Policy implementation for developing high-quality, low-emission rice production areas in Can Tho City
ThS. Trần Thảo Vy
TS. Lê Ngọc Danh
Trường Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ, Đại học Cần Thơ
Ngô Thanh Vũ
Ban Kinh tế – Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang
Email: tslengocdanh@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết đánh giá việc thực thi chính sách phát triển vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại thành phố Cần Thơ thông qua phân tích văn bản, số liệu quản lý và kết quả mô hình. Kết quả cho thấy, thành phố xác lập mục tiêu định lượng, mở rộng vùng triển khai, thúc đẩy giống chất lượng cao, giảm đầu vào, tưới ướt – khô xen kẽ và liên kết tiêu thụ. Tuy nhiên, việc thực thi còn hạn chế do dữ liệu phân tán, năng lực hợp tác xã còn yếu, hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ và hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định phát thải chưa hoàn chỉnh. Bài viết đề xuất tăng cường điều phối, xây dựng dữ liệu dùng chung, quản lý theo kết quả, chuyên nghiệp hóa hợp tác xã, chuẩn hóa hợp đồng và thí điểm chia sẻ lợi ích carbon.
Từ khóa: Thực thi chính sách; lúa chất lượng phát thải thấp; tăng trưởng xanh; thành phố Cần Thơ.
Abstract: This article evaluates the implementation of the policy for developing high-quality, low-emission rice-growing areas in Can Tho City through text analysis, management data, and modeling results. The findings show that the city has established quantitative targets, expanded the implementation area, promoted high-quality rice varieties, reduced inputs, adopted alternating wet-dry irrigation, and fostered market linkages. However, implementation remains limited due to scattered data, weak cooperative capacity, inconsistent irrigation infrastructure, and an incomplete system for measuring, reporting, and verifying emissions. The article proposes strengthening coordination, establishing a shared data repository, adopting results-based management, professionalizing cooperatives, standardizing contracts, and piloting carbon benefit-sharing schemes.
Keywords: Policy implementation; low-emission rice; green growth; Can Tho City.
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, thị trường lúa gạo đang đòi hỏi sản phẩm có chất lượng, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm về môi trường. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng đang phụ thuộc quá mức và thâm dụng các yếu tố đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới), từ đó bộc lộ những hạn chế về hiệu quả kinh tế và môi trường. Do đó, ngành hàng lúa gạo đã chuyển mình từ tối đa hóa sản lượng sang tối đa hóa giá trị.
Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” đã tạo khuôn khổ cho quá trình chuyển đổi này. Đề án hiện tại đã được bổ sung các yêu cầu cụ thể và toàn diện hơn, không chỉ yêu cầu thay đổi kỹ thuật canh tác mà còn tổ chức lại sản xuất, xây dựng liên kết thị trường, đầu tư hạ tầng, quản trị dữ liệu và đo lường mức giảm phát thải. Vì vậy, kết quả phụ thuộc đáng kể vào chất lượng thực thi chính sách ở địa phương.
Một lợi thế đặc biệt của thành phố Cần Thơ là trung tâm về khoa học – công nghệ, đào tạo, chế biến, logistics, tài chính và thương mại lúa gạo. Sau sáp nhập, đã có những biến đổi không nhỏ về đất đai, thủy văn, xâm nhập mặn, hạ tầng và tổ chức sản xuất. Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 08/01/2026 xác định triển khai Đề án tại 64 xã, phường, với quy mô 170.877 ha vào năm 2030. Để hình thành vùng nguyên liệu cần đến quy mô lớn, từ đó góp phần làm tăng yêu cầu điều phối giữa chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân và các tổ chức khoa học (Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, 2026, phụ lục địa bàn).
Kết quả từ các mô hình thí điểm cho thấy hiệu quả gieo trồng chất lượng cao được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt, việc áp dụng quy trình canh tác lúa phát thải thấp đã giúp cắt giảm đáng kể các yếu tố đầu vào như lượng giống gieo sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới. Mặc dù mang lại hiệu quả thiết thực, việc mở rộng quy mô mô hình vẫn đối mặt với nhiều thách thức: năng lực quản trị còn hạn chế và hợp đồng bao tiêu thiếu ổn định; chi phí thu thập và xác minh dữ liệu cao; hạ tầng thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nước; cơ chế phân chia lợi ích từ sản phẩm xanh và tín chỉ carbon chưa rõ ràng.
Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế, phát thải hoặc hành vi chấp nhận công nghệ được nhắc đến nhiều trong các nghiên cứu. Ít nghiên cứu nào xem xét đầy đủ các mục tiêu chính sách được chuyển hóa thành các hoạt động, kết quả và tác động ở cấp địa phương. Bài viết nhằm hệ thống hóa khung chính sách và cơ chế thực thi tại Cần Thơ; đánh giá kết quả bước đầu; nhận diện hạn chế và nguyên nhân và đề xuất hàm ý quản lý nhà nước nhằm giúp Đề án đạt được tăng trưởng xanh thực chất.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khung phân tích thực thi chính sách
Thực thi chính sách là quá trình chuyển quyết định của cơ quan có thẩm quyền thành các hoạt động của bộ máy quản lý, tổ chức thực hiện và các nhóm thụ hưởng. Van Meter và Van Horn (1975) cho rằng kết quả thực thi phụ thuộc vào mục tiêu, nguồn lực, truyền thông – phối hợp, đặc điểm của cơ quan thực hiện, thái độ của người thực thi và môi trường kinh tế – xã hội. Edwards III (1980) nhấn mạnh 4 điều kiện: truyền thông, nguồn lực, thái độ thực hiện và cấu trúc hành chính. Mazmanian và Sabatier (1983) lưu ý tính nhất quán của thiết kế pháp lý và tác động của các điều kiện bên ngoài.
Theo góc nhìn liên ngành, với sự tham gia của nhiều bên liên quan, ban vận hành mô hình canh tác lúa phát thải thấp. Các vấn đề kỹ thuật thuộc trách nhiệm của cơ quan nông nghiệp; tài chính bảo đảm nguồn lực; công nghiệp và thương mại phát triển thị trường; khoa học và công nghệ hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, các tổ chức tín dụng cung cấp dòng tiền, các hợp tác xã có thể tổ chức các nhóm nông dân, sau đó doanh nghiệp được chia tách giữa các mảng dịch vụ/thu mua/chế biến. Một mục tiêu kỹ thuật có thể không đạt nếu thiếu hạ tầng nước, hợp đồng liên kết, năng lực ghi chép hoặc cơ chế chia sẻ lợi ích.
Tăng trưởng xanh trong ngành lúa gạo phải đồng thời duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và hạn chế suy thoái môi trường (OECD, 2011). Chính sách chỉ tạo tăng trưởng xanh khi giảm chi phí và phát thải; nâng cao chất lượng, giá trị hoặc giá bán; cải thiện thu nhập và khả năng chống chịu của nông hộ; đồng thời hình thành năng lực quản trị và thị trường để duy trì kết quả.
Bài viết đánh giá thực thi theo 6 chiều: (1) Tính rõ ràng và nhất quán của mục tiêu. (2) Nguồn lực tài chính, nhân lực, hạ tầng và công nghệ. (3) Phối hợp và phân công trách nhiệm. (4) Sự tham gia và động lực của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. (5) Áp dụng gói kỹ thuật, truy xuất và hệ thống đo lường – báo cáo – thẩm định (MRV). (6) Giám sát, phản hồi và điều chỉnh chính sách.
2.2. Phương pháp và dữ liệu
Bài viết sử dụng nghiên cứu tài liệu, phân tích nội dung chính sách và thống kê mô tả. Nguồn dữ liệu gồm: Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 4024/QĐ-BNNMT ngày 29/9/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Kế hoạch số 04/KH-UBND năm 2026 và các phụ lục địa bàn, kinh phí; Quyết định số 1200/QĐ-UBND năm 2025; danh sách hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp cập nhật ngày 17/10/2025; báo cáo nghiên cứu về lượng giá tín chỉ carbon; và thông tin công khai của cơ quan chuyên ngành đến tháng 4/2026.
Nghiên cứu gồm 3 bước: chuẩn bị dữ liệu; đánh giá và đối chiếu; kết luận theo 6 khía cạnh. Các tỷ lệ được tính từ số liệu công bố, như diện tích năm 2025 so với mục tiêu năm 2030, diện tích liên kết so với diện tích triển khai và cơ cấu kinh phí.
Do dữ liệu được lập ở những thời điểm và phạm vi khác nhau, không phải mọi chỉ tiêu đều có thể so sánh trực tiếp. Một số số liệu là diện tích kế hoạch hoặc đăng ký, chưa đồng nghĩa với diện tích đã được kiểm chứng đầy đủ về việc tuân thủ và giảm phát thải. Bài viết tập trung vào tiến trình và các vấn đề quản trị.
