Quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội

State Management of Digital Economy Development in the Small and Medium-Sized Enterprise Sector in Hanoi

ThS. Nguyễn Thanh Vân
Trường Đại học Tài chính – Ngân hàng Hà Nội
Email: Vannt2007@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trên cơ sở Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số giai đoạn 20262030; và Kế hoạch chuyển đổi số thành phố Hà Nội năm 2026, bài viết đề xuất khung phân tích gồm 7 nhóm nội dung quản lý nhà nước và hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý; chỉ ra những điểm nghẽn trong thực thi chính sách; đồng thời, đề xuất kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước theo hướng kiến tạo phát triển, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và hiệu quả phát triển kinh tế số làm mục tiêu quản trị.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; kinh tế số; doanh nghiệp; chuyển đổi số; Hà Nội; doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Abstract: This article analyzes the theoretical and practical foundations of state management for digital economy development within the enterprise sector in Hanoi. Based on the National Strategy for Digital Economy and Digital Society Development to 2025, with a Vision to 2030, the Project on Supporting Small and Medium-Sized Enterprises in Digital Transformation for the 2026–2030 Period, and the Hanoi Digital Transformation Plan for 2026, the article proposes an analytical framework consisting of seven key dimensions of state management together with a set of criteria for evaluating management effectiveness. It identifies major bottlenecks in policy implementation and puts forward recommendations to improve state management toward a development-oriented governance model that places enterprises at the center and regards the effectiveness of digital economy development as the primary objective of public governance.

Keywords: State management; digital economy; enterprises; digital transformation; Hanoi; SMEs.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế số ngày càng khẳng định vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới mô hình kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ, phát triển kinh tế số đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng thể chế, phát triển hạ tầng, dữ liệu và môi trường kinh doanh phù hợp nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp khai thác hiệu quả các nguồn lực số. Trong đó, doanh nghiệp là khu vực trực tiếp chuyển hóa công nghệ số thành năng suất, doanh thu, thị trường, việc làm và năng lực cạnh tranh.

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 411/Q Đ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ), với mục tiêu đưa kinh tế số đóng góp khoảng 20% GDP vào năm 2025 và 30% GDP vào năm 2030, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế số trên tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Bên cạnh đó, Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030 cho thấy trọng tâm chính sách đã chuyển mạnh từ xây dựng nhận thức sang nâng cao mức độ sẵn sàng, năng lực chuyển đổi số và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Với lợi thế về quy mô thị trường, mật độ doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống hạ tầng đô thị và vai trò là trung tâm chính trị – hành chính của cả nước, Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế số. Phù hợp với định hướng này, trong Kế hoạch số 131/KH-UBND ngày 31/3/2026 của UBND thành phố Hà Nội xác định các mục tiêu cụ thể, gồm: tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 22%; tỷ trọng thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ đạt trên 17%; duy trì vị trí dẫn đầu cả nước về Chỉ số Thương mại điện tử; và đưa kinh tế dữ liệu chiếm tối thiểu 5% quy mô kinh tế số. Việc xác định các chỉ tiêu định lượng này cho thấy, phát triển kinh tế số đã trở thành một trong những trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô, đồng thời, phản ánh quyết tâm của chính quyền thành phố trong việc thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng thực chất và bền vững.

Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi, quá trình phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, những hạn chế về nguồn lực tài chính, chất lượng nhân lực số, năng lực quản trị, khả năng lựa chọn và ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin cũng như đánh giá hiệu quả đầu tư số đang làm giảm tốc độ và hiệu quả của quá trình chuyển đổi số. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước ở cấp địa phương không chỉ dừng lại ở việc ban hành các chính sách hỗ trợ, mà còn phải kiến tạo môi trường thuận lợi, điều phối các nguồn lực và thiết lập các cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số theo hướng thực chất, qua đó tạo động lực cho phát triển kinh tế số. Xuất phát từ yêu cầu này, nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội có ý nghĩa cả về phương diện lý luận, thực tiễn và hoạch định chính sách.

2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1. Kinh tế số và phát triển kinh tế số trong doanh nghiệp vừa và nhỏ

Kinh tế số được hiểu là bộ phận của nền kinh tế mà trong đó các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng được thực hiện, mở rộng hoặc tái cấu trúc dựa trên nền tảng công nghệ số, dữ liệu và các mô hình kinh doanh số. Đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển kinh tế số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng phần mềm hay triển khai thương mại điện tử, mà còn là quá trình khai thác công nghệ số, dữ liệu, nền tảng số và năng lực đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng suất, tối ưu chi phí, mở rộng thị trường, cải thiện trải nghiệm khách hàng, phát triển sản phẩm, dịch vụ mới và đổi mới mô hình kinh doanh.

