Strengthening the institutional framework for People’s Council oversight toward greater binding effectiveness in controlling state power at the local level
TS. Lê Thị Tươi
Học viện Hành chính và Quản trị công
Lê Thị Hảo
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
(Quanlynhanuoc.vn) – Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương giữ vai trò trung tâm trong kiểm soát quyền lực thông qua chức năng giám sát. Tuy nhiên, hoạt động giám sát chủ yếu dừng ở mức phát hiện và kiến nghị, chưa tạo được tính ràng buộc đối với các chủ thể thực thi quyền lực, dẫn đến khoảng cách giữa thẩm quyền pháp lý và hiệu lực kiểm soát. Bài viết tiếp cận giám sát từ góc độ thể chế, xác định tính ràng buộc là tiêu chí cốt lõi phản ánh hiệu lực kiểm soát quyền lực; từ đó đề xuất hoàn thiện thể chế theo hướng nâng cao giá trị pháp lý của giám sát, gắn với trách nhiệm và cơ chế chế tài, bảo đảm giám sát trở thành công cụ kiểm soát quyền lực thực chất.
Từ khóa: Thể chế giám sát; Hội đồng nhân dân; kiểm soát quyền lực nhà nước; tính ràng buộc.
Abstract: The People’s Council is the local state authority and plays a central role in checking power through its oversight function. However, oversight activities are largely limited to identification and making recommendations; they have not yet established binding effects on those exercising power, leading to a gap between legal authority and the effectiveness of oversight. This article approaches oversight from an institutional perspective, identifying binding force as the core criterion reflecting the effectiveness of power control; from there, it proposes institutional reforms aimed at enhancing the legal standing of oversight, linking it to accountability and sanction mechanisms, and ensuring that oversight becomes a substantive tool for restraining power.
Keywords: Oversight institutions; People’s Councils; control of state power; binding nature.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, kiểm soát quyền lực nhà nước đặt ra yêu cầu xuyên suốt gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện tổ chức bộ máy và kiểm soát chặt chẽ quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Định hướng này cho thấy, kiểm soát quyền lực vừa là nguyên tắc tổ chức quyền lực, vừa là điều kiện bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và hiệu lực của bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 khẳng định, giám sát là phương thức kiểm soát quyền lực, làm rõ thẩm quyền, nội dung và trách nhiệm của các chủ thể giám sát.
Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực đặt ra ngày càng rõ nét. Chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm đòi hỏi tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) bảo đảm quyền lực được giao đi đôi với kiểm soát. Giám sát của HĐND vượt ra khỏi chức năng theo dõi, đánh giá, từng bước trở thành công cụ ràng buộc trách nhiệm, bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả quản trị địa phương.
2. Khái quát về tính ràng buộc của giám sát Hội đồng nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước
Trong cơ chế tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực vừa là yêu cầu mang tính nguyên tắc, vừa là điều kiện bảo đảm quyền lực được vận hành đúng mục đích, trong khuôn khổ pháp luật và gắn với trách nhiệm. Từ góc độ lý luận nhà nước và pháp luật, kiểm soát quyền lực được hiểu là tổng thể các cách thức, quy trình, quy định và thiết chế nhằm phát hiện, ngăn chặn, hạn chế và loại bỏ các hành vi sai trái trong quá trình tổ chức và thực thi quyền lực, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích, đúng Hiến pháp, pháp luật và có hiệu quả. Theo đó, giám sát của cơ quan đại diện giữ vai trò đặc biệt, bởi đây là hình thức kiểm soát quyền lực mang tính đại diện, phản ánh ý chí và lợi ích của Nhân dân thông qua thiết chế dân cử.
Ở Việt Nam, từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, qua các giai đoạn phát triển với những điều chỉnh phù hợp bối cảnh lịch sử, HĐND luôn được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do Nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát việc tuân thủ pháp luật trên địa bàn.