3. Thực trạng thực thi chính sách tại thành phố Cần Thơ
3.1. Mục tiêu và phạm vi chính sách
Kế hoạch của thành phố sử dụng hợp tác xã như một mắt xích quan trọng. Đồng thời, xác định mục tiêu hình thành vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với chuỗi giá trị; nâng cao hiệu quả và thu nhập; bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu; và đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Đến năm 2030, diện tích vùng thực hiện dự kiến đạt 170.877 ha; lượng giống gieo sạ dưới 70 kg/ha; giảm 30% phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật hóa học; giảm 20% nước tưới; 100% diện tích áp dụng quy trình bền vững và được cấp mã số vùng trồng. Chính sách yêu cầu 100% diện tích có liên kết sản xuất – tiêu thụ, cơ giới hóa đồng bộ trên 70%, thất thoát sau thu hoạch dưới 8%, thu gom và tái sử dụng 100% rơm, giảm trên 10% phát thải. Giá trị gia tăng của chuỗi phải tăng 40% và tỷ suất lợi nhuận của người trồng lúa phải trên 50% (thành phố Cần Thơ, 2026).
Bảng 1. Một số mục tiêu chủ yếu của thành phố Cần Thơ
| Chỉ tiêu | Đến năm 2025 | Đến năm 2030 |
| Diện tích vùng thực hiện | 104.500 ha | 170.877 ha |
| Lượng giống gieo sạ | 80–100 kg/ha | Dưới 70 kg/ha |
| Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học | Giảm 20% | Giảm 30% |
| Liên kết sản xuất – tiêu thụ | 100% diện tích | 100% diện tích |
| Cơ giới hóa đồng bộ | Trên 50% | Trên 70% |
| Thu gom, tái sử dụng rơm | 70% | 100% |
| Giảm phát thải khí nhà kính | Trên 10% | Trên 10% |
| Tỷ suất lợi nhuận người trồng lúa | Trên 40% | Trên 50% |
Phạm vi triển khai gồm 64 xã, phường. Thành phố được phân vùng theo 5 nhóm sinh thái – hạ tầng: đất phù sa; đất phèn – ngập; đất phèn – nông; đất ngọt – lợ và đất phèn có khả năng nhiễm mặn. Cách tiếp cận này phù hợp vì quản lý nước, giống, lịch thời vụ, cơ giới hóa và phụ phẩm không thể áp dụng đồng nhất (thành phố Cần Thơ, 2026, phụ lục địa bàn).
Quyết định số 4024/QĐ-BNNMT năm 2025 bổ sung khung quốc gia: đến năm 2035, trồng trọt góp phần giảm ít nhất 15% phát thải so với năm cơ sở 2020; mỗi tỉnh triển khai 1-2 mô hình; xây dựng ít nhất 15 mô hình có khả năng phát triển tín chỉ carbon; ban hành tối thiểu năm gói kỹ thuật; hình thành cơ sở dữ liệu phát thải và đào tạo ít nhất 3.000 cán bộ, nông dân, doanh nghiệp. Điều này tạo cơ sở chuẩn hóa, nhưng yêu cầu dữ liệu Cần Thơ phải kết nối với hệ thống quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025).
3.2. Tổ chức thực hiện và tham gia của các chủ thể
Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ chốt, phụ trách hướng dẫn, xây dựng tính toán dự đoán, đào tạo, theo dõi và báo cáo. Sở Tài chính cân đối kinh phí; Sở Công Thương xúc tiến thị trường; Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc; Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực phối hợp tín dụng; Liên minh Hợp tác xã và Hội Nông dân hỗ trợ, vận động; Ủy ban nhân dân xã, phường lựa chọn hộ và tổ chức thực hiện.
Thể hiện được tính đa ngành, nhưng phân công này chưa bảo đảm phối hợp theo kết quả. Các hoạt động sau nhằm chứng minh diện tích phát thải: lựa chọn vùng; cung cấp giống, vật tư và kỹ thuật; quản lý nước và ghi nhật ký; liên kết thu mua và truy xuất; đo lường và xác minh phát thải. Nếu mỗi cơ quan chỉ hoàn thành phần việc của mình, kết quả sẽ dễ bị gián đoạn.
Quyết định số 1200/QĐ-UBND ngày 09/9/2025 đã quy định về đối tượng, quyền lợi, nghĩa vụ và biểu mẫu tham gia. Đối tượng gồm thành viên tổ hợp tác, hợp tác xã; doanh nghiệp liên kết; doanh nghiệp cung cấp vật tư, cơ giới hóa, công nghệ, tín dụng, chế biến rơm; tổ chức quốc tế và chính quyền cơ sở. Người tham gia được tiếp cận công nghệ, hạ tầng và chính sách hỗ trợ, nhưng phải tuân thủ quy trình, thực hiện liên kết và báo cáo định kỳ (thành phố Cần Thơ, 2025).