Căn cứ vào mức độ tham gia vào nền kinh tế số, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được chia thành ba nhóm: (1) Nhóm doanh nghiệp công nghệ số, trực tiếp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ như phần mềm, nền tảng số, dịch vụ dữ liệu, an toàn thông tin, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI), thương mại điện tử hoặc các giải pháp chuyển đổi số; (2) Nhóm doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động quản trị, bán hàng, kế toán, chăm sóc khách hàng, logistics, marketing, sản xuất và quản lý chuỗi cung ứng; (3) Nhóm doanh nghiệp đổi mới mô hình kinh doanh trên cơ sở ứng dụng công nghệ số, chẳng hạn chuyển từ phương thức bán hàng truyền thống sang kinh doanh đa kênh, từ mô hình vận hành thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu hoặc từ cung cấp sản phẩm đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái dịch vụ số.

Đối với Hà Nội, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được xem là nhóm đối tượng trọng tâm của chính sách phát triển kinh tế số, vì đây là khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhưng còn nhiều hạn chế về nguồn lực. OECD (2021) chỉ ra số hóa giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng, thâm nhập các thị trường mới, giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng suất và tăng khả năng quốc tế hóa dịch vụ; tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp này cũng phải đối mặt với nhiều rào cản về kỹ năng, nguồn vốn, năng lực quản trị và khả năng lựa chọn công nghệ phù hợp. Điều này cho thấy, chính sách hỗ trợ cần được thiết kế theo hướng phân tầng, bảo đảm phù hợp với mức độ sẵn sàng chuyển đổi số cũng như đặc điểm hoạt động của từng nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2.2. Nội hàm quản lý nhà nước đối với kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp là tổng thể các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm xây dựng định hướng phát triển, ban hành và thực thi chính sách, phát triển hạ tầng và dữ liệu, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, bảo đảm môi trường cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi các chủ thể tham gia và giám sát rủi ro phát sinh trong nền kinh tế số. Cách hiểu này khác với quản lý hành chính truyền thống ở chỗ Nhà nước không chỉ “quản lý” doanh nghiệp mà còn “kiến tạo” điều kiện để doanh nghiệp đổi mới và phát triển.

Theo OECD, quản trị phát triển kinh tế số cần được triển khai theo cách tiếp cận của Chính phủ (whole-of-government approach) nhằm xóa bỏ các rào cản giữa các lĩnh vực chính sách (breaking down policy silos) trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Bên cạnh đó, Going Digital Integrated Policy Framework xác định bảy chiều cạnh trọng tâm của chuyển đổi số, bao gồm: tiếp cận, sử dụng, đổi mới sáng tạo, việc làm, xã hội, niềm tin và độ mở của thị trường (OECD, 2026). Cách tiếp cận này phù hợp với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp, bởi hiệu quả chuyển đổi số phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách về hạ tầng số, dữ liệu, dịch vụ công, nguồn nhân lực, tài chính, thương mại điện tử, logistics và bảo đảm an toàn giao dịch số. Nội hàm này cần được tiếp cận theo hướng quản trị phát triển, tức là Nhà nước vừa định hướng, vừa hỗ trợ, vừa điều phối, vừa kiểm soát rủi ro.

Bảng 1: Nội dung và trọng tâm đánh giá quản lý nhà nước về phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nội dung quản lýTrọng tâm đánh giá trong khu vực doanh nghiệp
Chiến lược, kế hoạch, chỉ tiêuMức độ đầy đủ, rõ ràng và khả năng triển khai của mục tiêu, chỉ tiêu, ngành ưu tiên và lộ trình phát triển kinh tế số đối với doanh nghiệp theo quy mô và lĩnh vực.
Thể chế và chính sáchMức độ đồng bộ, minh bạch, khả năng tiếp cận và hiệu quả tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư, đổi mới và chuyển đổi số.
Hạ tầng, dữ liệu, nền tảngMức độ sẵn có, khả năng tiếp cận và hiệu quả khai thác hạ tầng số, dữ liệu công, nền tảng số dùng chung và dịch vụ công trực tuyến.
Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sốCác hoạt động tư vấn, đào tạo, hỗ trợ tài chính và kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, tổ chức và nhà cung cấp giải pháp số.
Nhân lực sốMức độ đáp ứng về kỹ năng số, năng lực quản trị số và hiệu quả liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực số.
Đổi mới sáng tạo và thương mại điện tửCác chính sách thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cơ chế thử nghiệm (sandbox), thương mại điện tử, logistics số, thanh toán số và phát triển mô hình kinh doanh số.
Giám sát, an toàn và niềm tin sốCông tác đo lường kinh tế số, bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và kiểm soát rủi ro trên nền tảng số.
Đề xuất của tác giả, 2026.

3. Thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội

Trong định hướng phát triển kinh tế số của Việt Nam, Quyết định số 411/QĐ-TTg xác định kinh tế số gồm kinh tế số ICT, kinh tế số nền tảng và kinh tế số ngành, lĩnh vực; đồng thời đặt mục tiêu phát triển doanh nghiệp công nghệ số và thúc đẩy chuyển đổi số trên phạm vi toàn nền kinh tế. Tiếp đó, Quyết định số 433/QĐ-TTg tập trung nâng cao mức độ sẵn sàng và năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các chính sách hỗ trợ phù hợp với quy mô, nhu cầu và đặc thù của từng nhóm doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động và khả năng tham gia chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu. Cụ thể hóa các chủ trương trên, thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 131/KH-UBND ngày 31/3/2026 và Kế hoạch số 232/KH-UBND ngày 18/6/2026 để triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. Sự kế thừa và liên thông giữa các chính sách tạo cơ sở thuận lợi để đánh giá hiệu quả thực thi cũng như đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp.

3.1. Những kết quả triển khai

Thứ nhất, hạ tầng và các nền tảng phục vụ giao dịch số tiếp tục được mở rộng. Dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, hóa đơn điện tử, hợp đồng điện tử, chữ ký số và các nền tảng giao dịch số từng bước được triển khai rộng rãi, góp phần giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp. Việc thành phố đặt ra các chỉ tiêu về hợp đồng điện tử và thương mại điện tử cũng cho thấy trọng tâm quản lý đang chuyển từ phát triển hạ tầng sang nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng.

Thứ hai, thương mại điện tử tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực. Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2025 của VECOM cho thấy, thị trường thương mại điện tử Việt Nam tăng trưởng 27% trong năm 2024, với quy mô bán lẻ trực tuyến đạt khoảng 32 tỷ USD (Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, 2025). Trong bối cảnh đó, Hà Nội tiếp tục đặt mục tiêu duy trì vị trí dẫn đầu cả nước về Chỉ số Thương mại điện tử (EBI), khẳng định thương mại điện tử là một động lực quan trọng của phát triển kinh tế số.

Thứ ba, quy mô doanh nghiệp tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế số. Theo Sở Tài chính Hà Nội, đến hết quý I/2026, thành phố có 433.697 doanh nghiệp đăng ký hoạt động (Sở Tài chính Hà Nội, 2026). Quy mô doanh nghiệp lớn không chỉ tạo dư địa phát triển kinh tế số mà còn đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và chính sách hỗ trợ chuyển đổi số.

3.2. Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số

Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu, quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện.

Một là, các chính sách hỗ trợ chuyển đổi số còn phân tán giữa nhiều chương trình và cơ quan chủ trì, làm giảm tính đồng bộ trong quá trình triển khai. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc xác định lộ trình chuyển đổi số, lựa chọn giải pháp công nghệ và đánh giá hiệu quả đầu tư. Báo cáo thường niên Chuyển đổi số doanh nghiệp Việt Nam 2021 cho thấy, trên 97% doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhu cầu chuyển đổi số của nhóm này vẫn chịu tác động đáng kể bởi các rào cản về nhận thức, chi phí, nguồn nhân lực và lựa chọn giải pháp phù hợp (Cục Phát triển doanh nghiệp, 2021).

Hai, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa thực sự đồng bộ. Phát triển kinh tế số liên quan đến nhiều lĩnh vực như kế hoạch và đầu tư, tài chính, khoa học và công nghệ, công thương, thông tin và truyền thông, giáo dục và đào tạo, lao động, thuế, an toàn thông tin và quản lý thị trường. Sự thiếu liên thông trong phối hợp và chia sẻ thông tin có thể làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, đồng thời gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận các chương trình hỗ trợ.