Trong cấu trúc quyền lực nhà nước, giám sát được xác định là phương thức kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm việc thực thi đúng mục đích, đúng thẩm quyền và gắn với trách nhiệm trước Nhân dân. Thuật ngữ “giám sát” trong pháp luật Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Ngay từ Hiến pháp năm 1959, Quốc hội đã được trao quyền giám sát việc thi hành Hiến pháp; Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đối với cấp địa phương, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 lần đầu tiên sử dụng chính thức thuật ngữ “giám sát” để quy định chức năng của Hội đồng nhân dân trong việc giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân và Tòa án nhân dân cùng cấp.
Trải qua các giai đoạn phát triển, từ Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994, sửa đổi, bổ sung năm 2003 đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2025), chức năng giám sát của HĐND ngày càng được hoàn thiện theo hướng rõ ràng về nội dung, phạm vi và chủ thể thực hiện. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 và Luật số 121/2025/QH15 đánh dấu bước phát triển quan trọng về mặt pháp lý khi xác định giám sát là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước của Quốc hội và HĐND. Theo đó, giám sát của HĐND là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương, thông qua việc theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Quy định này thể hiện sự chuyển biến từ cách tiếp cận giám sát như một chức năng sang tiếp cận giám sát như một cấu phần của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.
Xét từ phương diện hiệu lực kiểm soát quyền lực, giám sát chỉ thực sự phát huy vai trò khi có khả năng tạo ra sự ràng buộc đối với chủ thể thực thi quyền lực. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp cận giám sát vượt ra khỏi khuôn khổ chức năng hay phương thức hoạt động, hướng tới nhận diện giám sát như một thiết chế có khả năng chế ước quyền lực. Trong cách tiếp cận này, “tính ràng buộc” của giám sát được hiểu là khả năng của hoạt động giám sát trong việc tạo ra nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm thực thi và hậu quả pháp lý đối với chủ thể chịu sự giám sát. Nói cách khác, tính ràng buộc phản ánh mức độ mà kết quả giám sát có thể tác động trực tiếp đến hành vi thực thi quyền lực, từ đó chuyển hóa giám sát từ hoạt động mang tính thông tin sang cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất.
Xét từ góc độ lý luận, phân biệt hai cấp độ của giám sát trong kiểm soát quyền lực nhà nước. (1) Giám sát mang tính thông tin, chủ yếu thực hiện chức năng phát hiện, đánh giá và kiến nghị. Ở cấp độ này, giám sát góp phần cung cấp thông tin, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước, nhưng khả năng tác động đến hành vi thực thi quyền lực còn gián tiếp. (2) Giám sát mang tính ràng buộc, trong đó kết luận giám sát gắn với nghĩa vụ thực hiện cụ thể, trách nhiệm cá nhân và cơ chế xử lý trong trường hợp không tuân thủ. Đây là cấp độ mà giám sát thực sự trở thành công cụ chế ước quyền lực, tạo áp lực pháp lý và chính trị đối với chủ thể thực thi quyền lực. Sự chuyển dịch từ giám sát mang tính thông tin sang giám sát mang tính ràng buộc phản ánh quá trình nâng cao hiệu lực kiểm soát quyền lực trong nhà nước pháp quyền.
Trên cơ sở đó, tính ràng buộc của giám sát HĐND được nhận diện thông qua một số tiêu chí cơ bản: (1) Giá trị pháp lý của kết luận giám sát. Kết luận giám sát chỉ có ý nghĩa kiểm soát quyền lực khi được xác lập như một căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thực hiện đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu giám sát. (2) Cơ chế thực thi kiến nghị giám sát. Việc thực hiện kiến nghị cần được gắn với thời hạn, nội dung cụ thể và cơ chế theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện. (3) trách nhiệm của chủ thể chịu giám sát, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu. Việc xác lập rõ trách nhiệm cá nhân là điều kiện để giám sát tác động trực tiếp đến hành vi thực thi quyền lực. (4) Cơ chế chế tài trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kết luận giám sát. Sự tồn tại của chế tài là yếu tố bảo đảm tính ràng buộc của giám sát trong thực tiễn.
Trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, giám sát của HĐND vận hành trong mối liên kết với các thiết chế kiểm soát khác như thanh tra, kiểm toán, kiểm tra của Đảng và giám sát xã hội. Sự liên kết giữa các thiết chế này tạo thành mạng lưới kiểm soát quyền lực đa chiều, trong đó giám sát của HĐND giữ vai trò kết nối giữa kiểm soát từ bên trong bộ máy nhà nước và kiểm soát từ phía xã hội. Tính ràng buộc của giám sát vì vậy phụ thuộc vào thiết kế pháp luật về giám sát, đồng thời gắn với mức độ liên thông giữa các cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị.
Trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, cấu trúc quyền lực nhà nước có sự thay đổi theo hướng tập trung hóa thẩm quyền, làm gia tăng vai trò của cơ quan hành chính trong thực thi quyền lực. Sự tập trung này làm gia tăng nguy cơ sai lệch trong thực thi quyền lực nếu thiếu các cơ chế kiểm soát hiệu quả. Giám sát của HĐND được thiết kế và vận hành theo hướng tăng cường tính ràng buộc, nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi trong khuôn khổ pháp luật và gắn với trách nhiệm. Tính ràng buộc vừa là tiêu chí đánh giá hiệu lực giám sát, vừa là yêu cầu mang tính cấu trúc trong thiết kế thể chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương.
3. Thực trạng tính ràng buộc của giám sát Hội đồng nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương
Hoàn thiện thể chế và đổi mới tổ chức chính quyền địa phương, hoạt động giám sát của HĐND từng bước được nâng cao cả về phạm vi, phương thức và chất lượng, góp phần quan trọng vào kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2025 xác lập tương đối đầy đủ thẩm quyền, nội dung và phương thức giám sát, hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng phân tầng và liên thông giữa HĐND, Thường trực HĐND, các ban và đại biểu HĐND. Giám sát của HĐND được triển khai thông qua nhiều hình thức đa dạng như xem xét báo cáo, chất vấn tại kỳ họp, giám sát chuyên đề và theo dõi việc giải quyết kiến nghị của cử tri. Các hình thức giám sát đổi mới theo hướng tập trung vào vấn đề trọng tâm, bức xúc của địa phương, gắn với các lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống người dân như đất đai, đầu tư công, tài chính – ngân sách và cải cách hành chính, qua đó từng bước đặt hoạt động của cơ quan hành chính trong khuôn khổ pháp luật.
Hoạt động giám sát của HĐND góp phần phát hiện hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước và tạo áp lực nhất định đối với cơ quan hành chính trong việc nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ. Giai đoạn 2024–2025, nhiều địa phương tăng cường giám sát chuyên đề, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như đất đai, đầu tư công, môi trường và cải cách hành chính; chú trọng giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri. Tỷ lệ kiến nghị được giải quyết tại nhiều địa phương đạt khoảng từ 65% đến trên 70%, có tác động nhất định đến hoạt động quản lý nhà nước. Các kết quả này cho thấy giám sát của HĐND tạo ra kênh phản ánh và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước, góp phần tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nhà nước ở địa phương.
Hoạt động tiếp xúc cử tri và tiếp công dân tiếp tục là kênh quan trọng để thu thập thông tin phục vụ giám sát. Giai đoạn 2024 – 2025, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của người dân được tiếp nhận và xử lý ở mức cao, phản ánh vai trò tích cực của đại biểu trong việc đưa yêu cầu xã hội vào quá trình kiểm soát quyền lực. Những kết quả này cho thấy, vai trò của đại biểu trong việc phản ánh và giám sát các vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Mức độ tham gia cao của cử tri trong bầu cử phản ánh niềm tin với thiết chế đại diện, nâng cao hiệu quả giám sát của đại biểu. Đây là một yếu tố quan trọng giúp giám sát của HĐND gắn với đời sống, nâng cao tính đại diện và tính chính danh của quyền lực nhà nước ở địa phương.
Chất lượng đại biểu HĐND từng bước được nâng cao ở trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng tham gia hoạt động giám sát. Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội (khóa XVI) và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031, tổng số đại biểu HĐND cấp xã được bầu là 72.437 đại biểu, với cơ cấu được định hướng chặt chẽ về giới tính, độ tuổi và trình độ. Trong điều kiện đó, đại biểu HĐND ngày càng chủ động hơn trong hoạt động chất vấn, tham gia giám sát chuyên đề và phản ánh ý kiến cử tri. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp HĐND được đổi mới theo hướng đi thẳng vào vấn đề, tăng cường đối thoại và xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, qua đó tạo áp lực trách nhiệm đối với cơ quan hành chính.