Dữ liệu cập nhật ngày 17/10/2025 có 458 hợp tác xã và tổ hợp tác, tổng diện tích đăng ký là 57.145,49 ha và diện tích đang triển khai là 31.858,78 ha. Danh sách doanh nghiệp có 50 đơn vị, tổng diện tích đăng ký được ghi nhận là 27.438,13 ha, trong đó 19.692,53 ha là diện tích sản xuất – tiêu thụ. Sự chênh lệch giữa diện tích đăng ký, triển khai và liên kết cho thấy việc tham gia chính sách còn ở nhiều mức độ (Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, 2025a).
Các số liệu trên không trùng với tổng diện tích 104.500 ha và 76.000 ha liên kết được công bố trong báo cáo năm 2025. Khác biệt có thể do thời điểm, phạm vi hoặc phương pháp tổng hợp; dữ liệu cũng có trường trống và trường trùng lặp. Đây là dấu hiệu cho thấy thành phố cần một cơ sở dữ liệu dùng chung với mã định danh thống nhất cho thửa ruộng, hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp và hợp đồng.
3.3. Kỹ thuật, mô hình trình diễn và MRV
Kế hoạch xác định đào tạo giảng viên nguồn; tập huấn quy trình sản xuất, đo lường, báo cáo và thẩm định, mã số vùng trồng, việc thực hành nông nghiệp tốt, GlobalGAP, tiêu chuẩn canh tác lúa bền vững; chuyển giao quản lý nước, xử lý rơm, nông nghiệp tuần hoàn, chuyển đổi số và cơ giới hóa; xây dựng mô hình đo mực nước và quản lý dữ liệu; mô hình lúa phát thải thấp quy mô 50-100 ha/hợp tác xã.
Tiếp cận theo “gói kỹ thuật” phù hợp hơn so với việc khuyến nghị từng biện pháp riêng lẻ. Nghiên cứu trên 748 nông hộ tại vùng đồng bằng sông Cửu Long cho thấy mô hình kết hợp tiêu chuẩn canh tác lúa bền vững, tưới ướt – khô xen kẽ, quản lý dịch hại tổng hợp và thực hành nông nghiệp tốt cân bằng tốt hơn giữa lợi nhuận và giảm phát thải. Lợi nhuận ròng ước tính của tiêu chuẩn canh tác lúa bền vững – tưới ướt – khô xen kẽ – quản lý dịch hại tổng hợp – thực hành nông nghiệp tốt đạt 5,975 triệu đồng/ha, tưới ướt – khô xen kẽ – quản lý dịch hại tổng hợp đạt 5,930 triệu đồng/ha và tiêu chuẩn canh tác lúa bền vững đạt 6,040 triệu đồng/ha; trong khi áp dụng riêng tưới ướt – khô xen kẽ có mức cân bằng tài chính âm nhẹ. Chính sách, vì vậy, phải đánh giá mức độ phối hợp của gói canh tác, không chỉ xác định “có áp dụng” một kỹ thuật (Tu & Trang, 2025).
Mô hình Bayer Forward Farming tại Hợp tác xã Nông nghiệp Kiến Trung, xã Vị Thanh, trong 1 vụ đông xuân 2025 – 2026, sử dụng giống ST25, sạ hàng 80 kg/ha, tưới ướt – khô xen kẽ, bón phân cân đối và quản lý dịch hại tổng hợp. So với tập quán địa phương, lượng giống giảm 41,5%, phân bón hóa học giảm 12%, chi phí giảm 6,78%, năng suất đạt 9,57 tấn/ha và lợi nhuận tăng 11%. Mô hình còn cơ giới hóa thu gom rơm, cho thấy việc giảm đầu vào không đồng nghĩa với việc giảm năng suất khi quy trình được thực hiện đồng bộ (Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp thành phố Cần Thơ, 2026).
Năm 2025, thành phố triển khai mô hình 60 ha, trong đó Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Tiến Thuận tham gia 20 ha. Các biện pháp gồm “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, quản lý dịch hại tổng hợp, tưới ướt – khô xen kẽ, sạ cụm kết hợp vùi phân và sử dụng thiết bị bay không người lái. Để nhân rộng, nội dung tập huấn phải trở thành quy trình thường xuyên của hợp tác xã, có cán bộ kỹ thuật, thiết bị đo nước, nhật ký và kiểm tra nội bộ (Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, 2025b).