Ba, hạ tầng dữ liệu phục vụ doanh nghiệp còn phân tán, thiếu cơ chế chia sẻ và khai thác thống nhất. Dữ liệu công chưa được quản trị như một nguồn lực phát triển, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc khai thác dữ liệu phục vụ ra quyết định, dự báo thị trường, phát triển sản phẩm và tối ưu hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Bốn là, năng lực số và năng lực quản trị số của doanh nghiệp chưa đồng đều.Chuyển đổi số không chỉ đòi hỏi đầu tư công nghệ mà còn yêu cầu đổi mới phương thức quản trị, nâng cao kỹ năng số của người lao động và tái cấu trúc mô hình kinh doanh. Nếu chính sách chỉ tập trung hỗ trợ công nghệ mà chưa chú trọng phát triển năng lực quản trị, hiệu quả chuyển đổi số sẽ khó đạt được như kỳ vọng.

Năm, công tác đo lường phát triển kinh tế số ở cấp địa phương còn nhiều hạn chế.Các chỉ tiêu hiện hành chủ yếu phản ánh quy mô thương mại điện tử hoặc số lượng doanh nghiệp công nghệ, trong khi chưa đánh giá đầy đủ mức độ số hóa, hiệu quả khai thác dữ liệu, năng suất lao động hay giá trị gia tăng từ các mô hình kinh doanh số. UNCTAD (2024) nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện khung dữ liệu và chính sách nhằm nâng cao chất lượng đo lường kinh tế số trong bối cảnh chuyển đổi số gắn với phát triển bền vững.

4. Khung phân tích quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn đã phân tích, nghiên cứu xây dựng khung phân tích quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp theo logic: Nhà nước kiến tạo điều kiện – doanh nghiệp chuyển đổi số – phát triển kinh tế số. Theo đó, hiệu quả quản lý nhà nước không được phản ánh bởi số lượng văn bản hay chương trình được ban hành mà cần được đánh giá thông qua khả năng tạo lập môi trường thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận chính sách, khai thác hạ tầng và dữ liệu số, nâng cao năng lực số, đổi mới mô hình kinh doanh và tạo ra giá trị kinh tế.

Bảng 2: Cấu trúc các tầng phân tích quản lý nhà nước về phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tầng phân tíchNội dung
Tầng 1: Điều kiện nền tảngHạ tầng số, dữ liệu, nền tảng, nhân lực số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Tầng 2: Công cụ quản lýChiến lược, chính sách, đào tạo, tư vấn, tài chính, dịch vụ công, giám sát.
Tầng 3: Năng lực doanh nghiệpNhận thức, đầu tư công nghệ, quản trị dữ liệu, số hóa quy trình, kênh số.
Tầng 4: Kết quả kinh tế sốDoanh thu số, năng suất, thị trường, đổi mới sản phẩm, năng lực cạnh tranh.
Đề xuất của tác giả, 2026

Để đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp, bài viết đề xuất sáu nhóm tiêu chí (Bảng 3), gồm: tính đầy đủ, tính phù hợp, tính dễ tiếp cận, tính hiệu quả, tính phối hợp và tính bền vững. Trong đó, tính đầy đủ phản ánh mức độ bao quát của chính sách đối với các nhu cầu cốt lõi của doanh nghiệp, như: hạ tầng, dữ liệu, nguồn nhân lực, tài chính, tư vấn, an toàn thông tin và thị trường. Tính phù hợp thể hiện mức độ đáp ứng của chính sách đối với quy mô, lĩnh vực hoạt động, mức độ sẵn sàng và năng lực hấp thụ công nghệ của từng nhóm doanh nghiệp. Tính dễ tiếp cận được đánh giá thông qua khả năng của doanh nghiệp biết, hiểu và thụ hưởng các chính sách hỗ trợ. Tính hiệu quả phản ánh mức độ tác động của chính sách đến năng suất, chi phí, doanh thu từ các hoạt động số, khả năng mở rộng thị trường và đổi mới mô hình kinh doanh. Tính phối hợp thể hiện mức độ liên thông và đồng bộ giữa các sở, ngành, hiệp hội doanh nghiệp và cơ sở đào tạo trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Cuối cùng, tính bền vững phản ánh khả năng tạo lập năng lực số dài hạn cho doanh nghiệp, thay vì chỉ tạo ra các kết quả hỗ trợ ngắn hạn hoặc mang tính thời điểm.