Những kết quả nêu trên cho thấy giám sát của HĐND đã từng bước chuyển từ hình thức sang thực chất, góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nhà nước ở địa phương. Tuy nhiên, xét từ góc độ tính ràng buộc, tiêu chí phản ánh hiệu lực kiểm soát quyền lực, hoạt động giám sát của HĐND còn những hạn chế nhất định mang tính cấu trúc:
Một là, kết luận giám sát chưa có giá trị ràng buộc pháp lý rõ ràng. Mặc dù pháp luật quy định HĐND có quyền kiến nghị, yêu cầu cơ quan chịu giám sát thực hiện các biện pháp khắc phục, song trong nhiều trường hợp, kết luận giám sát vẫn mang tính khuyến nghị hơn là mệnh lệnh pháp lý. Việc thiếu quy định cụ thể về nghĩa vụ bắt buộc thực hiện kết luận giám sát dẫn đến tình trạng cơ quan chịu giám sát có thể chậm thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ mà không phải chịu hậu quả pháp lý tương ứng. Điều này làm suy giảm khả năng tác động trực tiếp của giám sát đến hành vi thực thi quyền lực.
Hai là, cơ chế thực thi kiến nghị giám sát còn hạn chế về hiệu lực. Tỷ lệ khoảng gần 27% kiến nghị chưa được thực hiện đầy đủ(10) phản ánh rõ khoảng cách giữa hoạt động giám sát và kết quả thực thi trên thực tế. Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện kiến nghị chưa gắn với thời hạn cụ thể, thiếu cơ chế theo dõi và đánh giá một cách hệ thống. Hoạt động đôn đốc, tái giám sát chưa thực sự trở thành một quy trình bắt buộc, dẫn đến tình trạng “giám sát xong là kết thúc”, làm giảm tính liên tục và hiệu quả của kiểm soát quyền lực
Ba là, trách nhiệm của chủ thể chịu giám sát chưa được xác lập đầy đủ, đặc biệt là trách nhiệm cá nhân. Hoạt động chất vấn và giải trình đã tạo áp lực nhất định đối với người đứng đầu cơ quan hành chính, song cơ chế gắn kết giữa kết quả giám sát và trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị còn chưa rõ ràng. Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kiến nghị giám sát chưa dẫn đến các hệ quả cụ thể về xử lý trách nhiệm, làm giảm khả năng ràng buộc của giám sát đối với hành vi thực thi quyền lực.
Bốn là, giám sát còn phụ thuộc đáng kể vào thông tin do chính đối tượng chịu giám sát cung cấp. Trong nhiều trường hợp, hoạt động giám sát chủ yếu dựa trên báo cáo của cơ quan hành chính, thiếu cơ chế kiểm chứng độc lập và thiếu khai thác thông tin từ các nguồn xã hội. Điều này làm hạn chế khả năng phát hiện sai lệch trong quá trình thực thi quyền lực, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, đầu tư công, tài chính – ngân sách. Theo Báo cáo SIPAS năm 2024, mặc dù 90,06% người dân đánh giá tích cực về thái độ phục vụ của công chức, vẫn còn khoảng 8,98% phản ánh tình trạng nhũng nhiễu, gây khó khăn, khoảng trống giữa đánh giá hành chính và trải nghiệm thực tế của người dân là một khoảng trống mà giám sát chưa xử lý hiệu quả.
Năm là, cơ chế phối hợp giữa giám sát của HĐND với các thiết chế kiểm soát quyền lực khác chưa thực sự chặt chẽ. Trong khi thanh tra, kiểm toán và kiểm tra của Đảng cung cấp nguồn thông tin quan trọng về sai phạm trong quản lý nhà nước, việc tích hợp và sử dụng các kết quả này trong hoạt động giám sát của HĐND còn hạn chế. Sự thiếu liên thông này làm giảm khả năng hình thành một cơ chế kiểm soát quyền lực đồng bộ và đa chiều.