Đo lường, báo cáo và thẩm định là mắt xích phân biệt giữa sản xuất được tuyên bố là phát thải thấp và sản xuất được kiểm chứng. Hệ thống phải xác định đường cơ sở, phương pháp đo hoặc ước tính, tần suất ghi nhận, trách nhiệm nhập dữ liệu, kiểm soát chất lượng và thẩm định độc lập. Đối với Cần Thơ, đo lường, báo cáo và thẩm định không chỉ phục vụ tín chỉ carbon mà còn hỗ trợ quản lý nước, truy xuất, đánh giá hiệu quả hỗ trợ và chứng minh tiêu chuẩn môi trường của sản phẩm (IPCC, 2019).
3.4. Nguồn lực tài chính và hạ tầng
Tổng kinh phí dự kiến giai đoạn 2026 – 2030 là 186,528 tỷ đồng. Xây dựng vùng chiếm 102,934 tỷ đồng, tương đương 55,18%; hoàn thiện gói kỹ thuật chiếm 72,424 tỷ đồng, tương đương 38,83%; tổ chức sản xuất và đào tạo chiếm 5,740 tỷ đồng, tương đương 3,08%; quản lý chất thải độc hại chiếm 5,430 tỷ đồng, tương đương 2,91% (thành phố Cần Thơ, 2026, phụ lục kinh phí).
Bảng 2. Cơ cấu kinh phí thực hiện giai đoạn 2026 – 2030
| Nội dung | Kinh phí (triệu đồng) | Tỷ trọng (%) |
| Xây dựng vùng tham gia Đề án | 102.934 | 55,18 |
| Hoàn thiện và áp dụng gói kỹ thuật | 72.424 | 38,83 |
| Tổ chức sản xuất, đào tạo và nâng cao năng lực | 5.740 | 3,08 |
| Quản lý chất thải độc hại | 5.430 | 2,91 |
| Tổng cộng | 186.528 | 100 |
Trong giai đoạn mở rộng, cơ cấu kinh phí đã ưu tiên cho sản xuất và kỹ thuật. Tuy nhiên, vẫn còn sự mất cân đối khi các nguồn lực dành cho tổ chức sản xuất và đào tạo dài hạn chưa được chú trọng đúng mức so với các mục tiêu ngắn hạn. Khi triển khai, cần tách rõ chi phí đầu tư một lần với chi phí vận hành của hợp tác xã, dữ liệu, thiết bị đo lường, kiểm tra nội bộ và xử lý phụ phẩm.
Nhu cầu hạ tầng vẫn còn rất lớn. Khảo sát của thành phố cho thấy cần 40 trạm bơm điện, 396 cống hở vận hành bằng điện và thêm khoảng 605 km đê, bờ bao. Hạ tầng nước quyết định khả năng áp dụng tưới ướt – khô xen kẽ; thu gom rơm cần máy, đường nội đồng, điểm tập kết và thị trường; giảm thất thoát sau thu hoạch cần máy sấy, kho và logistics. Đầu tư vì vậy phải ưu tiên các vùng có khả năng liên kết, tuân thủ và giảm phát thải, tránh dàn trải (Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, 2026).
3.5. Kết quả bước đầu đối với tăng trưởng xanh
Đến năm 2025, thành phố công bố triển khai 104.500 ha, tương đương 61,2% so với mục tiêu năm 2030. Báo cáo tháng 4/2026 ghi nhận diện tích thực hiện bước đầu khoảng 100.000 ha. Trong vùng năm 2025, giống chất lượng cao được sử dụng với tỷ lệ giống xác nhận 100%; lượng giống giảm 30-50% tùy vụ; phân đạm giảm khoảng 30%; số lần phun thuốc giảm 2-3 lần; tưới ướt – khô xen kẽ được áp dụng rộng; khoảng 76.000 ha có liên kết cung ứng và tiêu thụ (Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp thành phố Cần Thơ, 2026; Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, 2026).
Diện tích liên kết tương đương khoảng 72,7% diện tích năm 2025, nhưng còn khoảng 28.500 ha chưa được phản ánh là có liên kết, trong khi mục tiêu yêu cầu 100%. Hơn nữa, “có liên kết” cần được phân loại theo chất lượng: thỏa thuận mua bán; hợp đồng theo vụ; hợp đồng cung ứng đầu vào và bao tiêu; hay đối tác dài hạn có giá trị thưởng và chia sẻ dữ liệu. Chỉ liên kết có khả năng phân bổ rủi ro, bảo đảm đầu ra và duy trì tuân thủ mới tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh.
Về mặt kinh tế, mô hình giúp tối ưu hóa chi phí và tăng lợi nhuận. Về môi trường, lượng phát thải được kiểm soát ở mức thấp nhờ cắt giảm đáng kể vật tư nông nghiệp và lượng giống gieo sạ. Về xã hội, được tiếp cận với đào tạo và các dịch vụ, nhưng các nghiên cứu hiện tại chỉ mới ở mức lý thuyết, chưa đủ để kết luận về mức độ giảm phát thải khí.