Bảng 3: Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp

Tiêu chíCâu hỏi đánh giá gợi ý
Tính đầy đủChính sách đã bao quát đầy đủ các nhu cầu của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế số hay chưa?
Tính phù hợpChính sách có phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của từng nhóm doanh nghiệp không?
Tính dễ tiếp cậnDoanh nghiệp có dễ dàng tiếp cận, hiểu và sử dụng các chính sách hỗ trợ hay không?
Tính hiệu quảChính sách có tạo ra những cải thiện rõ rệt về năng suất, chi phí, doanh thu và khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp không?
Tính phối hợpMức độ phối hợp giữa các cơ quan quản lý có bảo đảm tính thống nhất, liên thông và hạn chế chồng chéo trong quá trình thực thi chính sách hay không?
Tính bền vữngChính sách có góp phần hình thành năng lực số dài hạn cho doanh nghiệp và hệ sinh thái kinh tế số hay không?
Đề xuất của tác giả, 2026

5. Hàm ý chính sách đối với phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế số theo hướng phân tầng doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp thương mại – dịch vụ, doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp khởi nghiệp số có mức độ sẵn sàng và nhu cầu chuyển đổi số khác nhau. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần được thiết kế theo từng nhóm doanh nghiệp và từng cấp độ trưởng thành số, từ nâng cao nhận thức, số hóa quy trình, tích hợp dữ liệu đến đổi mới mô hình kinh doanh và tham gia hệ sinh thái số, thay vì áp dụng một cơ chế hỗ trợ đồng nhất.

Thứ hai, phát triển dữ liệu và nền tảng số dùng chung phục vụ doanh nghiệp. Dữ liệu công trong các lĩnh vực quy hoạch, đất đai, giao thông, dân cư, doanh nghiệp, thị trường, du lịch, logistics, giáo dục, y tế và thương mại cần được chuẩn hóa, liên thông và chia sẻ theo lộ trình phù hợp, tạo điều kiện để doanh nghiệp khai thác dữ liệu phục vụ đổi mới sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh. Kinh tế dữ liệu chỉ có thể phát triển khi dữ liệu được quản trị thống nhất, dễ tiếp cận và có cơ chế khai thác hợp pháp, an toàn.

Thứ ba, gắn phát triển kinh tế số với cải cách hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong khu vực công thông qua tái cấu trúc quy trình hành chính, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý và giảm chi phí tuân thủ sẽ tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thúc đẩy chuyển đổi số. Theo đó, chuyển đổi số trong khu vực công cần trở thành nền tảng hỗ trợ phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp.

Thứ tư, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ công nghệ sang nâng cao năng lực chuyển đổi của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong thực tiễn, rào cản của nhiều doanh nghiệp không nằm ở khả năng tiếp cận công nghệ mà chủ yếu xuất phát từ hạn chế trong việc xác định lộ trình chuyển đổi, tái thiết kế quy trình, quản trị dữ liệu, phát triển nguồn nhân lực và đánh giá hiệu quả đầu tư. Do đó, Hà Nội cần phát triển mạng lưới tư vấn chuyển đổi số có chất lượng, đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, trường đại học, viện nghiên cứu và các nhà cung cấp giải pháp số.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực số trên cơ sở tăng cường liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Hà Nội có lợi thế về hệ thống trường đại học và viện nghiên cứu; tuy nhiên, lợi thế này chỉ được chuyển hóa thành năng lực phát triển kinh tế số khi hoạt động đào tạo, đào tạo lại, nghiên cứu ứng dụng và phát triển kỹ năng được gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của doanh nghiệp. Trong đó, cần ưu tiên các chương trình đào tạo về quản trị dữ liệu, thương mại điện tử, marketing số, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo và quản trị chuyển đổi số.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành trong phát triển kinh tế số doanh nghiệp. Cần thiết lập đầu mối điều phối thống nhất nhằm tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các sở, ngành, duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên với cộng đồng doanh nghiệp và công khai kết quả thực hiện thông qua bộ chỉ số theo dõi. Cơ chế phối hợp cần hướng tới nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và giải quyết kịp thời những khó khăn phát sinh trong quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp.

Thứ bảy, tăng cường bảo đảm an toàn thông tin và củng cố niềm tin số. Sự phát triển của kinh tế số kéo theo nhiều rủi ro liên quan đến dữ liệu cá nhân, gian lận thương mại điện tử, hàng giả, lừa đảo trực tuyến, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, tranh chấp hợp đồng điện tử và cạnh tranh không lành mạnh trên nền tảng số. Vì vậy, quản lý nhà nước cần tập trung xây dựng môi trường kinh doanh số an toàn, minh bạch và hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, xử lý rủi ro cũng như giải quyết tranh chấp trên môi trường số.

