đó, tăng cường thúc đẩy hợp tác quốc tế trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; mở rộng liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp nước ngoài nhằm tiếp cận công nghệ tiên tiến, phương pháp đào tạo hiện đại và chuẩn kỹ năng quốc tế.

Năm là, thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong bối cảnh khoa học – công nghệ và mô hình sản xuất liên tục thay đổi, học tập suốt đời trở thành yêu cầu tất yếu để người lao động duy trì và nâng cao năng lực nghề nghiệp. Theo đó, thành phố cần xây dựng cơ chế khuyến khích học tập thường xuyên, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động thông qua các chương trình đào tạo linh hoạt, các khóa bồi dưỡng ngắn hạn và nền tảng học tập số, tạo điều kiện để người lao động cập nhật kiến thức, kỹ năng mới và thích ứng với sự thay đổi của thị trường lao động.

Cùng với đó, cần xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong các cơ quan, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo; khuyến khích nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đồng thời, tạo môi trường để đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân và người lao động chủ động học tập, chia sẻ tri thức và hợp tác nghiên cứu, qua đó hình thành nguồn nhân lực có tư duy đổi mới, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh mới.

4. Kết luận

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra những yêu cầu mới đối với chất lượng nguồn nhân lực, coi đây là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của mỗi địa phương. Đối với thành phố Đà Nẵng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo mà còn là điều kiện quan trọng để phát huy tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng quản trị địa phương.

Thời gian qua, thành phố đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thể hiện ở quy mô nguồn nhân lực ngày càng được mở rộng, chất lượng đào tạo từng bước được nâng cao và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng phù hợp với định hướng phát triển kinh tế số và các ngành công nghệ cao. Bên cạnh những kết quả đạt được, nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố vẫn cần tiếp tục được nâng cao cả về chất lượng, cơ cấu và khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế mới; tăng cường sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động.

Chính vì vậy, thành phố cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng môi trường thuận lợi, thúc đẩy phát huy năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng và tinh thần đổi mới của người lao động. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với đầy đủ trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và tư duy đổi mới sáng tạo, tạo động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ và kinh tế số của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

Chú thích:
1. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
2. Kinh tế Đà Nẵng 2026: Mở khóa động lực, tăng tốc phát triển. https://danang.gov.vn/w/kinh-te-da-nang-2026-mo-khoa-dong-luc-tang-toc-phat-trien
3. Đà Nẵng triển khai chính sách hỗ trợ chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa. https://baodanang.vn/da-nang-trien-khai-chinh-sach-ho-tro-chuyen-doi-so-doanh-nghiep-nho-va-vua-3344732.html
4. Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng đồng hành doanh nghiệp chuyển đổi số. https://mst.gov.vn/so-khcn-thanh-pho-da-nang-dong-hanh-doanh-nghiep-chuyen-doi-so-197260714093021073.htm
5. Đà Nẵng tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành công nghiệp vi mạch, bán dẫn. https://nhandan.vn/da-nang-tap-trung-phat-trien-nguon-nhan-luc-phuc-vu-nganh-cong-nghiep-vi-mach-ban-dan-post776826.html
6. Đà Nẵng chú trọng đào tạo nhân lực du lịch cộng đồng, tạo sinh kế bền vững cho người dân. https://baovanhoa.vn/du-lich/da-nang-chu-trong-dao-tao-nhan-luc-du-lich-cong-dong-tao-sinh-ke-ben-vung-cho-nguoi-dan-179494.html
7. Cách hiện thực hóa mục tiêu 50.000 kỹ sư bán dẫn Việt Nam. https://onetouch.edu.vn/cach-hien-thuc-hoa-muc-tieu-50000-ky-su-ban-dan-viet-nam
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng (2024). Nghị quyết số 57/2024/NQ-HĐND ngày 13/12/2024 ban hành quy định chính sách phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
6. Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng (2025). Nghị quyết số 15/2025/NQ-HĐND ngày 23/6/2025 ban hành quy định chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công thành phố Đà Nẵng.
7. Đà Nẵng ban hành nghị quyết về chính sách phát triển nguồn nhân lực vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. https://vneconomy.vn/da-nang-ban-hanh-nghi-quyet-ve-chinh-sach-phat-trien-nguon-nhan-luc-vi-mach-ban-dan-va-tri-tue-nhan-tao.htm
8. Đà Nẵng: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đưa thành phố phát triển. https://baochinhphu.vn/da-nang-phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-de-dua-thanh-pho-phat-trien-102250520175459711.htm
9. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội ở Quảng Nam (thành phố Đà Nẵng). https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/15/phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-o-quang-nam-thanh-pho-da-nang/
10. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/27/phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-trong-nen-kinh-te-tri-thuc-o-viet-nam-hien-nay/
11. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh chuyển đổi số. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/15/phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-trong-boi-canh-chuyen-doi-so/ 
12. Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.  https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/815949/phat-trien%2C-nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-trong-boi-canh-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu.aspx