Không phải lúc nào trồng lúa cũng giảm phát thải; trồng cây hữu cơ cũng được cấp tín chỉ và thu lợi nhuận ngay lập tức. Hãy tập trung vào việc xây dựng một mô hình bền vững để giúp họ đạt được những điều trên, còn tín chỉ carbon chỉ là một thách thức.
4. Đánh giá kết quả và hạn chế
4.1. Kết quả
Thứ nhất, mục tiêu chính sách được lượng hóa khá đầy đủ, bao gồm diện tích, kỹ thuật, liên kết, cơ giới hóa, môi trường, giá trị gia tăng và thu nhập. Việc chuyển đổi từ quản lý theo số lượng hoạt động sang quản lý dựa trên kết quả là một bước tiến quan trọng trong phương thức quản trị hiện đại.
Thứ hai, thành phố đã ban hành kế hoạch, hướng dẫn tham gia, phân công cơ quan và dự kiến nguồn lực. Diện tích thực hiện khoảng 100.000–104.500 ha cho thấy chính sách đã chuyển từ giai đoạn thí điểm sang giai đoạn mở rộng.
Thứ ba, các gói kỹ thuật chủ chốt được đưa vào thực tiễn. Tại Hợp tác xã Kiến Trung, kết quả chứng minh khả năng giảm chi phí, tăng năng suất và lợi nhuận, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của nông dân.
Thứ tư, vai trò của hợp tác xã và doanh nghiệp được xác định đúng. Hợp tác xã tổ chức vùng, chuẩn hóa quy trình, tổng hợp dữ liệu; doanh nghiệp chuyển tín hiệu thị trường thành tiêu chuẩn, dịch vụ và bao tiêu. Việc gắn sản xuất với truy xuất, nhãn hiệu gạo xanh, thị trường và carbon là bước chuyển từ việc hỗ trợ đầu vào sáng tạo giá trị sang hướng tới các kết quả về môi trường.
4.2. Hạn chế, bất cập
Diện tích kế hoạch, triển khai kỹ thuật, liên kết và kiểm chứng phát thải vẫn còn lỏng lẻo, chưa nhất quán. Quản lý cần xác định trên từng thửa: chủ thể sản xuất, quy trình, vụ mùa, hợp đồng, dữ liệu đầu vào (nước) và dữ liệu đầu ra (phát thải). Dữ liệu quản lý phân tán, còn có trường trống và trường trùng lặp. Kế hoạch ghi 149.062 hộ, trong khi báo cáo chuyên ngành năm 2026 nêu mục tiêu 153.789 hộ. Chênh lệch có thể do cập nhật sau sắp xếp hành chính, nhưng nếu thiếu phiên bản dữ liệu chính thức thì sẽ ảnh hưởng đến việc phân bổ hỗ trợ, đo lường, báo cáo và thẩm định (Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, 2026; Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp thành phố Cần Thơ, 2026).
Chất lượng liên kết chưa được đo lường bằng thời hạn hợp đồng, tỷ lệ thực hiện, phương thức định giá, thời điểm thanh toán, chia sẻ chi phí chứng nhận và giải quyết tranh chấp; liên kết ngắn hạn vẫn chưa hoàn toàn giải quyết được việc đầu tư lâu dài mà chỉ giúp tiêu thụ nhanh. Năng lực quản lý tài chính, thương lượng, kiểm soát chất lượng, vận hành thiết bị và quản lý dữ liệu chưa đồng đều.Do đó, khi quy mô sản xuất mở rộng đột ngột, hệ thống quản lý rất dễ rơi vào tình trạng quá tải.
Thu gom không đều theo vùng, vẫn có sự chênh lệch về hạ tầng thủy lợi, sấy, kho và logistics. Tưới ướt – khô xen kẽ, kết hợp với sự chủ động trong việc cấp thoát nước, mới đạt hiệu quả. Cơ cấu kinh phí nghiêng về mở rộng vùng kỹ thuật, trong khi đó, tổ chức sản xuất và thay đổi hành vi cần đầu tư qua nhiều vụ. Đo lường, báo cáo, thẩm định và cơ chế carbon đang được định hình. Hiện tại, người làm chịu hết chi phí, nhưng khi làm xong, lợi ích chưa biết chia cho ai và chia được bao nhiêu, từ đó, nông dân không có động lực để làm tiếp.
Các hạn chế bắt nguồn từ tính tích hợp của Đề án trong khi bộ máy quản lý được tổ chức theo ngành; thay đổi không gian hành chính; thiếu kiến trúc dữ liệu thống nhất; chu kỳ đầu tư hạ tầng dài; và thị trường gạo xanh, carbon chưa ổn định. Chính sách vì vậy phải xử lý đồng thời các vấn đề kỹ thuật, tổ chức, dữ liệu và động lực kinh tế.