Thứ tám, xây dựng bộ chỉ số theo dõi phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp Hà Nội. Bộ chỉ số cần phản ánh toàn diện các yếu tố đầu vào, quá trình và kết quả, bao gồm tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng nền tảng số, doanh thu từ các kênh số, tỷ trọng thương mại điện tử, mức độ khai thác dữ liệu, tỷ lệ sử dụng hợp đồng điện tử, hóa đơn điện tử và chữ ký số, năng suất lao động, mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với chính sách và mức giảm chi phí tuân thủ. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để theo dõi hiệu quả quản lý nhà nước, đánh giá kết quả thực thi chính sách và kịp thời điều chỉnh các giải pháp phát triển kinh tế số.

6. Kết luận

Phát triển kinh tế số trong khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang trở thành một yêu cầu chiến lược đối với Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và hội nhập kinh tế số. Với lợi thế về quy mô thị trường, hệ sinh thái doanh nghiệp, nguồn nhân lực chất lượng cao và hạ tầng đô thị, Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, việc chuyển hóa những lợi thế này thành động lực tăng trưởng phụ thuộc trước hết vào hiệu quả quản lý nhà nước, từ hoạch định chính sách, tổ chức thực thi đến cơ chế điều phối và giám sát.

Điểm nhấn của bài viết là đề xuất chuyển trọng tâm quản lý từ việc ban hành chính sách sang nâng cao năng lực phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiệu quả quản lý nhà nước không nên được đánh giá bằng số lượng chính sách hoặc chương trình được triển khai, mà cần được phản ánh thông qua khả năng tạo lập môi trường thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực, nâng cao năng lực số, đổi mới mô hình kinh doanh và tạo ra các kết quả phát triển kinh tế số một cách thực chất và bền vững.

Tài liệu tham khảo:
ASEAN. (2024). SME policy index: ASEAN 2024: Enabling sustainable and inclusive growth. https://asean.org/wp-content/uploads/2024/09/Full-Report_ASEAN-SME-Policy-Index-2024_20-Sept-2024.pdf
Cổng thông tin Chuyển đổi số doanh nghiệp. (2022). Kế hoạch hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2021–2025. https://digital.business.gov.vn/ke-hoach-ho-tro-chuyen-doi-so-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-giai-doan-2021-2025/
Cục Phát triển doanh nghiệp. (2021). Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp 2021: Rào cản và nhu cầu chuyển đổi số. https://digital.business.gov.vn/document/bao-cao-thuong-nien-chuyen-doi-so-doanh-nghiep-2021-rao-can-va-nhu-cau-chuyen-doi-so/
Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam. (2025). Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2025. https://esc.vn/wp-content/uploads/2025/07/Bao-cao-EBI-2025-Final-Vn.pdf
OECD. (2021). The digital transformation of SMEs. OECD Publishing. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2021/02/the-digital-transformation-of-smes_ec3163f5/bdb9256a-en.pdf
OECD. (2026). Digital transformation: Going Digital integrated policy framework. https://www.oecd.org/en/topics/policy-issues/digital-transformation.html
Sở Tài chính Hà Nội. (2026, April 8). Tình hình phát triển kinh tế – xã hội tháng 3 và quý I năm 2026 của thành phố Hà Nội. https://sotaichinh.hanoi.gov.vn/tinh-hinh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-thang-3-va-quy-i-nam-2026-cua-thanh-pho-ha-noi-141123.html
Thủ tướng Chính phủ. (2022, March 31). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ. (2026, March 16). Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030.
UBND thành phố Hà Nội. (2026a, March 31). Kế hoạch số 131/KH-UBND ngày 31/3/2026 về chuyển đổi số thành phố Hà Nội năm 2026.
UBND thành phố Hà Nội. (2026b, June 18). Kế hoạch số 232/KH-UBND ngày 18/6/2026 về chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026–2030.
UNCTAD. (2024). Digital economy report 2024. https://unctad.org/system/files/official-document/der2024_en.pdf
World Bank. (2021). Digital Vietnam: The path to tomorrow. https://openknowledge.worldbank.org/entities/publication/fc34874a-23fc-5f5d-8875-336f08aff359.