Những hạn chế trên cho thấy, một vấn đề mang tính cấu trúc: thẩm quyền giám sát của HĐND đã được xác lập tương đối đầy đủ về mặt pháp lý, nhưng chưa được chuyển hóa thành hiệu lực ràng buộc trong thực tiễn. Khoảng cách giữa “thẩm quyền” và “hiệu lực” phản ánh sự chưa tương thích giữa thiết kế thể chế và cơ chế vận hành giám sát. Trong điều kiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp với xu hướng tập trung hóa quyền lực hành chính, khoảng cách này càng trở nên rõ nét, làm suy giảm khả năng kiểm soát quyền lực nếu không có sự điều chỉnh kịp thời về thể chế. Từ thực trạng trên có thể thấy, vấn đề cốt lõi của giám sát HĐND hiện nay nằm ở khoảng trống về cơ chế bảo đảm tính ràng buộc trong thực thi quyền lực, hơn là ở phạm vi thẩm quyền đã được xác lập. Đây chính là cơ sở thực tiễn để đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế giám sát theo hướng tăng cường khả năng ràng buộc trách nhiệm và tạo tác động trực tiếp đến hành vi thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương.
4. Một số kiến nghị
Thứ nhất, nâng cao giá trị pháp lý của kết luận giám sát. Tính ràng buộc của giám sát phụ thuộc trực tiếp vào địa vị pháp lý của kết luận giám sát. Khi kết luận chủ yếu mang tính kiến nghị, tác động dừng ở định hướng; khi được xác lập là căn cứ phát sinh nghĩa vụ pháp lý, kết luận có khả năng điều chỉnh trực tiếp hành vi thực thi quyền lực. Chuẩn hóa nội dung kết luận theo hướng xác định rõ vi phạm hoặc hạn chế, biện pháp khắc phục, chủ thể chịu trách nhiệm và thời hạn thực hiện, qua đó nâng cao tính xác định và khả năng ràng buộc.
Thiết lập cơ chế bảo đảm thực thi kết luận giám sát thông qua nghĩa vụ phản hồi, theo dõi và công khai tiến độ thực hiện, gắn với đánh giá trách nhiệm và tín nhiệm của chủ thể liên quan. Việc liên thông kết luận giám sát với các cơ chế kiểm soát khác tạo ra chuỗi ràng buộc từ kết luận đến trách nhiệm, giúp giám sát chuyển từ công cụ đánh giá sang điều chỉnh hành vi thực thi quyền lực trong thực tiễn.
Thứ hai, thiết lập cơ chế thực thi và theo dõi việc thực hiện kết luận giám sát. Giám sát chỉ có ý nghĩa khi kết luận giám sát được thực hiện trong thực tế. Quy định nghĩa vụ báo cáo định kỳ, đồng thời thiết lập cơ chế kiểm tra và tái giám sát đối với các nội dung chưa được thực hiện đầy đủ. Việc theo dõi cần được tổ chức như một quy trình bắt buộc, bảo đảm giám sát diễn ra liên tục, không dừng lại ở thời điểm ban hành kết luận.
Thiết lập cơ chế tái giám sát với các nội dung chưa hoàn thành hoặc thực hiện chưa đầy đủ, tăng cường công khai tiến độ thực hiện để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc kết nối hoạt động theo dõi thực hiện với các cơ chế đánh giá, kiểm tra và giám sát tiếp theo sẽ tạo ra chu trình giám sát khép kín, góp phần duy trì tính liên tục và tăng cường hiệu lực kiểm soát quyền lực nhà nước.
Thứ ba, gắn giám sát với trách nhiệm cá nhân trong thực thi quyền lực. Một hạn chế lớn hiện nay là trách nhiệm trong giám sát chưa được cá thể hóa rõ ràng. Kết luận giám sát cần xác định cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu và cá nhân liên quan. Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kết luận giám sát phải gắn với xem xét trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm chính trị, qua đó tạo áp lực trực tiếp đối với hành vi thực thi quyền lực.