5. Hàm ý chính sách đối với tăng trưởng xanh
Một là, hoàn thiện cơ chế điều phối theo kết quả và theo vùng sinh thái. Thành phố cần một bộ phận điều phối chuyên trách có quyền tổng hợp kế hoạch, dữ liệu và tiến độ. Mỗi mục tiêu phải bao gồm các minh chứng, cơ quan chịu trách nhiệm chính, đơn vị phối hợp, thời gian và bằng chứng hoàn thành. Năm vùng sinh thái cần có kế hoạch riêng về thủy lợi, giống, lịch mùa vụ, cơ giới hóa, phụ phẩm và thị trường. Hội nghị liên ngành phải tập trung xử lý các điểm nghẽn theo chuỗi, không chỉ báo cáo hoạt động của từng cơ quan.
Hai là, xây dựng hệ thống quản trị số dựa trên 3 trụ cột: số hóa dữ liệu chi tiết, chuẩn hóa quy trình quản lý và áp dụng công nghệ thiết thực. Hệ thống này bảo đảm tính minh bạch, cung cấp minh chứng xác thực và hỗ trợ quản lý từ xa một cách hiệu quả.
Ba là, chuyển từ việc quản lý diện tích đăng ký sang việc quản lý kết quả đã được kiểm chứng. Bộ chỉ số hằng năm cần gồm: diện tích tuân thủ; lượng giống, đạm, thuốc và nước giảm; tỷ lệ rơm thu gom; phát thải; năng suất; chi phí; lợi nhuận; tỷ lệ hợp đồng thực hiện; giá trị thưởng; và dữ liệu đạt chuẩn để đo lường, báo cáo và thẩm định. Một phần kinh phí nên được thanh toán theo kết quả, tạo động lực cho hợp tác xã duy trì việc tuân thủ và lưu trữ dữ liệu trong nhiều vụ việc.
Bốn là, chuyên nghiệp hóa hợp tác xã và nâng cao chất lượng liên kết. Thành phố cần phân loại hợp tác xã theo năng lực, hỗ trợ quản trị tài chính, đàm phán hợp đồng, kiểm soát chất lượng, dịch vụ nước, cơ giới hóa và quản lý dữ liệu. Hợp đồng mẫu phải quy định giống, quy trình, tiêu chuẩn, phương pháp định giá, mức thưởng, trách nhiệm cung ứng, kiểm tra, giao nhận, thanh toán và giải quyết tranh chấp. Liên kết cần chuyển từ việc mua lúa cuối vụ sang cung cấp gói dịch vụ toàn chuỗi.
Năm là, thiết kế tài chính xanh và chia sẻ lợi ích carbon minh bạch. Trước khi phát triển tín chỉ, cần xác định đường cơ sở, tính bổ sung, phạm vi phát thải, quyền dữ liệu, chi phí dự án và việc thẩm định. Thành phố nên thí điểm thanh toán theo kết quả giảm phát thải tại một số hợp tác xã có dữ liệu tốt. Công thức phân chia phải bảo đảm nông dân được trả cho việc thay đổi hành vi; hợp tác xã được bù chi phí tổ chức; doanh nghiệp và đơn vị phát triển dự án nhận phần tương ứng về dịch vụ. Cần phân biệt giá trị thưởng “gạo xanh” với thu nhập từ tín chỉ carbon (Võ Hồng Tú và cộng sự, 2026).
Sáu là, ưu tiên hạ tầng theo mức độ sẵn sàng và hiệu quả. Danh mục trạm bơm, cống, đê bao, đường nội đồng, máy sấy, kho và thiết bị rơm cần được xếp hạng theo quy mô vùng liền thửa, khả năng chủ động nước, hợp tác xã, doanh nghiệp liên kết, mức giảm phát thải và năng lực vận hành. Đối tác công – tư có thể huy động doanh nghiệp tham gia sấy, kho, logistics và phụ phẩm, trong khi ngân sách tập trung vào hạ tầng công cộng.
Bảy là, tăng cường nghiên cứu, khuyến nông và giám sát độc lập. Tập huấn cần gắn với bài toán chi phí – lợi nhuận của từng nhóm nông dân, thực hành tại ruộng và dữ liệu từ nhiều vụ. Các trường đại học, viện, doanh nghiệp công nghệ tham gia tối ưu hóa gói kỹ thuật, truy xuất và đo lường, báo cáo và thẩm định. Thành phố nên công bố bảng điều khiển tiến độ theo vùng; kiểm tra mẫu; khảo sát nông dân, doanh nghiệp; phân tích chi phí trên một héc-ta tuân thủ và tỷ lệ duy trì. Kết quả giám sát phải được sử dụng để điều chỉnh nguồn lực, quy trình và danh sách ưu tiên.