Thứ tư, liên kết giám sát với cơ chế tín nhiệm và đánh giá cán bộ. Để tăng cường tính ràng buộc, kết quả giám sát cần được sử dụng như một căn cứ trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và xem xét tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu hoặc phê chuẩn. Sự liên thông này giúp giám sát vượt khỏi phạm vi kiểm tra hoạt động, đồng thời tạo tác động trực tiếp đến vị trí và trách nhiệm quyền lực của chủ thể thực thi.
Thứ năm, đổi mới phương thức giám sát theo hướng kiểm soát quá trình thực thi quyền lực. Trong bối cảnh quyền lực hành chính có xu hướng tập trung, giám sát cần chuyển từ đánh giá kết quả sang kiểm soát quá trình. Điều này đòi hỏi hoạt động giám sát phải dựa trên bằng chứng, dữ liệu và thông tin đa nguồn, kết hợp giữa khảo sát thực tế và phản ánh của người dân. Cách tiếp cận này giúp phát hiện sớm sai lệch trong thực thi quyền lực và nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm.
Thứ sáu, thiết lập cơ chế phối hợp liên thông giữa các thiết chế kiểm soát quyền lực. Giám sát của HĐND cần đặt trong tổng thể hệ thống kiểm soát quyền lực nhà nước. Việc chia sẻ thông tin và sử dụng kết quả thanh tra, kiểm toán, kiểm tra của Đảng sẽ góp phần nâng cao chất lượng và độ tin cậy của giám sát. Sự phối hợp này tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực đa chiều, hạn chế chồng chéo và nâng cao hiệu quả tổng thể.
Thứ bảy, ứng dụng chuyển đổi số để tăng cường tính minh bạch và khả năng theo dõi giám sát. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu giám sát, công khai kết luận giám sát và tiến độ thực hiện kiến nghị giúp nâng cao khả năng kiểm chứng và tạo áp lực xã hội đối với việc thực thi quyền lực. Quy định việc công khai kết luận giám sát và tiến độ thực hiện trên nền tảng số như một nghĩa vụ bắt buộc, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng xác lập rõ trách nhiệm cung cấp, chia sẻ và công khai dữ liệu phục vụ giám sát. Công nghệ số vừa đóng vai trò hỗ trợ, vừa trở thành công cụ tăng cường tính ràng buộc của giám sát trong thực tiễn.
Thứ tám, mở rộng nền tảng xã hội của giám sát. Tính ràng buộc của giám sát không chỉ đến từ pháp luật mà còn từ sự tham gia của xã hội. Việc phát huy vai trò của người dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội trong cung cấp thông tin và giám sát việc thực hiện kiến nghị sẽ tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên ngoài bộ máy nhà nước, qua đó nâng cao hiệu lực giám sát.
5. Kết luận
Giám sát của HĐND là thiết chế trung tâm trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương, trong bối cảnh tổ chức chính quyền theo mô hình hai cấp với xu hướng tập trung hóa thẩm quyền hành chính. Hoàn thiện thể chế giám sát tiếp cận theo hướng chuyển từ giám sát mang tính khuyến nghị sang giám sát có khả năng kiểm soát quyền lực. Thiết kế lại cơ chế giám sát theo hướng nâng cao giá trị pháp lý của kết luận giám sát, gắn với nghĩa vụ thực hiện, trách nhiệm cá nhân và cơ chế chế tài; bảo đảm sự liên thông giữa giám sát với các thiết chế kiểm soát quyền lực khác và mở rộng nền tảng xã hội của giám sát. Tăng cường tính ràng buộc của giám sát vừa nâng cao hiệu lực kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần củng cố kỷ luật, kỷ cương và tính minh bạch trong quản trị địa phương. Đây là điều kiện để giám sát của HĐND thực sự trở thành công cụ kiểm soát quyền lực hiệu quả trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Nội vụ (2024). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS 2024).
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hội đồng bầu cử quốc gia (2026). Báo cáo kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031.
Quốc hội (2025). Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Văn phòng Quốc hội (2025). Báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2024.