6. Kết luận
Trải qua quá trình khó khăn nhất là hình thành nên nền tảng cho thực thi chính sách phát triển lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Thành phố Cần Thơ đã tạo được nền tảng quan trọng: mục tiêu định lượng rõ, phạm vi lớn, cơ chế tham gia được cụ thể hóa, kỹ thuật được thử nghiệm, liên kết doanh nghiệp được mở rộng và nguồn lực được dự kiến. Định hướng có tính khả thi khi cho ra kết quả giảm đầu vào và tăng đầu ra đáng kể.
Tuy nhiên, nhiệm vụ cốt lõi của giai đoạn tới không chỉ là mở rộng diện tích, mà còn là chuyển diện tích kế hoạch thành vùng sản xuất tuân thủ được kiểm chứng và chuỗi giá trị xanh có thị trường. Điều này đòi hỏi dữ liệu thống nhất, đo lường, báo cáo và thẩm định đáng tin cậy; hợp tác xã chuyên nghiệp; hợp đồng thực chất; hạ tầng phù hợp; và chia sẻ lợi ích minh bạch. Khi quản lý chuyển từ theo dõi hoạt động sang quản lý kết quả kinh tế, môi trường và xã hội, đề án mới có thể đóng góp bền vững vào tăng trưởng xanh và thu nhập của người trồng lúa.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2025). Quyết định số 4024/QĐ-BNNMT ngày 29/9/2025 phê duyệt Đề án “Sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050”.
Edwards III, G. C. (1980). Implementing public policy. Congressional Quarterly Press.
Intergovernmental Panel on Climate Change. (2019). 2019 refinement to the 2006 IPCC guidelines for national greenhouse gas inventories. IPCC.
Mazmanian, D. A., & Sabatier, P. A. (1983). Implementation and public policy. Scott, Foresman.
Organisation for Economic Co-operation and Development. (2011). Towards green growth. OECD Publishing.
Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ. (2026). Giải pháp phát huy hiệu quả Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao. https://sokhcn.cantho.gov.vn/
Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ. (2025a). Danh sách hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp tham gia Đề án một triệu héc-ta.
Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ. (2025b). Tham quan học tập mô hình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp. https://sonnmt.cantho.gov.vn/tin-hoat-dong-nganh/tham-quan-hoc-tap-mo-hinh-san-xuat-lua-chat-luong-cao-va-phat-thai-thap-318578
Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ. (2026). Hướng dẫn tổ chức, cá nhân tham gia Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ. (2023). Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”.
Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp thành phố Cần Thơ. (2026). Cần Thơ: Hội thảo đánh giá mô hình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với Đề án một triệu héc-ta. https://sonnmt.cantho.gov.vn/tin-hoat-dong-nganh/can-tho-hoi-thao-danh-gia-mo-hinh-canh-tac-lua-chat-luong-cao-phat-thai-thap-gan-voi-de-an-1-tri-335110
Tu, V. H., Hong, N. B., & Trang, N. T. (2026). Economic efficiency of rice farming under alternate wetting and drying irrigation in the Vietnamese Mekong Delta. Discover Sustainability. https://doi.org/10.1007/s43621-026-03028-9.
Tu, V. H., & Trang, N. T. (2025). Economic valuation of carbon credits in eco-friendly rice farming in the Mekong Delta. Process Integration and Optimization for Sustainability. https://doi.org/10.1007/s41660-025-00613-9.
Tu, V. H., & Trang, N. T. (2026). Modeling factors influencing the adoption of low-emission practices in rice farming in the Vietnamese Mekong Delta. Research on World Agricultural Economy, 7(2), 222–239. https://doi.org/10.36956/rwae.v7i2.2684.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ. (2025). Quyết định số 1200/QĐ-UBND ngày 09/9/2025 ban hành hướng dẫn về nội dung khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ. (2026). Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 08/01/2026 thực hiện Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Van Meter, D. S., & Van Horn, C. E. (1975). The Policy Implementation Process: A Conceptual Framework. Administration & Society, 6(4), 445–488.
Võ Hồng Tú (Chủ nhiệm), & cộng sự. (2026). Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ: Lượng giá tín chỉ carbon cho các mô hình sản xuất lúa thân thiện với môi trường tại Đồng bằng sông Cửu Long (Mã số B2024-TCT-15). Trường Đại học Cần Thơ.



